Chương Mười
Hai
THẾ GIỚI
CỦA ĐÊM
Có lẽ ngôi nhà của tôi lớn nhất xóm, nhưng kiểu cọ thì không giống ai hết vì custom build mà. Bây giờ con cái tôi mỗi đứa mỗi phòng, còn tôi thì phải tập đi lên, đi xuống cầu thang cho quen chân. Nhất là phải dành nhiều thời giờ để dọn dẹp nhà cửa, sắp xếp đâu vào đó cho gọn gàng, lớp lang, thứ tự để sinh hoạt hằng ngày sẽ không bị trở ngại, vì biết rằng bệnh tật của mình đã vô phương cứu chữa.
Một đêm kia khi nằm ngủ, tôi mơ thấy có người mách rằng: “Trên đỉnh núi cao nọ, có một ngôi đền rất linh thiêng, nơi ấy có một vị Tiên Cô chuyên chữa những thứ bịnh mà bác sĩ chê, thầy thuốc chạy”. Tôi nghe thế nên tìm đến, lên cả trăm nấc thang mới vào được trong đền. Tôi quỳ sụp xuống lạy Cô và van xin: “Xin Tiên Cô cứu con, xin Tiên Cô làm ơn, làm phước chữa cho mắt con sáng lại!” Vị Tiên Cô nhìn tôi một lúc rồi nói: “Không, ta không thể nào chữa cho con hết bệnh được! Đây là duyên nghiệp của con. Hai tuần nữa ta sẽ đem ánh sáng của con đi. Tuy nhiên ta sẽ bù lại, con sẽ có niềm vui khác, người đời sẽ biết đến con sau nầy!” Tôi giật mình tỉnh giấc và lo sợ vô cùng. Sáng hôm sau tôi đem câu chuyện nằm mơ nói ra cho chàng nghe, chàng trấn an: “Có lẽ vì tâm lý em lúc nào cũng lo lắng, sợ sệt ngày đó sẽ đến nên nằm mơ thấy vậy thôi!”
Một tuần trôi qua, hai tuần trôi qua, tôi vẫn chưa thấy sự kiện tiêu cực nào xảy ra. Chiều thứ sáu cơm nước xong, con gái tôi lúc nầy đã hơn năm tuổi rủ mẹ ra sân chơi nhảy dây với cháu. Hai tay tôi nắm hai đầu dây, quơ đều đều xuống nền xi-măng, bốn chân của mẹ lẫn con nhịp nhàng dở lên, dậm xuống, tiếng cười của đứa con gái khiến tôi cũng vui lây. Bỗng dưng trời đất tối sầm, tím lịm, tôi ngồi xuống buông dây, dụi dụi hai con mắt. Con tôi hỏi: “Mẹ, mẹ có sao không?” Tôi nhìn vào mặt con: “Ồ lạ, sao mặt con tôi giống trái cà dĩa, lại nhuộm thêm mực mồng tơi tím rịm vậy cà?” Tôi đứng lên kêu con bé dắt mẹ vào nhà, đưa lên lầu để tôi rửa mặt xem sao! Nhắm mắt lại, tôi nằm nghỉ ngơi khoảng mười lăm phút rồi lại mở mắt ra, cảnh vật vẫn lờ mờ, tim tím, đến chín giờ đêm ánh sáng dù cho lờ mờ vẫn không phục hồi được nữa. Tôi bị xốc thật sự và cơn sợ hãi làm tôi bủn rủn tay chân. Tôi nhờ chàng chích cho tôi một mũi thuốc để làm dịu bớt cơn căng thẳng, loại thuốc nầy tôi đã mua từ bên Pháp theo toa của bác sĩ Thiện cho. Hai ngày cuối tuần trôi qua trong bóng đêm chập chờn hư ảo, tôi mang tâm trạng lo âu, sợ sệt, hãi hùng. Buổi sáng lần mò ra sau vườn nghe chim hót để biết rằng bình minh đang ló dạng ở phía trời đông, buổi trưa ra sân phơi cánh tay trần dưới ánh nắng cháy da để biết mặt trời đang còn ở đó, để biết thế giới nầy vẫn còn hiện hữu. Chỉ có riêng tôi tranh sáng, tranh tối từng giờ ! Ngày thứ hai tôi đến gặp bác sĩ mắt Richard Sog, sau khi khám mắt ông kêu lên:
- Mắt bà trông như tia pháo bông cháy đỏ giữa bầu trời trong đêm Fourth Of July!
Tôi hỏi ông với hy vọng thật mong manh:
- Thế có cách nào làm khô các tia máu kia không bác sĩ?
Giọng ông chậm rãi:
- Vấn đề là không phải ở các tia máu, mà là các dây thần kinh thị giác nay đã bị đứt đoạn, vỡ ra, khi nhảy dây bà đã dùng sức quá nhiều nên các dây thần kinh đã bị tổn thương, khó mà hồi phục lại được. Chúng tôi vô cùng hối tiếc, không thể giúp gì được nữa, thành thật xin lỗi bà.
Lời của ông như cây đinh cuối cùng đóng chặt vào nắp quan tài, liệm kín tâm hồn lẫn thể xác tôi vào trong đó. Thế là xong, cái ngày tôi hằng lo sợ, hồi hộp đợi chờ thì nay đã đến. Tôi về nhà thắp nhang khấn Phật, khấn Trời, khấn ông bà tổ tiên và Ngài Quan Thế Âm Bồ Tát: “Thưa quý ngài nếu giờ khắc của con đã đến thì con xin vui lòng chấp nhận, tuy nhiên xin ngài ban cho con một trạng thái bình an, tự tại, không lo sợ, buồn phiền. Xin giúp cho con vượt qua mọi khó khăn, cho con thêm nghị lực để con duy trì mọi sinh hoạt trong đời sống. Nhất là đối với gia đình và xã hội”. Thật là lạ lùng, khi lời khấn nguyện vừa xong, tôi có cảm tưởng như mình đang bay trên mây, không còn nặng nề như trước nữa. Từ đó đến những năm tháng về sau, tôi luôn vui tươi, yêu đời không than van, phiền trách, không giận trời hay hờn đất.
Tôi sống bình thường như mọi người phụ nữ bình thường khác. Dù đôi mắt không còn nhìn thấy được gì tôi vẫn nấu ăn cho chồng, cho con, vẫn săn sóc nhà cửa, vẫn ủi áo, ủi quần. Tuy nhiên mọi việc làm phải thật cẩn thận và phải để hết tâm trí vào. Nhất là hai bàn tay, bây giờ hai bàn tay thay thế cho cặp mắt. Từ nhà bếp tới phòng tắm, vật gì ở đâu thì phải nằm yên ở đó, không được dời, đổi. Đây là qui luật của tôi bắt buộc cả chồng lẫn con phải làm y như vậy. Tôi phải kiên cường vượt qua mọi trở ngại, khó khăn không để lộ ra bên ngoài những điều chán nản, tuyệt vọng làm liên lụy đến chồng, con. Hãy cho chồng, con có cảm giác mình không phải là phế nhân, mình vẫn còn là người hữu dụng, giúp ích được cho gia đình từ tinh thần đến vật chất. Tôi vẫn giữ vai trò chính yếu là lo bao tử của cả nhà phải no đầy, cố gắng nấu những món thật ngon cho chồng, cho con trong những ngày cuối tuần. Còn việc chợ búa thì bây giờ phải giao trách nhiệm cho chàng của tôi, tội nghiệp cho anh ấy, từ nào tới giờ chợ búa, tiền bạc đều do tôi nắm giữ, lo toan, chi trả. Bây giờ giao hết cho anh, thành ra trong những ngày tháng ban đầu anh rất lộng cộng, check book thì lem luốc, số đúng, số sai, sửa tới, sửa lui. Còn việc đi chợ thì anh gặp phải vấn đề chưa nhận diện được trái nào là trái bầu, trái nào là trái bí đao, cũng như rau húng nhũi, rau húng cay, hoặc là rau tía tô với rau kinh giới anh thường hay nhầm lẫn. Khi tôi cần mua món nầy thì anh lại đem về món nọ, đôi lúc tôi phải dở khóc, dở cười… Mình đang ở trong bếp, muốn có cái món đó để nấu cho ra bữa thì lại không có, anh đã mua lầm rồi!... Tôi nói để anh phân biệt trái bầu và trái bí đao, trái bầu thì màu da nó không xanh lắm và không có lông măng như trái bí đao, còn rau húng nhũi lá không nhọn và cũng không xanh rậm rì như rau húng cay. Phần kinh giới và tía tô dĩ nhiên nó có hai màu khác nhau rồi cũng dễ phân biệt. Lúc đó anh mới biết ra là như vậy.
Cái chuyện đi chợ mua hàng mà nhiều khi cũng làm cho tôi thương mà giận, giận mà thương. Có một lần kia tôi với chàng đi chợ Senter food, nói anh lựa cho mấy con cá nục để về kho nhừ. Tôi đang đứng nơi hàng rau, anh đi tới hàng cá, lựa một chặp rồi anh bước lại nói với tôi:
- Cá nầy nó bể bụng hết trơn rồi, làm sao mua được?
Tôi hỏi:
- Bể bụng là bể bụng làm sao? Anh dắt em tới đó coi thế nào?
Chàng của tôi dắt tôi tới đó, cầm tay tôi rờ vào con cá:
- Đây nầy em thấy không! Bụng nó bể hết trơn rồi, ruột nó lòi ra nè!
Tôi cười quá chừng, thì ra chỗ cái rún con cá nơi nó bài tiết lòi ra một chút ruột chứ không phải là bể cả bụng, vì lúc trước tôi có dặn dò anh khi đi chợ nếu thấy cá bể bụng là cá ươn đừng có mua về. Vì thế nên lần nầy anh cứ tưởng rằng con cá nầy nó đã bể bụng, nên ruột mới lòi ra. Đây là một chuyện cũng khá khôi hài, đáng cười thật cho cái ông chồng của tôi. Thêm một chuyện vui nữa đây, luôn tiện kể ra để các bạn thương cho hoàn cảnh của chúng tôi, một người vợ khiếm thị và một anh chồng vụng về chuyện bếp núc, chợ búa. Một bữa nọ, tôi đang lo trong bếp, nhờ anh rửa và làm sạch con mực nang, móc mắt ra và lấy luôn cả cái miệng nó nữa. Anh đứng đó khá lâu, tìm hoài chẳng ra cái miệng, cuối cùng anh phải lên tiếng hỏi: “Anh tìm hoài đâu thấy cái miệng của nó ở đâu mà lấy ra!” Tôi chạy lại chỉ: “Đây nầy, cái miệng của nó đây nè ông già ơi! Anh ăn mực nang nhiều năm mà chẳng biết cái miệng của nó nằm ở đâu hết, thật là dở”. Thì cũng phải thôi, vì từ trước tới giờ tôi nấu nướng, rửa ráy, làm cá, làm mực, anh chàng có vô bếp đâu mà biết! Cái tính của tôi thì ít khi nhờ chồng, nhờ con lắm. Chỉ khi nào quá sức rồi, không thể làm được nữa đành phải nhờ thôi.
Chẳng hạn như cái tủ lạnh nhà tôi mua cũng đã trên hai mươi năm rồi, phần xả đá tự động bị hư, nên thỉnh thoảng nó bị đóng cả khối băng ở trong đó, lâu lâu tôi phải cạy ra để hơi lạnh được tốt hơn. Khi mắt đã không còn thấy tôi vẫn làm công việc ấy, kỳ nầy nó đóng đá cứng quá lại nhiều nữa thành ra tôi một tay rờ, một tay cầm dao chặt xuống để cố làm sao cho nó bể ra từng mảnh nhỏ mà không bị phạm. Tay trái rờ đá quá tê, lạnh cóng, tay phải cầm dao thản nhiên chặt vào. Tôi chặt vào ngón tay của mình mà tôi không hay biết, vì cái lạnh đã làm mất đi cảm giác. Đúng lúc bà bạn tới chơi, bà thấy tôi đang lui cui chặt nước đá và màu đỏ của máu dính tèm lem trong bàn tay tôi lẫn với các cục nước đá kia. Bà hoảng hốt la lên: “Trời ơi, chị bị đứt tay rồi mà không biết, cứ chặt hoài, chết rồi, đi rửa tay đi!” Tôi vội vàng đưa bàn tay mình vào vòi nước ấm, cái lạnh từ từ giảm bớt. Lúc đó tôi mới cảm thấy đau, rát mấy ngón tay bị đứt da, đứt thịt của mình. Tai nạn đổ máu xảy ra chỉ một lần thôi, còn tai nạn khác thì nhiều vô số kể. Lần nầy thì không đổ máu mà lại đổ dầu, dầu ăn, khiến mình phải lau dọn bằng xà bông, cực ơi là cực. Số là khi tôi chiên chả giò, lượng dầu còn dư gần nửa chảo tôi để qua ngày sau, chờ lớp cặn lắng xuống tôi đổ vào keo để dành lần sau dùng một lần nữa rồi mới bỏ. Cái keo mình đã rửa sạch úp sẵn trong sink, đến khi cần lấy ra, tôi nhớ rõ ràng khi mình úp thì đã úp miệng keo xuống để nước nó chảy ra hết, nhưng không biết ai lật ngược lên, thế là tôi lại lật trở lại đổ dầu vào. Té ra là mình không đổ vào trong keo mà đổ lên trên cái đáy keo, thành ra số dầu tuôn chảy tràn lan khắp trên counter, lại một phen dọn rửa, lau chùi thật là cực nhọc. Đây là cái sơ ý của mình, đó cũng là một bài học về sau cho tôi mỗi khi cầm cái ly, cái keo hay cái hủ đều phải biết chắc chắn rõ ràng cái nào là đáy, cái nào là cái miệng. Thế mới an toàn phải không các bạn?
Chuyện nội trợ xin gát lại ở đây, sẽ tiếp tục sau nầy với nhiều điều “Cười ra nước mắt”. Bây giờ tôi xin mời quý vị theo dõi lớp học vỡ lòng của cháu Trương Nguyễn Trà Mi của chúng tôi như thế nào nhé! Mùa hè năm đó trôi qua thật nhanh, con tôi giờ đây phải đi học lớp mẫu giáo tại trường Meadows Elementary School, từ nhà đến trường chỉ băng qua một con đường, đi thêm năm mươi mét nữa là vô lớp. Thế mà tôi cũng không đưa con đi học được. Tuổi thơ của con tôi ngày đầu tiên đi học không đẹp đẽ như trong sách Giáo Khoa Thư và cũng không đầm ấm, vui tươi và hạnh phúc trong cảnh mẹ nắm tay con dắt đi trên đường quê giữa buổi sớm tinh sương trong ngày khai trường như nhà văn Thanh Tịnh đã viết. Thật là một điều bất hạnh cho con gái tôi có mẹ cũng như không và cũng là nỗi đau đớn đã hằn sâu trong tâm khảm tôi từ ngày đó.
Buổi học đầu tiên chàng của tôi phải xin nghỉ sở vào giờ ăn lunch thêm nửa giờ để chạy về rước con. Và cứ như thế chàng chạy về, chạy đi trong suốt năm học của Trà Mi. Còn lúc dẫn đi học thì phải nhờ cô em dâu. Vì giờ giấc cho các em học trò mẫu giáo chỉ học nửa buổi, từ chín giờ sáng tới mười hai giờ trưa, giờ giấc tréo cẳng ngỗng như vậy nên cũng làm khó khăn cho cha mẹ không ít. Hết năm mẫu giáo, cháu lên lớp một, buổi sáng tôi lo ăn uống cho cháu rồi đưa cháu ra cổng đi theo chân các đám con em học sinh bên đường. Đến buổi chiều tan trường, tôi ngồi đợi sẵn trong hiên nhà và đã dặn dò cháu khi về đến gần hàng rào phải hát một bài hát quen thuộc nào đó để mẹ nhận ra giọng của con, mẹ mới dám mở cửa cổng. Ngày qua ngày, tháng qua tháng tôi đưa con tôi đi học bằng cách đó và đón con về bằng cách nầy. Bao nhiêu nỗi đau, niềm cay đắng, tâm sự thầm kín trong lòng tôi tràn ra như nước vỡ bờ qua bài thơ "Nỗi Lòng Của Mẹ" mà mỗi khi đọc, chồng, con tôi đều mũi lòng xúc động, bài thơ đó như sau:
Lời nầy mẹ viết cho con
Mai sau khôn lớn, sắt son giữ gìn
Thời gian phai nhạt bóng hình
Nhưng không xóa được mối tình thiêng liêng
Thương con trong trắng, ngoan hiền
Vô tư tuổi ngọc, ưu phiền chưa mang
Ôm con lòng mẹ nát tan
Buồn cho thân phận ngổn ngang lệ nhòa
Tại sao mẹ phải mù lòa
Để con phải mất tuổi hoa cuộc đời
Từng miếng ăn, từng cái chơi
Mẹ không chu đáo như thời anh con
Mẹ đây lòng những héo hon
Đêm đêm thao thức no tròn đắng cay
Mẹ hôn môi mắt chân tay
Nâng niu trìu mến hình hài con thơ
Long lanh ngấn lệ hoen mờ
Tình thâm ấp ủ giấc mơ tuổi hồng
Con ơi thấu hiểu hay không?
Giả vờ chẳng chút đau lòng vì con
Gượng cười mẹ hát véo von
Cùng con đùa giỡn như còn bình yên
Thật ra mẹ giấu ưu phiền
Cho con sống trọn tuổi hiền thơ ngây
Một mình mẹ chịu đắng cay
Kiên cường khỏa lấp tháng ngày khổ đau
Cho con đẹp giấc chiêm bao
Bơi trong suối mát ngọt ngào tình thương
Mắt sầu đọng lệ đêm sương
Ngày con cắp sách tới trường đầu tiên
Một mình ngồi đợi trước hiên
Chờ con tan học hồn nhiên về nhà
Huyên thuyên giọng nói ngọc ngà
Mẹ đau như cắt xót xa tấc lòng
Cớ sao có mắt như không
Để con phải chịu long đong buổi đầu
Trời cao không phép nhiệm mầu
Vì con mẹ ráng qua cầu đắng cay
Mong con tươi sáng tương lai
Mẹ đây cam chịu những ngày tối tăm!
Vâng, dù cuộc sống tối tăm tôi vẫn tiếp tục giữ vai trò người vợ và người mẹ đối với gia đình, xã hội và để ý về thời sự, chính trị. Với gia đình hằng ngày tôi sửa soạn từng bữa cơm, vợ chồng con cái ngồi vào bàn ăn, chuyện vui, chuyện buồn hay những nan đề nào cũng được đem ra bàn thảo, mổ xẻ. Vấn đề của tôi cứ phải nhắc đi, nhắc lại là các món gia vị trong bếp, mắm muối, tiêu đường không để lộn chỗ được. Tuy nhiên nói thì nói vậy chớ chàng của tôi đã lớn tuổi rồi nên có tính hay quên. Có một sáng nọ, tôi dậy sớm hay pha cà phê uống, đáng lẽ lấy đường bỏ vào ly, nào ngờ tối hôm trước chàng rửa chén, lau chùi bếp núc, dọn dẹp đồ đạc. Anh ấy dời hủ muối qua hủ đường, tôi làm xong ly cà phê phin lấy nuối bỏ vô mà cứ tưởng lấy đường, đang khát nước, đưa lên miệng uống một hơi cho đã, nào ngờ mặn chát, mặn chằng, tôi phun ra thật lẹ trong bụng đang lầm bầm chửi thầm.
Ở đời cái lầm hình như không buông tha ai! Đâu phải một lần lầm, mà nhiều khi đến hàng tá cái lầm lận. Tôi lầm bỏ muối vô cà phê, mấy tháng sau lại bỏ lầm bột ngọt vô cà phê nữa. Tuy nhiên những cái lầm nầy không đáng sợ, nhỏ xíu hà. Còn có những cái lầm to lớn khác, nguy hiểm khác, nhiều khi kéo dài sự đau khổ đến hết kiếp người. Nhất là lầm về tình cảm như bài hát “Lầm” của Nhạc sĩ Lam Phương. Còn lầm về chính trị thì rất nguy hiểm, đôi khi mất cả giang sơn và mạng sống.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét