Chương Sáu
MỘT CHUYẾN ĐI TÂY
Trong dịp Nô-en có nhiều ngày nghỉ lễ, chàng của tôi lấy ba tuần vacation để đưa tôi sang Pháp. Trước khi đi tôi lên nhà thương Stanford gặp các bác sĩ giữ hồ sơ bệnh lý của mình, xin copy tất cả mang theo qua Pháp. Nếu có dịp sẽ vào bệnh viện Paris, nơi đó chắc cũng có nhiều bác sĩ giỏi. Chúng tôi chuẩn bị hành lý lên đường. Ba đứa con nhỏ thì gởi cho cô em gái và gom các giấy tờ quan trọng nhờ cất giữ giùm, lỡ chúng tôi có mệnh hệ nào thì cô ấy cũng có đủ văn kiện, để làm thủ tục. Nghĩ tới đây tôi bỗng lo sợ, vì ngày xưa tôi và chàng đến với nhau bằng: “Tình yêu như trái phá, con tim mù loà...” dù không thề non, hẹn biển nhưng ước nguyện nếu chết được cùng ngày, cùng giờ. Kỳ nầy lên máy bay làm một chuyến qua Pháp tôi sợ lời nói kia sẽ bị linh ứng, rủi máy bay rớt chết hết cả hai vợ chồng, thì ba đứa con thơ sẽ mồ côi cả cha lẫn mẹ, lấy ai mà nuôi dưỡng chúng cho đến tuổi lớn khôn. Nghĩ đến điều nầy tôi lẹ làng mua một ít trái cây, thắp ba nén nhang đứng trước bàn thờ Phật xin rút lại những lời nói dại ngày trước. Nếu chẳng may, máy bay bị rớt thì chỉ chết một đứa thôi, chừa một đứa sống để nuôi con. Nếu trường hợp nầy xảy ra thì theo ý các bạn đứa nào cần phải sống và đứa nào phải chết? Chắc các bạn có câu trả lời rồi phải không? Đùa chút cho vui, chứ thật ra mỗi con người đều có số. Hơi đâu mà lo cho ốm o, gầy mòn!
Máy bay đáp xuống
phi trường Kennedy, New York giữa lúc tuyết đang rơi. Đâu đâu cũng là màu trắng,
giống như một vựa muối khổng lồ. Hơn tám năm rồi chúng tôi mới trở lại thành phố
nầy, thấy lại cảnh cũ nhưng không rõ nét, dù nhìn từ trên độ cao. Trong thơ Hàn
Mặc Tử có câu: “Áo em trắng quá nhìn không ra”… Tôi đưa mắt tìm World Trade Center
và tượng Nữ Thần Tự Do, chẳng thấy đâu cả, đành phải kêu lên: “Tuyết rơi trắng quá nhìn không ra”.
Nhưng câu nầy cũng chưa đúng lắm, chỉ có câu: “Mắt tôi bết quá nhìn không ra”. Thật đúng phải không các bạn? Hơn
tám năm trước chúng tôi đến đây với niềm vui tươi rộn ràng, thích thú. Còn bây
giờ thì trái ngược, tâm tình của ngày xưa đã lạc mất đâu rồi! Chỉ còn những phút
giây hồi hộp, những suy tư, lo lắng và nguyện cầu. Mong sao kỳ nầy qua Pháp,
bác sĩ sẽ chữa lành cặp mắt. Tôi mang niềm hy vọng tràn đầy và bước lên tàu bay
thêm một lần nữa sau gần hai giờ ngồi đợi ở phi trường. Tôi không hiểu tại sao
mỗi lần lên độ cao mắt tôi bị mờ hơn. Lễ Độc Lập năm trước chúng tôi đi Reno và
Lake Tahoe để viếng cảnh, khi xe lên núi cao khoảng năm, sáu ngàn bộ thị lực đột
nhiên bị mờ và hai con mắt bắt đầu nhức nhối. Lần nầy cũng vậy, máy bay lên độ
cao trên ba mươi ngàn bộ thế nào mắt tôi cũng bị ảnh hưởng. Điều nầy đã khiến tôi
vô cùng lo sợ, còn một con mắt để nhìn, mà bây giờ đi chữa bệnh, trái lại
chữa không được mà còn hư thêm một con mắt còn lại thì khổ biết dường nào! “Lạy
Trời, lạy Phật, lạy Chúa xin hãy cứu con”. Tôi lâm râm khấn nguyện.
Phi trường Charles
De Gaulle không tân kỳ, hiện đại như nhiều phi trường ở Mỹ. Những người mang
thông hành Hoa Kỳ thì đứng chung một hàng và sự tiếp đãi có vẻ lịch sự hơn. Thủ
tục quan thuế xong xuôi, chúng tôi bước ra ngoài gặp ngay chú tôi và bác sĩ Thiện,
ông phải đóng cửa phòng mạch để đón một bệnh nhận từ Mỹ quốc, một nơi mà nền y
học giỏi nhất hoàn cầu. Chính nơi nầy đã chịu thua, nhưng biết đâu hễ làm người
thì phải nuôi hy vọng, cho dù hy vọng đó rất mong manh. Hơn nữa với tấm lòng và
thiện ý của bác sĩ Thiện và chú tôi, tôi phải thử một lần để chú được vui. Ông
nội tôi với ba chú là hai anh em ruột. Trước năm 1975, chú là lính không quân.
Sau năm 1975 chú tôi và các anh em khác đứng chung trong một cụm từ: “Tổ Quốc
Không Gì Ăn” tức là “Tổ Quốc Không Gian”, nếu viết có bỏ dấu người ta có thể đọc đùa
như vậy. Quả thật, đầu thập niên 1980, cả nước nghèo xơ, nghèo xác. Người Cộng
Sản miền Bắc vào Nam gom tất cả những gì ăn được, xài được đưa ra hết ngoài Bắc,
dân tình quá điêu đứng, khổ sở, chú thím tìm đường vượt biên, qua được Thái Lan,
cần tôi bảo lãnh. Thím trước kia là giáo sư Pháp văn, vì thế thím thích định cư
ở Pháp hơn, nên chú tôi “a lê hấp theo
bà xã ngay”. Tuy nhiên mấy năm trước hai ông bà đã qua Mỹ chơi được mấy
lần. Chú tôi rất thích sống ở Mỹ, vì bên nầy con cháu đông, còn ở Pháp chỉ có
hai vợ chồng mà thôi! Hơn nữa Mỹ cái gì cũng ngon lành hơn Pháp, nhất là đường
xá và các tiện nghi công cộng và nhiều thứ khác nữa. Thật tình mà nói, có nhiều
thứ Pháp thua xa Mỹ, chẳng hạn như toilet ở phi trường xài giấy xúc, không
trắng mịn, mềm mại như ở Mỹ. Phôn công cộng thì nhiều cái đã hư không xài được,
đó là hai hình ảnh tôi thấy tại phi trường khi vừa vào nước Pháp. Chú nghe
chúng tôi sang, ông vội vàng mua một chiếc xe hơi cũ, chạy một vòng thành
phố Paris. Ngoại trừ những con đường chính, còn tất cả đường nào, đường nấy rất
hẹp. Tìm chỗ đậu xe là cả một vấn đề. Lúc ấy xăng còn rẻ mà chú đã than trời,
ít khi xử dụng xe hơi, vì vậy chuyện lái xe đối với chú cũng khá lộng cộng.
Đang là giờ tan sở, xe trên đường nườm nượp, chú tôi chở bác sĩ Thiện về phòng
mạch và chỉ chỗ, ngày mai chúng tôi tự động mà tìm đến.
Bác sĩ Thiện dáng người thấp thấp,
tính tình vui vẻ, hiền lành. Nghe nói thân sinh ông là người sáng lập ra Thích
Ca Phật Đài tại Vũng Tàu ngày trước. Cả gia đình ông ai cũng hiền lương, tu
tâm, dưỡng tính, làm nhiều việc phước thiện để tích đức cho con cháu về
sau. Mẹ ông là người tu tại gia, bà cụ đang thờ một viên Ngọc Xá Lợi tại tư
gia. Sau mấy tuần lễ, chúng tôi có đến chào cụ và đã được cụ cho phép coi qua.
Đây quả là một điều đại phước, một dịp khá hi hữu. Thông thường ở Pháp, nơi làm
việc cũng có thể là nhà ở, phải công nhận cách kiến trúc của các chung cư cao từ
mười mấy tới hai chục tầng thật là kiên cố, vững chắc. Bên trong diện tích có hơi
chật hẹp nhưng phòng nào ra phòng nấy gọn gàng lắm! Chú thím tôi ở lầu thứ 11,
toà cao ốc nằm gần ngã tư, xéo xéo bên kia là lối đi xuống đường hầm metro, đối
diện mé trái là chợ thực phẩm. Đi dài dài theo con đường sẽ thấy nhiều tiệm
café vỉa hè, lạ một điều là dân Tây uống café ít khi chịu ngồi ghế, họ cầm ly đứng,
hoặc đi tới, đi lui.
Còn đi chợ thì khách hàng phải xách theo cái giỏ để đựng các thứ mình mua, nhất là buổi sáng đi mua bánh mì thì ôm cả bó về chớ họ đâu có bỏ vô bao giấy như ở bên Mỹ. Mới đến, chú thím kể cho chúng tôi nghe nhiều điều không giống như sinh hoạt ở xứ Cờ Hoa. Tối hôm đó, chú hướng dẫn và chỉ cách đi xe metro. Đây là xe điện ngầm, chạy dưới lòng đất, qua rất nhiều ngõ, ngách. Phải biết đường đi thì mới trúng, còn không thì đi mút chỉ luôn, chẳng biết đường nào để trở lại. Mắt mũi tôi thế nầy mà phải bước lên, bước xuống mấy chục bậc tam cấp mỗi khi đi vào đường hầm metro là cả vấn đề khó khăn, bất tiện. Cho dù bất tiện thế nào thì cũng ráng mà đi, chẳng lẽ để chàng cõng mình sao? Sau bữa ăn tối, tôi mang món quà mọn ra tặng thím. Đó là sợi dây chuyền với cây Thánh Giá, nhưng thật bất ngờ, thím cho biết thời gian qua thím đã cải đạo, tụng kinh, niệm Phật, đi chùa và thường xuyên đi hành hương các quốc gia khác. Thím cho biết lý do thím bỏ Công giáo nhảy qua Phật giáo bởi vì khi đọc kinh sách thím tìm được sự bình an, thư thái trong tâm hồn và biết rõ nguồn gốc của sự khổ đau nó đến từ đâu và hơn nữa có phương cách diệt khổ để tìm ra chân lý của cuộc đời. Tôi rất thán phục thím, vì bên dòng họ nhà thím toàn là đạo gốc, chứ không là đạo theo. Khi làm lễ cưới, gia đình thím bắt chú tôi phải học đạo, phải vô nhà thờ làm phép hôn phối. Thế mà bây giờ thím trở thành Phật tử, điều nầy làm cho tôi quá sức ngạc nhiên và ủng hộ, cổ võ thím nhiều hơn nữa.
Sáng hôm sau hai vợ chồng chúng tôi uống cà phê, ăn điểm tâm xong rồi thì hai đứa dung dăng, dung dẻ cầm tay nhau xuống phố, chui tọt vô hầm metro theo sự chỉ dẫn tối hôm trước của chú. Chàng của tôi coi bộ cũng rành lắm, chuyển qua hai, ba trạm mà cũng tới ngay phòng mạch của bác sĩ Thiện. Ông ngồi đợi chúng tôi, vài lời thăm hỏi, tôi chân tình xin ông nhận hai món quà mà chúng tôi đã mang từ Mỹ. Đó là hai bức tranh cầu Golden Gate và cầu Bay Bridge, tặng gia đình ông để làm kỷ niệm, ông vui vẻ nhận, không khách sáo chút nào. Đây là đặc tính của người miền Nam, không màu mè, lấy sự chân chất mà đãi nhau. Ông mời chúng tôi sang phòng mạch, sau thủ tục làm giấy tờ, kể sơ bệnh tình, ông bắt đầu châm cứu cho tôi. Ở đây khác bên Mỹ, là khi châm trên lưng ông cho bóng đèn sáng mấy trăm watt rọi xuống để tạo ra hơi nóng kích thích các huyệt đạo. Ngoài việc châm ở lưng, bác sĩ Thiện còn châm các đầu ngón tay và nhiều vùng trên mặt nữa. Công việc nầy làm khoảng một tiếng đồng hồ là xong, chúng tôi cám ơn bác sĩ ra về và hẹn ngày mai sẽ gặp lại. Vì ở Pháp chỉ ba tuần lễ nên chúng tôi phải đi châm cứu hằng ngày để tranh thủ thời gian. Chúng tôi đang cẩn thận bước từng bước xuống đường hầm metro, tới chỗ quầy bán vé thì thấy quang cảnh sao mà vắng vẻ quá! Không thấy người qua, kẻ lại như hồi sáng, hỏi ra thì mới biết hôm nay cả nước Pháp đình công. Các hệ thống metro đều đóng cửa, bây giờ tính sao đây? Chúng tôi phải lên đường cái tìm taxi về nhà. Thấy taxi trờ tới, chúng tôi vẫy vẫy, ông ta lắc đầu nguầy ngoậy, nhìn vô xe thì thấy xe trống trơn, ông đâu có chở ai, sao không chịu đón khách? Thôi chờ chiếc khác vậy! Chiếc thứ nhì trờ tới, chúng tôi ra dấu, tài xế lại lắc đầu rồi chạy luôn. Chiếc thứ ba cũng thế, không taxi nào chịu chở chúng tôi về nhà người chú cả. Chúng tôi nhắm hướng thả bộ, đi tà tà về hướng đó coi xem sao! Đi một khoảng hơn hai mươi phút, chúng tôi thấy chiếc taxi thứ tư, đưa tay ngoắc thử, ông ta tắp vô lề. Tôi đưa địa chỉ, tài xế ok chạy thẳng một lèo…Chưa đầy năm phút ông đã ngừng lại trước chung cư của chú tôi. Chúng tôi tiếc quá, phải chi mình tiếp tục đi thì sẽ tới nơi thôi, cần gì phải tốn tiền lãng nhách thế nầy!
Buổi tối chú thím đi làm về, tôi trình sơ sự việc, ông bà cười ngất: “Chú quên nói cho hai cháu biết, buổi trưa ở đây taxi không chở khách đâu, vì họ nghỉ ngơi và ăn cơm trưa, sau hai giờ họ mới tiếp tục chở khách. Còn vấn đề đình công ở xứ sở nầy họ làm hà rằm. Nghiệp đoàn nầy, cơ quan nọ thường tranh đấu cho quyền lợi công nhân, bây giờ làm một tuần lễ chỉ có ba mươi lăm giờ thôi, họ đang muốn một tuần lễ chỉ làm ba chục giờ. Dân Pháp phè phởn lắm, làm ít mà chơi nhiều, chứ không giống như bên Mỹ cày hùng hục như con trâu, nên người dân mới giàu, nước mới mạnh cháu à”.
Ngày thứ hai và thứ ba chúng tôi đi sớm hơn để tìm hiểu sinh hoạt của người dân bản xứ. Trong thành phố, giữa lòng đường đôi khi chúng tôi thấy có lót gạch tiểu, những viên gạch nhỏ, đỏ đỏ lâu ngày đã trở thành màu thâm nâu, cũ kỹ, bể mẻ nhiều nơi. Hai bên lề đường nhiều đống phân chó nằm tênh hênh, trông mất vệ sinh quá. Hôm nào tâm hồn thảnh thơi, lo ngắm cảnh trời mây trăng nước thế nào cũng có lúc đạp vào bãi “mìn”. Mấy ông tây, bà đầm thường dắt chó đi dạo vào lúc sáng và tối, vì vậy cả đội ngũ “Vệ Sinh Thành Phố” chờ khoảng 9 giờ sáng dùng xe mô-tô có ống hút phía sau đi hút các đống phân đó. Lại có nhóm khác dùng xe xịt nước tới rửa sạch những gì còn lại… Lỡ mà chúng ta đi trong giờ giấc nầy thì phải bịt mũi để tránh khỏi buồn nôn vì mùi tanh tanh, khủng khiếp lắm các bạn ạ. Nghe chú thím tôi nói, cái nghề nầy coi vậy mà cũng lắm tiền, khó xin việc làm ấy lắm! Thế nên cả nước ai cũng thích nuôi chó, vì chính phủ đã lo việc vệ sinh nầy rồi.
Ngay tối hôm đó tôi báo cho chú thím biết, hai ngày tới chúng tôi không về nhà mà sẽ ở khách sạn gần văn phòng bác sĩ Thiện thuộc quận 13 để xem khách sạn ở Pháp có hơn gì khách sạn Mỹ không? Chung quanh đây cũng có shopping, siêu thị và nhiều tiệm café, bánh trái, nhà hàng. Nhất là chợ trái cây có bán trái vải và trái nhãn tươi lâu quá rồi tôi chưa được ăn lại thứ trái nầy, gặp được thì không thể bỏ qua, tôi nhào vô mua mấy bịch mang về khách sạn ăn cho đã thèm. Ăn xong tôi lại nhớ tới các loại cây trái khác ở miền Nam, nhớ đến dân tộc Việt Nam qua bài thơ Cây Trái Quê Nhà như sau:
Ai đã sống nơi miền thôn rẫy
Ắt phải thương cây trái quê nhà
Em thương trái quít, thanh trà
Tôi thương bụi chuối ra hoa thật đầy
Thương đu đủ cọng gầy thưa lá
Trái chín thơm, ướp đá hết chê!...
Chôm chôm, măng cụt, nhãn, lê
Mềm mềm vú sữa ta mê tới già
Nơi đất khách nhớ nhà quá đỗi
Nhớ vườn xoài, đào, ổi ra bông
Nhớ dưa hấu đỏ mát lòng
Nhớ mít tố nữ, má hồng chào thua
Nhớ vườn mận, vườn dừa hò hẹn
Lần đầu tiên e thẹn mắt nai
Tình chàng ngọt lịm ô mai
Me chua, khóm chín, muối cay mời người
Ăn một miếng, đã đời tuổi mộng
Tình đi rồi, ứ đọng sầu riêng
Thanh long đẹp cánh hoa tiên
Mơ, dâu Đà Lạt nên duyên vợ chồng
Xa-bô-chê, hương lòng thôn nữ
Mãng cầu dai, cùng bưởi năm roi
Cam chi mà phải thiệt thòi
Vải thô em cũng mặn mòi như ai
Khế với lựu lai rai cũng thấy
Trái sim rừng ai nấy…bo bo
Đói lòng ăn cũng đỡ no
Trái tim xa xứ, buồn cho tình người
* *
Về Việt Nam thương đời bình bát
Trái luân thường tan tác rụng rơi
Trái bơ thì ở cuối trời
Trái ngang, trái lý lên ngôi chủ nhà…
Mười mấy năm tôi xa quê, xa nước sống kiếp lạc loài nơi xứ sở chưa quen. Hôm nay bước tha hương lạ lẫm bên vùng trời Tây giữa lúc mùa Giáng Sinh đang đến phố xá cũng treo đèn, kết hoa, các cửa kính cũng vẽ hình ông già Nô-en và các vòng hoa gắn liền với ánh sáng lấp lánh của dãy đèn màu. Tuy nhiên sự trưng bày không khéo léo, không đẹp mắt như ở Mỹ và số người đi mua sắm cũng ít hơn. Chúng tôi xách va-li vào làm thủ tục check in, ở đầu cầu thang có hai con chó béc-giê to đen ngồi thù lù một đống. Khi thấy chúng tôi nó chồm lên, người quản lý ra lệnh cho hai con chó nằm yên, rồi hướng dẫn chúng tôi lên lầu và đưa luôn chìa khóa. Căn phòng lâu ngày chắc không có người ở, nên mới bước vào đã nghe cái mùi mốc meo. Tôi bước tới mở tung cánh cửa sổ để không khí bên ngoài lùa vào, dù bên nầy đang là tháng mười hai nhưng khí hậu không lạnh lắm, chưa thấy tuyết rơi. Giường mệm, ra trắng nhưng trông có vẻ nghèo nàn vì tất cả hình như quá cũ, cái vòi nước trong phòng tắm đã rỉ sét, chỉ có cái lavabo là còn tốt, nước chảy rất yếu. Thật tình mà nói, khách sạn nầy không phải hạng sang, nên tiền thuê cũng rẻ vì ở trong khu vực bình dân. Thời đó một đồng đô la Mỹ đổi được bảy đồng tiền pháp, vé máy bay khứ hồi khoảng chín trăm, bây giờ thì đã gấp đôi.
Sau hai ngày chúng tôi trả phòng và ghé shopping mua ít qùa biếu chú thím nhân dịp Nô-en. Tôi mua một bộ soon bằng i-nốc tặng thím, một máy điện thoại để bàn có speaker và answer machine để tặng chú. Sau cùng chúng tôi ghé vào chợ mua tôm, thịt về luộc cuốn bánh tráng, rau sống chấm mắm nêm. Món nầy chú thím tôi rất thích, vì ở đây ông bà ít được ăn món nầy, thím tôi từ trước tới giờ rất dở nấu nướng. Thành thật mà nói như vậy, thím đừng giận nha! Thím ăn uống rất đơn giản, nấu một nồi canh ăn tới ba bốn ngày. Ở Pháp phương tiện đi làm cũng cả một vấn đề, mất rất nhiều thời giờ. Có nhiều hãng xưởng nằm xa tận ngoại ô, vì vậy phải thức dậy sớm đi qua nhiều trạm xe mới tới nơi được. Rồi buổi chiều về thì thành phố đã lên đèn, vợ chồng ai cũng mệt hết, ăn uống qua loa cho xong. Chú thím tôi không con, nên đời sống ít bận rộn. Công việc làm của thím thấy có vẻ ổn định hơn, vì nhờ vốn liếng Pháp văn và ban đêm chịu khó học thêm nghề kế toán. Còn chú tôi phần số không may như thím, vì không có nghề chuyên môn nên ông bị thất nghiệp thường xuyên. Đêm hai mươi bốn, chúng tôi cũng ăn mừng Giáng Sinh, món cá un khói và trứng caviar là các món ăn chính trong ngày nầy. Ngoài ra còn món ham, ốc biển và hào tươi nữa. Trộn một ít xà-lách với dấm và trái olive là chúng tôi có một bữa ăn cũng khá hấp dẫn. Vừa ăn vừa uống rượu vang, bàn công chuyện ngày mai, ngày mốt đưa chúng tôi đi chơi chỗ nầy, chỗ nọ. Thật ra chuyến nầy đi với mục đích chữa bệnh, chứ không phải đi chơi. Tôi đang tìm chùa để đến cầu nguyện, chắc chắn ở gần đây phải có chùa Việt Nam, tôi quay qua hỏi thím:
- Thím ơi, cháu muốn đi chùa, thím có biết chùa nào không? Thím đưa cháu đến để cầu xin Đức Phật gia hộ “Đi tối, về sáng” thì điều nầy sẽ là một đại duyên, cháu vui mừng lắm!
- Được rồi ngày mai thím sẽ đưa hai đứa đến chùa của thầy Thích Giác Tuệ.
- Ngày mai là thứ bảy, như vậy chủ nhật mình đi đâu?
Thím nói:
- Chú thím sẽ đưa các cháu đi thăm tháp Eiffel và thăm vườn Luxembourg cùng các nơi nổi tiếng khác.
Sáng hôm sau thím tôi thức sớm vào bếp chưng một tô thịt bầm với chả trứng và nấm mang đến chùa, tôi ngạc nhiên hỏi:
- Thím, mình đi chùa phải mang đồ chay đến, tại sao lại mang đồ mặn?
Thím cười nói:
- Ông sư Giác Tuệ nầy tu theo Phật Giáo Nguyên Thủy, nên ăn đồ mặn được, nhưng phải ăn trước giờ ngọ.
Xe chạy ra ngoại ô thì mới thấy tuyết, tuyết rơi đêm rồi nhưng không nhiều lắm. Chú tôi chạy qua nhiều ngả đường, cuối cùng quẹo vô một con hẽm nhỏ, chạy tới gần cuối thì đậu trước sân một ngôi nhà. Chú nói:
- Đây là chùa của thầy Thích Giác Tuệ.
Chúng tôi bước vô cửa, thấy bên trong cũng đã có một số người đang nói chuyện vui cười với nhau. Gặp chú thím tôi mọi người đon đả bước tới chào hỏi, chú thím giới thiệu chúng tôi ở bên Mỹ qua Pháp để chữa bệnh và hôm nay đến chùa cầu phước. Đang nói chuyện thì thấy một vị sư mặc áo vàng, hở nửa vai đi tới, chú thím tôi xá xá mấy cái: “Dạ, con chào sư ạ!” Vị sư nầy thấy còn trẻ, tính tình cởi mở, vui vẻ, ăn nói hoạt bát. Sư dẫn chúng tôi vào chánh điện, nơi có ba tượng Phật vàng chói đang ngồi tọa sen, trên đầu các ngài vầng hào quang chiếu sáng dưới ánh đèn màu. Chúng tôi bước tới thắp ba nén hương rồi cầu nguyện, nhìn gương mặt thoát tục của ngài thêm mùi trầm hương thoang thoảng, cho tôi cảm giác nhẹ nhàng hơn trong cuộc sống của kiếp nhân sinh. Hãy bớt những lo toan, phiền muộn, hay bớt cưỡng cầu thì mình sẽ có được sự giải thoát ngay trong kiếp nầy. Những câu kinh, tiếng kệ vang lên đều đều, thỉnh thoảng có tiếng chuông hòa nhịp. Tất cả hồi hướng phước báu cho những ai có tâm lành, tâm thiện, ngay cả cho những tâm hồn còn trong vòng mê chướng, lỗi lầm.
Hơn nửa giờ sau, chúng tôi vào phòng lớn, tất cả ngồi im lặng nghe thầy Giác Tuệ giảng về thuyết nhân quả và nghiệp lực: “Hễ gieo nhân thì có ngày trổ quả, quả xấu hay quả tốt tùy duyên mà nó phát triển. Nếu gieo hột chanh thì được quả chanh, nếu gieo hạt khế ngọt thì được quả khế ngọt. Tuy nhiên nếu lỡ đã gieo nhân xấu rồi mà không muốn trổ quả xấu, thì chúng ta hãy dùng phương tiện chận đứng lại quá trình phát triển bằng cách là không vun phân, tưới nước qua hành động xấu xa, gian ác. Trái lại hãy làm những công việc đạo đức, từ thiện, bố thí, cứu người. Và như thế quả xấu, quả ác không có điều kiện để nẫy mầm. Cái quả xấu ấy sẽ bị chết non, trong kiếp nầy sẽ bị hũy diệt. Dần dần, đến kiếp sau thì ta không còn nhân, quả nào báo ứng nữa. Có nhiều bậc thức giả đã giác ngộ, họ sợ nhân chứ không sợ quả, nếu quả có đến thì họ sẵn sàng chấp nhận, không oán trách, không than van. Trái lại họ còn vui mừng nữa, bởi vì trả quả giống như trả nợ, nếu để lâu thì tiền lời càng thêm chồng chất.
Nghiệp lực là do hành động của mình từ lời ăn, tiếng nói, suy nghĩ tốt hay xấu, nặng hay nhẹ đều có thể tạo ra nghiệp. Đến khi chết, đều do sức hút của lực chi phối sẽ đưa ta đến chỗ thanh nhàn, an vui tự tại hay khổ đau, nghèo đói, bệnh tật và về chỗ tươi sáng hay tối tăm. Cũng như những gì trong không gian đều bị sức hút của trái đất chi phối, chẳng hạn như cục đá và mảnh bông gòn. Cục đá nặng nề hơn, thô kệch hơn thì sự rớt xuống mau hơn, và khi đụng vào đất có sự va chạm mạnh, đôi khi làm vỡ ra thành từng mảnh nhỏ đụng phải những người chung quanh như ông bà, cha mẹ, vợ con, ta có thể gọi đây là cộng nghiệp. Còn như mảnh bông gòn khi thảy lên không trung, vì không có trọng lượng nên sức hút bị giảm vì vậy nó rơi từ từ, khi chạm mặt đất nó không tạo ra một âm thanh nào và miếng bông gòn vẫn còn y nguyên. Đó là hai thí dụ cho ta thấy rằng giữa nghiệp xấu và nghiệp tốt, kết quả không giống nhau. Bông gòn tượng trưng cho nghiệp tốt và cục đá tượng trưng cho nghiệp xấu. Gió là sự trợ duyên, có thể đưa miếng bông gòn về bất cứ nơi nào, tùy theo căn cơ, nghiệp quả mà ta có thể thay đổi qua các việc làm phước thiện để thay đổi trước giờ phút lâm chung. Trái lại tảng đá thì không được vì tạo ra quá nhiều nghiệp xấu nên khi trút hơi thở thì nghiệp lực hút thật nhanh, ít có cơ duyên thay đổi. Tóm lại có thể nói đó là định nghiệp”.
Qua bài thuyết giảng của sư Thích Giác Tuệ, tôi cảm thấy vừa mở ra một con đường sáng cho chính bản thân tôi bước vào. Vui cũng thế, buồn cũng thế! Tất cả đều phù du, tạm bợ. Cao lắm là một trăm năm, thân Tứ đại nầy sẽ trở về với các bụi, những bộ phận trong thân thể nầy chỉ là giả tạo, không hư trước thì cũng mục nát sau! Thôi thì hãy bắt chước các vị thức giả: “Trả nợ sớm thì đỡ phải mất thêm tiền lời!”
Hôm sau trước khi đi chơi, chú thím chở chúng tôi đến tiệm phở gần nhà. Tiệm nầy do một người chủ Việt Nam lấy vợ Thái Lan làm nghề bán phở và các món ăn Pháp. Ở xứ “Gà Cồ” nầy đố các bạn vô tiệm mà tìm được mấy cục nước đá lạnh, đây là điều quá hiếm hoi. Các thứ giải khát thì hầu hết đã được ướp lạnh nên rất ngon vì giữ nguyên được chất lượng. Tôi không quen uống sữa đậu nành nóng nên xin vài cục nước đá, họ gật đầu nhưng trông rất miễn cưỡng. Ở đây uống nóng ra nóng, lạnh ra lạnh, đồng thời ăn, uống cũng theo mùa nữa, bày chi cái chuyện rắc rối như vậy. Nhưng thật ra, đó là văn hóa, đời sống của đất nước văn minh đã cai trị chúng ta hơn trăm năm về trước.
Vườn Luxembourg nằm ở Quận 6 cạnh nhà Thờ Đức Bà Paris, nghe đâu nó được xây vào năm 1612, trong đó có cung điện của bà Hoàng hậu tên là Marie De Médicis. Vì là mùa đông nên quang cảnh của vườn Luxembourg tiêu điều, xác xơ. Cỏ chưa xanh tươi, hoa chưa kết nụ, hàng cây trụi lá trơ cành, soi bóng dưới mặt hồ khẳng khiu, tội nghiệp. Bầy thiên nga có cả mẹ lẫn con đang nhởn nhơ bơi lội, gần đó mấy chú chim câu từ trên trời sà xuống càng lúc, càng nhiều. Chúng tụ đàn, tụ nhóm trên vạt cỏ, đôi lúc ngẩng đầu lên nhìn chúng tôi như muốn đòi ăn. Tôi bước tới, một con bay lên đậu trên hàng rào song sắt, còn một con không sợ, đi chậm chậm dưới chân tôi, dương đôi mắt tròn xoe nhìn lên. Một cơn gió thổi tới làm dạt ngọn cây, ánh nắng rơi xuống đậu trên lưng con chim con, tôi bảo chàng lẹ lên lấy máy chụp hình chụp một “Pô” để làm kỷ niệm. Sau nầy rửa tấm hình ấy thấy thật dễ thương, thật ngộ nghĩnh, với ánh mắt ngơ ngác của con chim nhìn tôi và tôi cũng đang nhìn nó.
Tháp Eiffel đứng giữa công trường lớn, bốn chân bè ra vững vàng, tầng trên là các cửa hiệu bán tặng phẩm và nhà hàng. Đứng xa nhìn thấy thì cũng lạ, cũng hay. Nhưng khi đến gần thì mới biết đây chỉ là những thanh sắt to, nhỏ, ngắn, dài nằm chồng chéo ghép nối để tạo một chiều cao ngoạn mục vậy thôi. Ông kỹ sư Gustave Eiffel vẽ đồ án cho tháp Eiffel nầy cũng chính là người cha đẻ của cầu Trường Tiền tại Huế, cầu Long Biên Hà Nội, nhà Bưu Điện Sàigon, như vậy thì chúng ta phải nhớ ơn ông ấy. Đối diện tháp Eiffel khoảng vài trăm thước là Điện Chaillot, nơi đó có một hồ nước nhân tạo, chung quanh khung cảnh cũng đẹp đẽ nên thơ. Cứ đúng giờ, các vòi nước phun lên xen lẫn giữa các ánh đèn màu, kèm theo là tiếng nhạc lúc trầm, lúc bổng, khi du dương như tiếng mưa rơi, khi ào ào như thác đổ. Chúng tôi đứng đó canh và chụp nhiều tấm hình rất độc đáo. Tại những khu danh lam, thắng cảnh, ngoài hoa cỏ ra chúng tôi thấy có nhiều tượng hình bằng đồng, bằng sắt hoặc bằng xi-măng. Hình người đàn bà trần trụi với bộ ngực vun đầy, tượng người đàn ông cỡi ngựa với hai vó tung cao, có vài con ngựa chỉ dính một chân dưới đất, còn ba chân thì giơ hỏng lên và ngược lại. Tôi nghĩ thầm: “Những tượng hình như vậy chắc có ý nghĩa nào đó mà mình chưa biết đấy thôi!” Chúng tôi rời địa điểm nầy đi qua thăm cảnh dòng sông Seine, dòng sông cũng khá rộng, đứng bờ bên nầy tôi loáng thoáng thấy những cửa tiệm bán café mái che đầy màu sắc, ghế ngồi kéo ra tận hiên. Du khách ngồi nhâm nhi, thưởng thức ly café nóng, dưới sông vài chiếc tàu đưa khách du lịch ngoạn cảnh lượn lờ trôi theo dòng nước. Chúng tôi đứng trên cầu ngắm nghía, dòng sông nầy không xanh như “Dòng Sông Xanh” của nhạc sĩ Phạm Duy một thời đã đi vào nền thơ nhạc Việt Nam, có lẽ vì mùa đông bầu trời đầy mây xám nên mặt nước ánh lên màu xám bạc của nền trời. Bọn tôi vừa đi, vừa thưởng thức mấy hạt ma-rông nướng nóng hổi, bùi bùi thật là một điều thú vị trong không khí lành lạnh của thời tiết Paris.
Thế là chúng tôi ở Pháp đúng nửa tháng, hằng ngày vẫn đi châm cứu, nhưng bệnh tình vẫn chưa thấy tốt hơn. Như thế thì còn một tuần nữa chúng tôi phải trở về Mỹ, chẳng lẽ đi tay không lại trở về tay không? Phải gỡ gạc lại một chút gì chứ. Chính yếu là chàng, chàng đã có công dắt tôi qua đây, thưởng cho chàng cái gì mới được…“của lạ!” Đúng rồi, một công, hai việc, ta phải cho chàng đi hoang một đêm…Thứ nhất là để: “Trả thù dân tộc” vì ngày xưa mấy ông Tây qua xứ sở mình đô hộ cả trăm năm, dày vò biết bao nhiêu chị em phụ nữ của chúng ta thời đó. Thế là tôi mở cửa chuồng thả chàng tự do đi với chú tôi, dĩ nhiên là phải xin phép bà thím mới được! Vì vai vế, chứ thật ra ông, bà chỉ lớn hơn chúng tôi năm, bảy tuổi mà thôi. Đêm đầu tiên chú đưa chàng đi, khi về tôi hỏi dồn dập: “Sao, sao trả thù được chưa? Của lạ thế nào? Có mê ly không? Chú tôi cười cười nói: “Thằng nầy nhác quá, chỉ ngồi uống rượu, mười mấy con đầm mang mười mấy con số tượng trưng đứng chờ mỏi cẳng mà nó chẳng lựa được con nào!” Nên chú kéo hắn xuống phố đi vòng vòng. Khu nầy về đêm, đèn đuốc sáng choang, hai bên đường các tủ kính chưng bày đầy dẫy những hình ảnh khiêu dâm, kích dục. Bên lề, nhiều cô gái ăn sương khoác áo măng-tô chờ đợi khách, khi xe chạy ngang họ chào hàng bằng cách mở tung manh áo ra để khách lựa chọn, trong người các nàng chỉ mặc đơn giản hai mảnh bikini mà thôi. Thế là chàng chưa xơi được cơm, cháo gì ráo trọi. Ngày mai tôi bắt chàng phải đi một tối nữa, phải “hoàn thành sứ mạng mới được!” Để khi về Mỹ các bạn chàng hỏi mới biết mà trả lời phụ nữ ta, phụ nữ Tây khác nhau như thế nào chứ! Đêm sau chàng về gần ba giờ sáng, tôi giả đò đang ngủ say nhưng trong bụng nghĩ thầm: “Chắc chàng đã ăn uống no nê rồi, bây giờ hỏi chàng mắc cở, đời nào chịu nói! Thôi để đó, ngày mai tra khảo chàng cũng được”.
Trong tuần lễ nầy chú tôi có quen một người Việt làm tại bệnh viện Paris, nhân cơ hội đó chú tôi nhờ làm cho tôi cái hẹn để được khám mắt ngay trong bệnh viện, họ cho biết tuần lễ sau nữa mới có chỗ trống. Vậy tôi phải đổi vé máy bay về Mỹ trễ thêm một tuần và trả thêm hai trăm đô la cho hai tấm vé mới, đồng thời chàng cũng gọi về hãng xin thêm một tuần phép nữa. Sáng sớm tuần sau đó chúng tôi có mặt ở nhà thương, làm thủ tục và đóng tiền. Ngồi đợi hơn nửa giờ thì được cô y tá gọi vô, tôi vào với người bạn thông dịch viên giỏi tiếng Pháp của chú. Ông ấy nói chuyện với ba vị bác sĩ, một nữ hai nam. Họ mời tôi lên ghế ngồi để họ khám và tôi đưa luôn xấp hồ sơ bệnh lý đã mang theo từ Mỹ. Công việc khám mắt thì chẳng khác gì Mỹ, sau đó tôi ra phòng ngoài đợi hơn một tiếng đồng hồ, lại có người mời vô gặp ba vị bác sĩ hồi nãy. Anh thông dịch viên đứng đó nghe sự giải thích của ba vị bác sĩ, họ bảo rằng sau khi đọc hồ sơ và coi lại các thứ test tôi đã lấy, họ đành chịu thua: “Vì y học của Mỹ so với Pháp tiến bộ hơn mà không chữa được, thì bên nầy cũng đành bó tay thôi, thành thật xin lỗi…” Anh thông dịch viên tóm tắt chừng ấy câu nhưng đã quá đầy đủ ý nghĩa.
Thế là chuyến nầy cứ coi như mình đi chơi, chẳng được lợi ích gì cả, ngoại trừ chàng của tôi… Tôi vẫn tiếp tục đi châm cứu với bác sĩ Thiện tới ngày chót, ông cố gắng hết sức, rút cuộc phải nói lời xin lỗi vì chẳng giúp được gì cho chúng tôi. Tôi cười thông cảm và nói rằng: “Bác sĩ đừng áy náy, nếu dễ chữa thì Mỹ đã chữa được rồi, chúng tôi đâu có cơ hội qua đây để gặp bác sĩ, để viếng nước Pháp” và định nói câu: “Để trả thù dân tộc” nữa chứ nhưng tôi dừng lại đúng lúc. Nói đùa, nói giỡn thì cũng tùy trường hợp, chớ bạ đâu nói đó người ta bảo mình bất lịch sự, không đứng đắn. Bác sĩ Thiện cũng vui tính, khôi hài, cô vợ và hai đứa con trai hiền lành, dễ mến. Trước khi ra về, chúng tôi xin chụp với ông và gia đình mấy tấm hình để kỷ niệm và gởi lại ông một số tiền, coi như tiền chữa bệnh. Nhưng ông từ chối không nhận, tôi nói: “Xin bác sĩ nhận giùm và hãy thay chúng tôi đóng góp vào các công việc từ thiện mà bác sĩ thường làm từ trước đến nay.” Nói như thế ông mới nhận và sau nầy ông gởi biên nhận qua Mỹ cho chúng tôi để thông báo rằng số tiền ấy ông đã làm một việc phước thiện và hồi hướng công đức cho chúng tôi.
Trước ngày trở về Mỹ, chúng tôi mua một ít quà lưu niệm mang về để tặng thân hữu, bạn bè. Thím cũng mua tặng tôi một chiếc bóp đeo vai bằng da thiệt, thật đẹp, nhưng cũng thật mắc tiền, bằng một tháng tiền lương của chú. Thím là vậy đó, ít xài cho mình, lại thích xài cho người khác, hễ người ta vui thì thím cũng vui theo. Ngày trở về Mỹ, Bác sĩ Thiện, chú và thím ra tận phi trường đưa tiễn. Lời chúc của bạn bè: “Đi tối, về sáng!” Hôm nay mắt thì chưa sáng nhưng tình người sáng rực trong tôi, cám ơn bác sĩ Thiện, cám ơn chú thím, cám ơn những người mới quen biết trong chuyến đi nầy. Nhất là thầy Thích Giác Tụê qua bài thuyết giảng của ngài đã soi sáng phần nào về sự vô minh của tôi! về “Nghiệp lực và thuyết Nhân quả.”
![]() |






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét