Chương Một
HÀNH TRÌNH
“Đời tị nạn như kiếp lục bình: Ba chìm, bảy nổi, chín linh đinh. Dù trôi tới đâu, dù đến phương trời nào, dù qua nhiều bến nước đặc tính của nó vẫn là vừa trôi vừa trổ bông.”
Chúng tôi rời Việt Nam và đã sống tại đất nước Hoa Kỳ nầy hơn một phần ba thế kỷ, nhưng chưa lần nào viết về cuộc hành trình tị nạn của mình hay bất cứ một đề tài nào về nước Mỹ. Hôm nay bằng lời văn chân tình, mộc mạc, tản mạn đôi dòng không trau chuốt, màu mè xin gởi đến quý độc giả, thính giả cùng thân hữu hầu biết rõ hành trình của chúng tôi khi rời quê hương và bắt đầu cuộc sống mới như thế nào!
Nước Mỹ là nước văn
minh, hiện đại và giàu có nhất thế giới, cái gì của họ cũng hay, cũng đẹp, cũng
ngon lành… Nhất là nền tảng tự do, dân chủ thì khỏi phải chê. Vì lẽ đó nên các giống
dân trên khắp hoàn cầu ai ai cũng mơ ước có ngày được định cư nơi xứ Cờ Hoa nầy
mà họ coi như một thiên đàng hạ giới. Trong khi đó người Việt chúng ta vốn bất đắc
dĩ nên phải bỏ nước ra đi, lưu lạc khắp nơi như kiếp lục bình trong cơn Đại Hồng
Thủy của quê hương. Dù là kiếp lục bình, nhưng đặc tính của nó vẫn là vừa trôi
vừa trổ bông.
Tôi nhớ rất rõ, buổi sáng ngày 30 tháng 04 năm 1975, khi vừa nghe Tổng Thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chàng Sĩ quan Hải Quân ngành Tiếp liệu bỏ cả xe xăng chưa kịp chở lên Đài Kiểm Báo 403. Chàng của tôi chạy vội về nhà, dẫn vợ, dẫn con cùng đứa em gái họ bước xuống tàu để trốn tránh một thứ gì đó… Thật ra An Thới, Phú Quốc trưa 30 tháng 04 vẫn còn yên tĩnh lắm, chưa thấy thành phần bên kia xuất hiện. Chỉ thấy anh em quân nhân cùng gia đình, nhiều nhất là hải quân hấp tấp, nhốn nháo chen nhau đi vào Căn Cứ để tìm tàu ra khơi. Lúc ấy trên Trại Giam Tù Binh Cộng Sản đã bỏ trống từ lâu, vẫn còn kẹt mấy chục ngàn dân tị nạn từ miền Trung được tàu buôn ngoại quốc chở vào ở tạm trên đảo trong tháng vừa qua. Thật tình lúc bấy giờ tất cả mọi người cũng chẳng biết mình phải đi về đâu? Sẽ đổ vào bến tự do nào! Chiếc PCF chở chúng tôi rời bến, hình ảnh sau cùng thu vào đáy mắt là những rặng dương già trước Bệnh Xá Hải Quân đang cúi đầu run rẩy nức nở tiễn đưa, một số người đứng trên bờ vẫy tay chào tạm biệt. Chiếc PCF chuyển nhóm người chúng tôi lên HQ 330, chiếc nầy sau khi rời An Thới chạy lòng vòng trong khu vực đảo Thổ Châu. Tối hôm đó có một số người thay đổi ý định không muốn tiếp tục đi nữa, Hạm Trưởng liền gọi ghe đánh cá cặp vào để họ quá giang trở về. Trong phút giây ấy, hình ảnh hiện ra thật rõ nét như một linh cảm báo trước, ngày trăm tuổi của ba má sẽ thiếu vắng tôi. Điều nầy đã khiến cho tôi áy náy cảm thấy mình có lỗi, có tội với hai đấng sinh thành, vì vậy nên tôi quyết định trở về. Chàng của tôi lại ra sức thuyết phục, rồi chàng lại ngăn cản, hù dọa: “Em về chỗ đâu mà ở? Nhà cửa họ sẽ lấy hết! Công việc dạy học của em cũng chưa chắc còn! Biết lấy gì nuôi con? Chỉ còn nước lấy bộ đội, em dám không?
Nghe nói lấy bộ đội mấy tên răng hô, mã tấu tôi khiếp quá nên liền bỏ ý định, đành làm đứa con bất hiếu rủi chuyện ấy xảy ra…Trong cảnh nước mất, nhà tan ai cũng có chung niềm bi thương, ly hận, thôi thì đành gạt lệ mà đi. Sáng hôm sau gặp thêm nhiều chiếc tàu khác nữa nên các Hạm Trưởng đồng ý đi chung thành một đoàn. Tôi nhớ không lầm thì hình như đoàn chúng tôi đi gồm có HQ329, HQ330 và một tàu nữa quên mất số rồi. Còn chiếc PGM thì bị hư một máy nên chạy rất chậm, vì thế cả đoàn tàu cũng phải chậm theo luôn.
Trên hải trình chúng tôi cũng thấy nhiều tàu buôn và tàu chiến của Mỹ. Đêm tiếp đêm, ngày tiếp ngày, trời vừa hừng sáng kiểm điểm lại thì thấy mất đi một con tàu, đó là chiếc PGM. Sau nầy mới biết đó là con tàu do Đại úy Dương làm hạm trưởng, đã bị một số anh em vì còn kẹt lại vợ con nên ép ông ấy phải quay tàu trở về. Đại úy Dương không đồng ý nên bị họ uy hiếp, về sau có tin đồn họ đã vất ông ta xuống biển.
Mỗi con tàu chở mấy trăm dân tị nạn lênh đênh trên biển, thoạt đầu chúng tôi định đi thẳng tới Úc Châu, nhưng khi nghe được Úc đã bang giao với Việt Nam nên các Hạm Trưởng đổi điểm đến. Trên đường đi chúng tôi có ghé neo ngoài vịnh Singapore để được tiếp thêm nhiên liệu. Nhưng tất cả mọi người không được lên bờ. Khi màn đêm buông xuống, nhìn vô thương cảng thấy thành phố thật đẹp, thật tân kỳ, lộng lẫy, rực rỡ ánh đèn màu. Nhu cầu tiếp tế xong, đoàn tàu chúng tôi tiếp tục lên đường, cũng may tháng đó là mùa biển êm, nên chiều đến chúng tôi thường lên boong tàu hóng mát và coi cá chuồn bay, còn cá nược thì thỉnh thoảng chúng xuất hiện bơi sát theo tàu, nhiều màn biểu diễn của cá chuồn cũng khá ngoạn mục. Mặt biển im lìm, bất thình lình chúng phóng lên, bay qua bay lại có lúc đụng nhau cả đám rớt ùm xuống nước. Đôi lúc cả bầy phóng ngang qua mũi tàu, bọn trẻ em khoái chí vỗ tay cười vang. Nhìn những con cá kia vô tư làm trò, chúng tôi cũng vơi bớt được phần nào nhớ nhà, nhớ nước trong khoảnh khắc. Hành trình vẫn còn dài, dọc đường chúng tôi gặp được Đệ Thất Hạm Đội Mỹ, họ cung cấp thêm thực phẩm, trái cây và nước uống. Trong suốt cuộc di tản, lần đầu tiên mỗi người nhận được một trái táo vàng thơm bọc trong giấy. Cầm trái táo trong tay, vo vo, bóp bóp rồi đưa lên mũi ngửi, chỉ ngửi mà chưa muốn ăn, ăn rồi sẽ tiếc lắm! Tối ngủ đem giấu dưới gối, chờ cơn thèm lên cao tột điểm mới đem ra ăn ngấu, ăn nghiến, đã ơi là đã! Thật là một kỷ niệm khó quên!
Sau 18 ngày lênh đênh, cuối cùng đoàn tàu cũng đến Subic Bay, Căn Cứ Hải Quân của Mỹ đóng trên đất Phi Luật Tân. Trước khi tàu vào vịnh mọi loại vũ khí, đạn dược đều phải vứt xuống biển và sự đau đớn nhất cho người dân tị nạn Việt Nam là phải hạ lá quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa xuống. Chúng tôi đứng trang nghiêm chào quốc kỳ lần cuối trước khi từ từ kéo xuống. Trong mắt mọi người có nhiều giọt lệ cũng từ từ ứa ra. Tạm biệt hồn thiêng sông núi, tạm biệt lá cờ thiêng đã hằn sâu trong tâm tưởng của người dân miền Nam suốt mấy mươi năm qua.
Chúng tôi lần lượt rời tàu bước chân lên vùng đất tự do mà cõi lòng héo úa, nát tan. Nhìn hàng phượng vỹ trổ bông đỏ ối bỗng thấy nhớ quê hương lạ lùng. Trong phút giây đổi đời nghiệt ngã của một định mệnh oan khiên, coi như đã hết rồi. Tôi nhìn sâu lên chùm phượng đỏ để thấy như máu tim mình ứa ra. Và hình ảnh thời còn đi học chợt trở về:
Tôi tung tăng trong vườn hoa tuổi ngọc
Buổi sáng nào cũng đứng hát quốc ca
Anh chị lớn ra giữa sân trước lớp
Thượng kỳ lên dưới ánh nắng chan hòa…
Hình ảnh đó kể từ giây phút nầy coi như đã hết. Tôi nghẹn ngào: “Vĩnh biệt ngôi trường nhỏ bé, vĩnh biệt phấn trắng, bảng đen và vĩnh biệt các em học trò thương mến của tôi”.
Sau khi làm xong thủ tục nhập trại, chúng tôi đi bộ lên ngọn đồi. Trên đó hàng ngàn chiếc lều đã dựng sẵn và hàng chục ngàn người tị nạn đã có mặt ở đó. Họ đến rất sớm, họ đến trước khi Miền Nam thất thủ. Một số người di tản sau nhưng đến trước chúng tôi, niềm vui là tiếng cười của những ai có gia đình đi đầy đủ, nỗi buồn là tiếng than thở của những kẻ mất vợ, lạc con. Thời gian ở Subic Bay hơn một tháng rưỡi, thằng bé của tôi chưa đầy 5 tháng, vì đi vội vã nên không mang theo đủ sữa. Trên tàu đành phải cho con uống nước cháo lỏng pha với đường suốt hai tuần lễ nên khi vào đất Phi cháu bị nóng sốt và tiêu chảy không ngừng. Chúng tôi lập tức đưa cháu vào Bệnh Viện Hải Quân Mỹ, thằng bé sốt trên 105 độ, ông bác sĩ Mỹ bồng nó nhúng ngay vào bồn nước lạnh, xong rồi ông lấy một chiếc khăn lông trắng tinh thấm ướt nước quấn vào người cháu. Chưa hết, ông lại lôi cây quạt điện ra, bấm nút, cánh quạt quay gió thổi ào ào, thằng bé run lên, mặt mày tím ngắt. Tôi chắp tay xá xá xin ông tha cho: “Ông chữa con tôi kiểu gì mà lạ thế, kỳ quái thế” Người thông dịch viên giải thích: “Xin bà đừng lo, cách nầy mới hạ được nhiệt độ của cháu nhanh nhất.” Thật vậy, nửa giờ sau nhiệt độ của thằng nhỏ từ từ hạ giảm. Sau nầy nuôi bốn đứa con, những lúc các cháu bị nóng sốt tôi cũng dùng phương pháp ấy để hạ giảm nhiệt độ.
Trong sinh hoạt của trại cũng khá vui, ngày ăn ba cữ, tối coi chiếu bóng ngoài trời. Hôm nào nghe nói có ăn gà thì ôi thôi, thiên hạ sắp hàng dài gần cây số. Có người chịu khó đứng xếp hàng tới hai, ba lần, khi nào ăn heo, ăn bò, ăn cá thì bà con lại chê. Nhất là món ham, họ kháo nhau rằng: “Đó là thịt ngựa” nên ít ai dám đụng tới. Thời gian sau qua sống ở Mỹ mới biết thịt gà là loại thịt rẻ nhất trong siêu thị. Ngoài chúng tôi ra, chắc cũng có nhiều người cười thầm cho cái dốt, cái dại, cái khờ của mình! Người xưa đã từng nói: “Không có cái dại nào giống cái dại nào!” Tôi là cô giáo, chàng là quân nhân, khi ra đi vào ngày cuối tháng, cả hai vợ chồng chưa ai được lãnh lương nên chúng tôi nghèo lắm! Không có một chỉ vàng, không có một đồng đô-la dính túi…
Trong hành trang tị nạn, chúng tôi chỉ đem theo mấy bộ đồ, mấy chiếc áo dài mà thường ngày mặc đi dạy cùng một chiếc nón lá. Chiếc nón lá hằng ngày treo nghiêng trước căn lều của mình, tôi dự định sẽ mang qua tới nước Mỹ để giữ làm kỷ niệm. Không ngờ buổi trưa nọ có anh chàng Mỹ tuổi trẻ, đẹp trai trả giá để mua chiếc nón, anh ta ra dấu 2 ngón tay tức 2 Mỹ kim, tôi đáp lại bằng 3 ngón tay, anh gật đầu móc túi đưa 3 tờ giấy 1 đồng. Thú thật lần đầu tiên trong đời tôi cầm đồng tiền Mỹ trong tay, nhìn theo dáng anh cao cao, gầy gầy đầu đội chiếc nón lá của miền sông Hương, núi Ngự. Bóng anh thấp thoáng qua mấy căn lều rồi mất dạng, lòng tôi bỗng chùng lại như vừa mất đi một thứ gì thân thương lắm. Những ngày kế tiếp khi để đầu trần ra nắng, nắng hè trên đất Phi thật khủng khiếp, tôi cảm thấy thương nhớ chiếc nón của tôi chi lạ! 3 đồng đô-la tôi mua cho con mấy bao bánh kẹo, mua cho chồng mấy bao thuốc lá rồi cũng hết. Một tuần sau có người phụ nữ tới gặp tôi xin mua lại một chiếc áo dài để mặc đi lễ nhà thờ. Chị ấy còn rất trẻ chỉ hơn ba mươi tuổi là vợ sau của ông Xã trưởng Ngô Văn Tấn ở An Thới. Có lẽ chị biết tôi là cô giáo thế nào cũng mang theo vài chiếc áo dài nên chị đến hỏi thử…Qua kinh nghiệm lần trước của chiếc nón, tôi đành phải từ chối, tôi muốn giữ tất cả những gì đem theo từ quê hương để làm kỷ niệm sau nầy. Nhất là bộ đồ Sĩ Quan Hải Quân màu tím của chàng cùng các chiếc áo dài một thời gõ đầu trẻ và mấy bộ áo quần của con tôi khi vừa đầy tháng. Sau bao nhiêu năm chúng vẫn còn nằm im trong thùng giấy, dù sau nầy tôi đã dọn nhà mấy lần mà chẳng nỡ lòng vất bỏ. Ông Xã Tấn bây giờ chắc đã ra người thiên cổ, còn chị ấy chẳng biết đang sống ở tiểu bang nào! Nếu tình cờ chị đọc được những dòng chữ nầy, rất mong chị thông cảm và hiểu cho tôi. Trong cơn biến động ai nấy cũng phải tự lo, phải bảo vệ cho chính mình, chính gia đình của mình, miễn còn giữ được mạng sống là phước lắm rồi.
Hồi rời Căn Cứ Tiếp Vận An Thới, chiếc PCF đưa chúng tôi ra HQ 330, Thiếu tá Hồ Tấn Anh vì vừa lo vợ, lo con, ông bà đã bỏ quên một vali nhỏ đựng vàng trên chiếc PCF, khi tàu chạy vào bờ thì ông mới sực nhớ, người ta đồn như vậy. Gần ba tuần lễ, ông thường hay đi tới, đi lui trên boong, tay chắp phía sau như đang suy tư nghĩ ngợi điều gì. Hay là ông luyến tiếc cho chiếc vali chứa đựng đầy ắp vàng kia! Hai vợ chồng ông ở cùng lều với chúng tôi, cậu con trai đầu bảy tuổi của ông lại là học trò của tôi, bà vợ ông còn rất trẻ, người gầy yếu có vẻ như bệnh hoạn. Đứa con gái chỉ hơn một tuổi, lúc nào cũng phải bồng bế trên tay. Bà thường tâm sự: “Tôi không có tình yêu trước với ông ấy, vì ông ấy lớn hơn tôi nhiều tuổi lắm! Nhưng lại là bạn thân của anh tôi nên cả bố mẹ bắt tôi phải làm đám cưới.” Sau nầy mới biết họ sống ở San Jose, một ngày kia khi đi tìm Job tình cờ gặp được Thiếu tá Anh, ông cho biết vợ ông đã mất lâu rồi, ông đang sống chung với các con. Mấy năm gần đây chúng tôi hay tin ông cũng giã từ cuộc sống, thật là một kiếp người trôi qua quá nhanh!
Trở lại câu chuyện ở trại tiếp cư Subic Bay. Hằng ngày dân tị nạn đến càng đông, người cũ phải ra đi để nhường chỗ cho người mới đến. Chúng tôi được thông báo hai hôm nữa là phải bay qua đảo Guam, trên đường bay thằng con khóc quá sá, có lẽ tai cháu bị đau nhức vì chiếc C130 đang bay ở độ cao mấy chục ngàn bộ. Một người trong Phi hành đoàn bước ra và thấy tôi đang vác thằng nhỏ trên vai, ông ấy bước lại bế thằng bé dỗ dành rồi ẵm cháu vô luôn phòng lái. Tôi hiếu kỳ phóng nhanh cặp mắt của mình trước để trông chừng thằng con, sau là quan sát phòng lái của loại máy bay nầy. Thật là tân kỳ, thật là lạ lắm, đủ thứ máy móc, đủ thứ cơ phận. Ông thợ lái dụ thằng nhỏ cho nó sờ cái nầy, cho nó sờ cái kia, thế là nó hết khóc đấy. Mới còn bé tí teo mà đã ngồi trong phòng lái máy bay quân sự, cứ tưởng khi lớn lên nó sẽ trở thành hoa tiêu, hay phi đoàn trưởng của các loại máy bay dân sự cũng tạm được, cũng OK. Nào ngờ hai công việc ấy nó đều “chê” hết, ngay cả ngồi trên máy bay là nó sợ điếng hồn…
Tác giả HoaHướng Dương cùng chồng, con và em gái
tại trại tị nạn Subic Bay Phi Luật Tân, ngày 18 tháng 5 năm 1975
Chiếc C130 đáp xuống phi trường trong buổi chiều còn rực nắng. Trên cao nhìn xuống hàng hàng, lớp lớp máy bay B52 đang nằm dưỡng sức, chờ ngày cất cánh mang những quả bom nặng ngàn cân anh trút xuống trên một chiến trường nào nữa đây? Khi đến Guam khí hậu lại khắc nghiệt hơn nhiều, hàng ngàn căn lều được dựng lên vội vã gọi là Tent City tại Orote Point trên cánh rừng gần bờ biển. Nắng, gió, bụi, cát hùa nhau ăn hiếp người tị nạn đến độ thảm thương. Đâu đâu cũng có lửa, đâu đâu cũng có cát, lửa từ trên trời đổ xuống, cát ngoài biển bay vào nằm kẹt trong túi áo, hòa lẫn vào thức ăn. Ba buổi sắp hàng lấy cơm chúng tôi phải bớt một, làm sao có đủ can đảm đứng hàng giờ dưới cơn nắng cháy da kia! Chúng tôi ăn hai bữa sáng, chiều cũng đủ quá rồi, nhớ đến quý Sư bên Phật Giáo Nguyên Thủy dùng cơm một bữa trước giờ ngọ, thế mà bụng dạ lại rộng lượng, tâm từ bao la và trí tuệ vô lường. Hoàn cảnh như vậy nên chúng tôi quyết định phải rời chỗ nầy cho sớm, thế thì phải cho thằng con nó bốc thăm mới được! Chàng của tôi viết xuống bốn tờ giấy bốn trại tiếp cư của người tị nạn ở bốn tiểu bang đó là California, Pensylvania, Arkansas và Indiana. Thằng con bốc ngay tiểu bang Arkansas, có người bảo rằng: “Nơi đó đông dân da đen lắm!” Tôi cười nói: “Mình là dân da vàng thì hà cớ gì phải sợ dân da đen!” California khí hậu ấm áp nên có rất nhiều người ghi danh chờ đợi, chúng tôi không kiên nhẩn như họ: “Thôi đành nhắm mắt đưa chân. Thử coi con Tạo xoay vần tới đâu!”
Trại Fort Chaffee (Arkansas) là nơi chúng tôi phải đến. Ba ngày sau mọi thủ tục được hoàn tất, họ chuyển chúng tôi tới trại Không Quân Anderson. Nơi đây chúng tôi không ở lều mà được ở trong các căn nhà có đầy đủ tiện nghi, mấy ngày sau chúng tôi bay vào nội địa Hoa Kỳ. Lúc ở Guam tình cờ tôi gặp lại người bạn học cùng lớp tên Thanh, hồi còn trung học Thanh thường cho tôi cọp dê toán. Tôi rất dốt toán, còn Thanh lại dở về môn Việt văn nên chúng tôi thường vay mượn với nhau về hai môn nầy trong bao nhiêu năm, chẳng biết đứa nào còn nợ đứa nào cái gì không? Hình như tôi còn nợ Thanh một ly chè đậu đỏ bánh lọt nơi cái quán trước cổng trường, vì cuối mùa thi năm ấy, môn toán lý hóa quá khó, không nhờ Thanh thì kể như tôi đi đoong. Còn nợ tình thì chắc chắn là không, vì tôi và Thanh thường gọi mầy xưng tao rất thân thiết, rất tự nhiên! Năm năm rồi mới gặp lại, Thanh là lính bộ binh, mang lon Thiếu úy đóng ở vùng 2. Quân đội tan hàng, Thanh theo đoàn lưu dân chạy từ cao nguyên Trung Phần qua tới đảo Guam, trên người vẫn còn mặc đồ nhà binh nhưng lon lá thì đã rớt, rụng mất hết rồi! Chúng tôi gặp nhau mừng vui trong giây phút rồi hối hả chia tay, vì có ai đó đã nhắn tin tìm Thanh trên loa phóng thanh.
Chuyến xe bus chở chúng tôi đi ngang qua một khu trại, thấy có một số đông đang ngồi biểu tình đòi chính phủ Hoa Kỳ phải cho họ về nước. Họ đốt vỏ bánh xe, họ la lối om sòm và cuối cùng gần hai ngàn người được sự đồng ý của nhà nước Cộng Sản Việt Nam bằng lòng cho họ quay về bằng con tàu Việt Nam Thương Tín. Về phần chúng tôi thì bước lên phản lực cơ để bay từ đảo Guam tới tiểu bang Arkansas, một hành trình khá dài. Buổi chiều ở Guam bay lên mấy giờ đồng hồ là trời hừng sáng, tôi nhìn qua khung kính hình tròn, con tàu đang bơi trong vùng biển mây trắng xóa và ở dưới kia cũng có nhiều con tàu đang rẽ sóng đại dương xuôi về muôn ngả, cũng giống như cuộc đời dân tị nạn Việt Nam.
Chúng tôi nhập trại thì trời vừa sụp tối, mùa hè ở Mỹ ngày dài hơn đêm. Tính ra thì đã gần 9 giờ tối, các nhà ăn đã đóng cửa, tuy nhiên chỗ lấy sữa cho trẻ con thì vẫn còn. Chúng tôi xin thêm vài hộp sữa uống để đỡ đói, ngày mai rồi hẳn hay. Fort Chaffee là trại lính nên diện tích khá rộng, các barracks từng hàng tiếp nối nhau. Khi dân tị nạn đến, mấy ông lính chẳng biết biến đi đâu mất nhường chỗ cho chúng tôi trưng dụng tạm thời để ở chờ ngày xuất trại. Vì quá lớn nên họ chia ra nhiều khu, mỗi khu có nhà ăn, phòng giải trí, có nơi lấy sữa nóng, lạnh cho trẻ con. Có phòng thông tin, bệnh xá, khu bán tạp hóa và có cả lớp dạy tiếng Mỹ cho những người mới tới. Tóm lại cái gì cũng có, họ lo cho dân tị nạn quả là chu đáo.
Chúng tôi ở trại gần hai tháng, ngoài giờ sắp hàng lấy thức ăn, chúng tôi ghi danh học Anh Ngữ để dễ dàng hội nhập khi ra khỏi trại. Chính phủ Mỹ lắm tiền mà lại kẹo, họ tặng free đủ thứ nhưng nhất định không tặng thuốc lá cho mấy đấng phu quân nhà mình. Ông nào có tiền thì phun mây, nhả khói, còn ông nào túi trống rỗng thì đành phải đè nén cơn ghiền. Tôi còn một chiếc nhẫn vàng 18 ca-ra hột mắt mèo, khi ra nắng tự nó thay đổi màu sắc trông thật là lạ và đẹp nữa, kỷ niệm của bà chị Phụng đấy! Bây giờ tính sao đây? Tôi suy nghĩ một phút rồi rút ra khỏi ngón tay, còn đôi bông cưới thì nhất định phải giữ lại, vì tôi biết xuất xứ của chiếc nhẫn nầy.
Quán Minh Phụng ở An Thới, thỉnh thoảng có Mỹ ghé vào khi họ đi công tác ngoài đó. Bữa nọ có anh chàng Mỹ rất hiền lành, vào tiệm kêu một chai bia và lai rai mấy con khô mực. Một chai, rồi hai chai, rồi ba chai…anh ta quắc cần câu, lột chiếc nhẫn đang đeo ở ngón tay út, anh ra dấu: “Tôi trả tiền bằng thứ nầy được không?” Chị Phụng gật đầu và chị cho tôi chiếc nhẫn ấy luôn. Nhẫn nầy bán tại Mỹ, mai mốt ra ngoài mua thiếu cha gì! Tôi nghĩ thế nên vui vẻ trong lòng, đi thẳng tới chỗ mua bán vàng ở khu D. Kỳ kèo qua lại họ trả cho tôi được 7 đô-la, tôi ghé vào PX mua ngay cho chàng nguyên một cây thuốc hiệu Marlboro. Phần tôi thì mua cho mình một hộp phấn khô và một thỏi son để khi ra trại tới nhà bảo trợ cũng phải bôi vẽ một chút chứ, kẻo không họ tưởng mình là dân miền núi, thì eo ơi! Thật ra con gái miền rừng núi đẹp lắm chứ, nhất là người Việt Nam thuộc giống Rồng Tiên. Theo truyền thuyết, cha Lạc Long dắt năm mươi con trai xuống biển nên đen sì, mốc cời. Còn năm mươi con gái được mẹ Âu Cơ dẫn lên núi nên cô nào cô nấy đẹp như tiên phải không quý chị?
Sau khi ăn cơm chiều xong, chúng tôi thường đến chỗ xe truck đã đậu sẵn để được nhận free bánh cookie cho trẻ em còn người lớn thì cà phê nóng và icecream. Ăn bánh uống cà phê xong chúng tôi đi lòng vòng kiếm coi có gặp được người quen hay bạn bè nào mới nhập trại hay không. Đi mỏi chân chúng tôi tới chỗ chiếu bóng ngồi xem phim để tiêu khiển cho hết một ngày. Khi ca sĩ Khánh Ly nhập trại, ban tổ chức của các khu đều ra thông báo mời bà con tị nạn đến xem một buổi trình diễn văn nghệ cùng với các ca nghệ sĩ khác. Đêm ấy ai cũng vui tươi, hớn hở, nét ưu sầu của kiếp đời tị nạn lưu vong đã không còn hằn in trên gương mặt nữa. Khánh Ly hát bài Biệt Ly của Doãn Mẫn thật hay, thật ý nghĩa, mọi người nghẹn ngào, xúc động. Gặp nhau hôm nay rồi ngày mai chia tay, ly biệt biết đến bao giờ mới có thể gặp được nhau. Khánh Ly hát hết mình, hết lòng, hết dạ, cô say sưa thả hồn trôi theo trên từng lời ca, tiếng nhạc trước mấy ngàn khán giả đến nổi đã lạc mất đứa con gái bé nhỏ của mình lúc nào mà không hay biết.
Trại Fort Chaffee nằm ngoài thành phố Fort Smith gần xa lộ liên tỉnh nên thỉnh thoảng chúng tôi thấy có vài chiếc xe truck chở dưa hấu tới đậu trước cổng trại để bán cho dân tị nạn. Hồi ở quê nhà mình biết trái dưa hấu hình tròn như cái tô, cái rỗ, còn dưa hấu của Mỹ thì hình dài, lại có sọc nữa, bự tổ bố, thoáng thấy tưởng là dưa Thần, dưa Thánh. Ai nầy đều bàn tán, trầm trồ, thôi thì mua thử ăn xem sao. Một đồng một trái, rẻ quá đi thôi, mua một trái đem về bổ ra ăn cả "ba rắc". Phải công nhận dưa hấu Mỹ rất ngon, không hột, nước nhiều, dòn ngọt. Lúc ấy là mùa hè nên ai cũng thích ăn loại dưa hấu nầy.
Sinh hoạt ở trại cũng có lắm điều tiêu cực và phức tạp, thí dụ như chuyện đi tắm. Nam, nữ phân chia hai phòng tắm rõ ràng bằng hai tấm bảng treo trên hai cánh cửa ra, vào. Trong phòng rộng của mỗi bên được ngăn đôi, phía bên ngoài là phòng chải tóc, tận cùng là phòng tắm có năm, bảy búp sen phun nước được che bằng một tấm ri đô nhựa. Chúng tôi thường tắm tập thể, vì nghe đâu trước đó có con dê xồm xổng chuồng thường hay rình mò khi thấy có cô nào hay tắm một mình…Tắm tập thể thì cũng vui, cũng an toàn lắm! Nhưng tôi không thích tắm kiểu ấy, thấy kỳ kỳ làm sao, mất tự nhiên quá! Hơn nữa những người lắm mồm, nhiều chuyện thường đem rêu rao: “Nào là đồng hoang cỏ cháy, lưa thưa đôi hàng, nhỏ như hạt mè, bé tựa quả chanh hoặc dài như trái mướp v.v...” Thôi thì bao nhiêu ngôn từ được điểm mặt đặt tên, nghe mà phát ớn. Rồi còn có những cuộc đánh ghen long trời lở đất khiếp quá đi thôi!
Chúng tôi rời trại cuối tháng tám năm ấy khi cơn gió đầu thu thổi về, thổi luôn chúng tôi ra khỏi trại. Bao nhiêu kỷ niệm vui, buồn của một kiếp đời lưu vong, lạc xứ. Trong đêm cuối cùng trước khi chia tay với một số bạn bè ở cùng "ba rắc", ai cũng bịn rịn, ai cũng bùi ngùi. Những gương mặt ấy, những tấm lòng ấy đã mấy chục năm qua chúng tôi chưa lần gặp lại. Ai mất, ai còn, ai đã trả hết nợ trần ai, ai nào biết được!
Nửa đêm về sáng, gia đình bầu đoàn thê tử của chúng tôi âm thầm, lặng lẽ rời trại. Tôi quay đầu nhìn lại trại lính im lìm ngủ say, bất chợt có tiếng chim đêm kêu lên thảng thốt rồi vỗ cánh bay cao. Tôi nói khẽ: “Vĩnh biệt, vĩnh biệt Fort Chaffee!”
Chúng tôi đổi chuyến bay tại phi trường Kansas, ngồi đó hai giờ sau lại leo lên một chiếc khác nhỏ hơn, loại bay trong nội địa. Chiếc nầy chở chúng tôi về miền quê hương xứ bắp, hễ có trồng bắp là phải nuôi bò. Tôi nghĩ thầm: “Phen nầy tha hồ cạp bắp và gặm xương bò mệt nghỉ!”

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét