Chương Mười Lăm
NỖI ĐAU MẤT MẸ
Nhờ chuyến về Việt Nam mấy năm trước nên tôi mới biết được đời sống của người dân đa phần là nghèo nàn, cơ cực. Nghĩ lại thì càng thấy thương cha mẹ, chị em hơn, tôi như người lạc hồn lạc phách cứ nghe văng vẳng bên tai lời nói của họ. Niềm vui trùng phùng thoáng chốc trở thành nỗi nhớ thương trong sinh hoạt hằng ngày. Tôi phải cố tìm quên trong các sáng tác thơ, văn. Gởi bài đăng trên các báo địa phương, trong các quyển đặc san của các Lực Lượng hay các Phong Trào Đấu Tranh và đóng góp bài vở in chung trong các Tuyển Tập cùng các văn, thi hữu khác. Nhất là gia nhập hội Văn Học Nghệ Thuật Thi Văn Đàn Lạc Việt do nhà thơ Dương Huệ Anh chủ xướng.
Đầu thập niên 1990 chương trình H.O. được chính phủ Hoa Kỳ bảo trợ lần lượt đến Mỹ. Vì vậy Khu Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị tại Bắc California được thành lập rất sớm để tạo điều kiện cho các anh em H.O. có nơi tụ họp sinh hoạt với nhau. Quan trọng hơn hết là có chỗ để thờ phượng các anh hùng tử sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến vừa qua cùng các đồng bào đã bỏ mình trên con đường vượt biên, vượt biển tìm tự do và cơ chế Cộng Đồng được thành hình qua cuộc bầu phiếu của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản tại miền Bắc Cali. Nhiệm kỳ đầu tiên Tiến sĩ Đỗ Hùng được bầu chọn làm Chủ Tịch Ban Chấp Hành và Liên Hội Người Việt Quốc Gia xuất hiện qua các chương trình Hội Chợ Tết rất qui mô, lôi cuốn hàng chục ngàn người dân mất nước tham dự trong những dịp xuân về. Nhìn vào sự việc nầy tôi có mấy vần thơ như sau:
Chương trình nhân đạo “Hát-Ô” sang
Khu Hội lập ra cũng rộn ràng
Cơ chế Cộng Đồng bầu đại diện
Giúp người mới đến đỡ hoang mang
………………
Sinh hoạt cộng đồng thêm khởi sắc
Hội hè, hội Tết càng đông vui!
Quán ăn, nhà cửa mọc như nấm
Phố nhỏ giờ đây lại lắm người
……………………
Có lẽ Hội Phụ Nữ Việt Nam Hải Ngoại là một hội có mặt sớm nhất từ năm 1980 do cụ bà Phạm Trương làm Hội trưởng và tiếp theo sau đó các hội ái hữu và lực lượng đấu tranh lần lượt được thành lập. Bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào có tụ họp, có đông người là có sự mâu thuẫn. Ban đầu là tranh luận, kế đến là tranh cải, cuối cùng là tranh giành. Tranh giành ảnh hưởng, tranh giành quyền lợi và tranh giành tên tuổi, chức vụ cá nhân. Điều đáng hoan nghênh là tranh giành đất đứng cho người dân tị nạn qua các cuộc biểu tình. Họ chống đối các phái đoàn Cộng Sản mở hội chợ Việt Expo, triển lãm tranh ảnh Hồ Chí Minh tại Bảo Tàng Viện Oakland và giới thiệu văn hóa múa rối nước cùng các cuộc thuyết trình của các doanh gia Mỹ với bọn Việt Cộng đều bị người Việt tị nạn tẩy chay và chống đối mãnh liệt.
Lúc ấy tôi chưa xuất hiện hòa nhập vào dòng người tranh đấu nhưng âm thầm ủng hộ từ vật chất lẫn tinh thần. Tinh thần là những bài thơ đấu tranh nung đúc ý chí quật cường của những người yêu nước qua bài "Tóc Thơ" như sau:
Tôi là người khiếm thị
Viết những vần thơ đen
Nhưng chữ nghĩa không hèn
Cho người mất nước đọc
Thơ tôi nằm lăn lóc
Trằn trọc suốt canh trường
Từng cọng gầy trơ xương
Mang nỗi hờn vong quốc
Thơ tôi là sợi tóc
Bay lộng giữa trời buồn
Nhìn xuống thấy quê hương
Đau nỗi đau dân tộc
Thơ tôi là sợi tóc
Nuôi bằng máu Việt Nam
Chảy suốt bốn ngàn năm
Nấu nung lòng ái quốc
Nầy anh Nam, chị Bắc!
Hãy nối kết niềm tin
Gương sáng tự trau mình
Cùng đứng lên tranh đấu
Thơ tôi từ bóng tối
Vượt qua khỏi đêm đen
Thắp sáng những ngọn đèn
Soi lương tâm nhân loại
Từ bút cùn mòn mỏi
Từ nét chữ nghiêng nghiêng
Như bóng dáng mẹ hiền
Chờ con hồn hoang dại
Gió chiều vừa thổi lại
Tóc trắng mẹ bay bay
Phủ lên trọn hình hài
Nước Việt Nam tang tóc!
Thơ tôi ngồi bật khóc
Chữ nghĩa bỗng lạnh căm
Ai dòng máu Tiên Rồng
Hãy mau mau cứu nước …
Những năm tháng đó tôi đang tranh đấu cho nỗi đau chung của dân tộc, nhưng cái đau của riêng mình đâu ai biết! Má tôi mang bệnh tiểu đường đã nhiều năm, hằng ngày bà thường dắt đứa cháu nội trai Nguyễn Mạnh Cường đi học, bà vấp phải hòn đá bên đường và ngón chân cái làm độc suốt mấy tháng trời không chữa lành được. Trái lại còn ăn len lên tới ống quyển, bà nhức nhối suốt ngày đêm, chị Phụng phải đưa vào bệnh viện để tìm cách chữa trị. Các bác sĩ quyết định phải cắt bỏ một khúc chân. Thoạt đầu má tôi không đồng ý, nhưng qua những lời khuyên lơn của con cháu và sự giải thích nên cuối cùng má tôi đã chấp nhận. Các bác sĩ của bệnh viện thật là dở và vô lương tâm. Người già như má tôi đã bảy mươi mấy tuổi rồi mà họ cắt chân người giống như cắt một khúc cây, khúc gỗ. Lần thứ nhất họ cưa chân bà gần tới giữa phần xương ống quyển, lần thứ hai cắt trên đầu gối một chút. Sau sáu tiếng đồng hồ má tôi tỉnh lại và hồi quang phản chiếu. Bà tỉnh táo lạ thường, đòi ăn món nầy, món kia. Chị Phụng mừng lắm nhưng ba tôi bảo hãy chuẩn bị lo hậu sự cho bà. Quả đúng như tiên đoán bà lặng lẽ thiếp đi và không bao giờ tỉnh lại được nữa. Sau hai đợt cưa chân chỉ trong mấy ngày, sự làm việc vô trách nhiệm, thiếu đạo đức và không chuyên nghiệp của đám bác sĩ nầy trong ca mổ của má tôi đã nói lên mạng sống của con người rẻ mạc, không có chút giá trị nào.
Anh chị em tôi ai cũng về lo tang chế cho người mẹ yêu quý, riêng tôi vì hoàn cảnh cá biệt, đành mang tội bất hiếu không về được. Đành ở lại xứ người với trăm thương, ngàn nhớ, với nỗi đớn đau cùng tận. Dối gạt với chính mình rằng, người mẹ thương yêu của mình vẫn còn sống và tôi chỉ có thể thấy bà trong giấc ngủ mà thôi. Bài thơ"Chưa Lần Mất Mẹ" sẽ nói lên điều đó:
Con thay mặt tám đứa con của má
Trải lòng ra bày tỏ nỗi đớn đau
Kiếp phù sinh sao lại chóng qua mau
Giờ vĩnh biệt má đi vào thiên cổ
Con ấm ức không về bên cạnh mộ
Để cùng nhau quỳ lạy trước hương linh
Mặc áo tang như sáu anh, chị, em mình
Và một đứa trong vô hình ngồi khóc
Đời của má qua nhanh như cơn lốc
Hưởng được gì ơn mưa móc thế gian
Đưa đôi vai gánh vác nỗi cơ hàn
Thời xuân sắc qua ngàn cơn giông tố
Con nhớ mãi nơi ngôi nhà sàn gỗ
Đứng phơi mình bên cạnh cội bằng lăng
Mỗi chiều về đôi mắt trẻ băn khoăn
Chờ bóng má hiện dần nơi đầu ngõ
Chân bước nhanh, ngọn đèn dầu đã tỏ
Buổi cơm chiều đã có bữa ăn no
Tám đứa con thân thể cứ lớn dần
Mà thân má thêm phần nhỏ lại
Hôm nay đây mình con nơi hải ngoại
Lắng lòng đau trăm lạy đấng mẫu từ
Nước mắt nầy đâu rửa sạch ưu tư
Con tự nghĩ “mình là con bất hiếu!”
Mẹ yêu hỡi con cúi đầu nhận chịu
Nếu má buồn xin thấu hiểu giùm cho
Đời biển dâu con đã lỡ chuyến đò
Không đưa tiển má vào nơi cõi phúc
Đã hết rồi những tháng ngày hạnh phúc
Chỉ còn mong gặp má lúc chiêm bao
Để lòng con vơi bớt nỗi đớn đau
Và cảm tưởng: “Chưa lần nào mất mẹ!”
Có đôi lúc trốn chạy cái sự thật não nề, đau đớn, đành dối gạt với chính mình chuyện ấy chưa hề xảy ra, điều nầy cũng làm cho ta vơi bớt phần nào bi lụy, thương tâm. Dù tôi không về được nhưng cũng phải thọ tang cho mẹ mình. Chờ các anh em lo xong mọi việc bên nhà, khi họ trở lại Mỹ tôi tổ chức một buổi cúng cầu siêu cho má tại chùa An Lạc và thông báo đến các bà con, họ hàng gần xa cái tin chẳng lành ấy. Suốt đoạn đường má tôi đã đi qua vui ít, buồn nhiều. Cha mất sớm, một mình phải nuôi mẹ, nuôi em, lớn lên lấy chồng sanh tám đứa con. Thời chiến tranh người đàn bà lúc nào cũng cực khổ nhất, lặn lội thân cò, dầm mưa dãi nắng, tần tảo nuôi con. Ba tôi là cháu đích tôn, là công tử thị thành đem lòng yêu thương má tôi là thôn nữ quê mùa, rẫy nương, hàng ngày gánh rau lên chợ bán để nuôi mẹ, nuôi em.
Gia đình bên nội tôi có quyền, có thế lại có tiền có của nên rất là bảo thủ và đã không đồng ý cho cuộc hôn nhân nầy. Ba tôi tranh đấu quyết liệt, dọa rằng: “Nếu không cưới được má tôi, ông sẽ bỏ đảo mà đi theo ghe bầu lưu lạc khắp nơi, không bao giờ trở về xứ nữa.” Sợ mất đứa cháu nội đích tôn nên cuối cùng bên nội tôi đồng ý cho ba cưới má. Cưới vợ xong, ông khăn gói theo vợ về quê, cầm cuốc, cầm rựa, khai khẩn đất hoang, trồng tiêu, trồng cải. Dáng dấp của công tử thị thành da trắng, mũi cao nay đã trở thành chàng thanh niên rắn rỏi với màu da sạm nắng. Đem mồ hôi tưới xuống ruộng nương, cây cỏ sớm đơm hoa, kết trái để người vợ hiền mang lên chợ bán kiếm tiền về mua gạo, mua cơm nuôi những đứa con thơ dại.
Thời đó người đàn bà có đôi bàn chân sắt, họ không biết mỏi mệt, không cần nghỉ ngơi. Lúc nào trên vai của họ cũng là đôi gióng gánh, gánh những thứ hàng nông phẩm lên chợ bán rồi sau đó gánh những thứ nhu yếu phẩm về để nuôi gia đình. Má tôi ở nhà quê, ngày đó chưa có đồng hồ, người nông dân tính thời gian qua tiếng gà gáy. Có nhiều đêm trăng sáng, đám gà lẫn lộn cũng làm chuyện sai lầm, cứ gáy bừa lên khiến má tôi phải choàng dậy, rửa mặt, súc miệng rồi lẹ làng đặt đôi gánh lên vai bước chân ra đi giữa đêm khuya khoắt. Khi đi ngang qua nghĩa địa, má tôi lại thấy có người phụ nữ cũng gánh một gánh hàng giống như bà. Trên đầu đội một chiếc nón lá che sương. Má nghĩ rằng đây là chị em trong xóm cũng gánh hàng ra chợ bán như bà nên má gọi nhưng chị ta cứ lầm lũi đi. Má đi theo người đàn bà ấy một chặp, bỗng dưng bóng hình bà ta mất dạng, má tôi sợ quá, bây giờ chỉ còn một thân một mình giữa đêm khuya. Ánh trăng lờ mờ, lúc tỏ, lúc lu, vầng mây đen bị gió thổi về một phía. Bây giờ má tôi mới nhận diện rõ ràng chung quanh đây toàn là những ngôi mộ bằng đất, hàng hàng, lớp lớp, nằm ngang, nằm dọc. Má tôi cảm thấy toàn thân nổi gai ốc, hai chân quíu lại không bước được nữa. Bà ngồi xuống quăng gióng gánh qua một bên, lấy tấm ny-lông ra trải dài trên đất, bà đặt lưng nằm xuống, kéo chiếc nón lá úp lên mặt để tránh cơn sợ hãi. Bà đoán chừng giờ nầy trời chưa hừng sáng, chỉ vì trời sáng trăng mà mấy con gà nó báo hại bà phải đi giữa đêm khuya như thế nầy rồi bị ma dẫn vào nghĩa địa. Bà nằm đó âm thầm niệm Phật rồi thiếp đi lúc nào không biết, đến khi nghe tiếng ơi ới của các chị em bạn hàng má mới giật mình thức dậy và lúc đó trời cũng vừa tờ mờ sáng. Má vội vã đặt gánh hàng lên vai vừa gánh vừa chạy vượt qua khu nghĩa địa để theo cho kịp các chị em bạn hàng kia. Đó là một câu chuyện đời của má, khi còn nhỏ tôi đã nghe má kể lại như thế.
Những câu chuyện kể của các bà mẹ Việt Nam hầu hết đều giống nhau, nói lên sự gian nan, khổ cực, sức chịu đựng và đức hy sinh. Dùng cả tính mạng mình để đổi lại sự an bình, no ấm cho con cái. Mỗi bà mẹ Việt Nam là mỗi kỳ quan trong lòng những đứa con của họ. Bởi vì họ chịu biết bao nhiêu phong ba bão táp từ trong gia đình lẫn ngoài xã hội. Thời phong kiến nạn mẹ chồng, em dâu và trai năm thê bảy thiếp, sự áp bức, uất ức, hờn ghen và tủi nhục đã làm mất đi tính quật cường, tinh thần đối kháng, chỉ còn lại trong lòng người đàn bà là tình yêu thương giành hết cho đàn con. Vì nghĩ rằng chúng là nguồn an ủi, là điểm tựa, là bầu bạn thân thiết nhất nên bà mẹ nào cũng có thể hy sinh bảo vệ và chết sống vì con, cho con, má tôi cũng không ngoài trường hợp đó.
Mùa hè là mùa mưa, ở những ngày tháng đó má tôi không có hàng nông phẩm mang lên chợ, thì má lại mua hàng nhu yếu phẩm như: muối, gạo, mắm, đường đem bán cho các thôn xóm ở xa. Khi đi thì trời tạnh ráo, hơn nửa ngày thì trời lại đổ mưa giông càng lúc càng lớn. Ánh sáng mặt trời đã bị màn mây mưa che khuất. Đường rừng càng lúc càng âm u, tiếng mưa rào rào qua kẽ lá, gió thổi ào ào, cây cối ngả nghiêng gãy cành rớt xuống. Nước từ trên ngàn chảy mạnh trôi luôn chiếc cầu bắc ngang làm nghẽn lối về. Một thân, một mình bà vô cùng kinh sợ, biết làm sao để về với đàn con thơ dại đang trông ngóng? Trời càng lúc càng tối, chiếc áo mưa không đủ ấm để che thân, suốt ngày gồng gánh, thân thể mệt nhừ, bụng lại cồn cào. Bà cảm thấy sức lực đã không còn, nhưng khi nghĩ đến các con đang chờ cơm ở nhà, bà bỗng trở nên can đảm quyết định lội qua dòng suối nầy. Tất cả gióng gánh bà dồn chung thành một, cặp sát vào vai, lội xuống con suối. Không ngờ con suối quá sâu mà dòng nước thì đang chảy xiết, chiếc thúng chìm vào nước tạo thêm trọng lực kéo bà trì xuống, nước tràn vào miệng, vào mũi. Trong giây phút bà sực nhớ phải tuột bỏ gióng thúng mới cứu sinh mạng mình được. Chân tay quờ quạng, vùng vẫy trong nước, chiếc thúng trôi xa và bà cũng trôi theo. Trong lúc gần kề cái chết, một nhánh cây khô khá to đang trôi theo dòng nước, bà lẹ làng nhoài người tới ôm chặt nhánh cây, mặc tình dòng suối đang cuồn cuộn chảy, bà và nhánh cây có chung số phận. Bà đang nghĩ tới chồng, tới con, lỡ mà bà chết thì chồng con nào biết được thân xác bà ở đâu để tìm về. Bà càng nghĩ thì càng sợ, càng thương cảm nên khóc nhiều hơn. Vị mặn của nước mắt bà hòa tan vào dòng suối ngọt của cơn mưa rừng đã động tới đấng thiêng liêng. Thình lình một tàng cây lớn ngả xuống chận ngang con suối nên nhánh cây bà đang ôm chặt đã bị vướng vào, chận lại. Má tôi thoát chết, bám vào tàng cây mò mẫm lên bờ.
Bà về tới nhà cũng đã hơn tám giờ tối, đám con nheo nhóc thấy mẹ về đều mừng rỡ, reo vui. Má tôi đã mất hết tiền bạc, hàng hóa, gióng gánh. Cái còn của bà là các đứa con đang đứng trước mặt và cái còn của chúng tôi là người mẹ đã thoát chết trở về. Nhưng hôm nay thì làm sao được, má tôi đã thật sự vĩnh viễn ra đi trong lúc anh chị em tôi đang trở về. Về để thấy nỗi đau càng gần, càng lớn, về để vong linh bà được ấm áp, không còn lạnh lẽo giống như cơn mưa chiều năm đó. Riêng chỉ có tôi một mình ở đây gặm nhấm cái đớn đau, ray rứt, đứt ruột, đứt gan khi ngày tang của mẹ mà không về được. Sau khi mẹ mất, những ngày lễ mẹ, những ngày Lễ Vu Lan tôi không dám mở radio lên để nghe các chương trình tặng nhạc cho các bậc hiền mẫu. Người ta còn mẹ để tặng, tôi đã mất mẹ rồi, biết tặng ai đây? Thôi thì tặng cho chính mình với một bài thơ Nỗi Đau Mất Mẹ:
Bốn mươi năm tuổi đời
Mới nếm vị mồ côi
Thật sao mà chát, đắng
Nuốt mãi vẫn không trôi
Cứ vướng ngang cổ họng
Lắm lúc chạy xuống tim
Làm tim co thắt lại
Đau đớn tợ luồn kim
Ai vẽ lằn ranh giới
Chia hai cõi tử sinh
Làm cho ta mất mẹ
Làm đau đớn tâm linh
Không còn là điểm tựa
Không còn bến bình yên
Đời phong ba, bão táp
Vì đã mất mẹ hiền
Chỉ còn mong gặp lại
Trong những lúc chiêm bao
Má ơi, con nhớ má
Lòng thổn thức, nghẹn ngào…
Tôi ăn chay bốn mươi chín ngày để thành tâm cầu nguyện cho vong linh của má được sớm siêu thoát, dù ở cảnh nào cũng vậy, mong cuộc đời của má sẽ được thanh nhàn, an lạc. Những cuộc vui tôi tạm dừng lại, giữ hồn thật thanh tịnh, không xôn xao, giao động. Cho dù là như thế, nhưng mỗi khi nhớ đến má lòng tôi không khỏi ngậm ngùi, thương tiếc. Tôi chợt nhớ lúc bà còn đang sống, lúc ấy mắt tôi chưa hoàn toàn tối tăm, chỉ sợ khi hay tin má mất, tôi lại khóc nhiều sẽ đưa đến tình trạng mù lòa. Nghe thế má liền đưa ra một giải pháp, nếu thật sự ngày ấy có đến: “Để tránh tai họa kia con phải nghĩ đến những gì mà má đã từng làm cho con buồn, làm cho con phiền lòng thì sẽ giảm bớt sự đau đớn, tiếc thương. Như thế mắt con sẽ không bị ảnh hưởng lắm đâu!” Bây giờ tôi ngồi nhớ lại lời má nói, nhưng tìm hoài không ra những điều gì má đã làm cho tôi không vui, chỉ có tôi, chỉ có những đứa con thường xuyên làm phật ý mẹ cha bằng một hành động vô tình hay một lời nói vô tư nào đó! Hằng đêm trước khi ngủ tôi đều lâm râm khấn nguyện, cầu cho cha mẹ sống lâu. Cầu cho thế giới hòa bình, cầu cho gia đình bình yên, tai qua nạn khỏi, đó là thói quen của tôi. Hôm nay góp thêm một lời cầu xin nữa, nếu có thể, kiếp sau tôi muốn đầu thai làm con của má nữa, để tình nghĩa mẹ con được tiếp tục, để tôi có cơ hội trả hết nghĩa ân.
Nói đến sự can đảm của má tôi, chắc ít ai bằng được. Vì bà đã từng một thân, một mình đi giữa đêm khuya với cây đuốc trong tay lập lòe trước gió, giữa con đường rừng ngoằn ngoèo, dốc thấp, dốc cao. Trên đôi vai kẽo kẹt, hai chân bà bước thật nhanh cho kịp buổi chợ mai. Lúc ấy tôi mới bảy, tám tuổi, hôm nào được má cho đi chợ thì trong lòng rất vui mừng, sung sướng. Buổi tối đó sẽ không ngủ được, sẵn sàng bộ đồ mới xếp gọn gàng để trên đầu giường. Hễ nghe tiếng gà gáy canh tư, canh năm thì hai mẹ con ngồi bật dậy, ra sau nhà múc nước rửa mặt, đánh răng. Đôi chân nhỏ xíu của tôi mang đôi dép kẹp lẽo đẽo đi sau má rồi lại sợ ma vì hai bên đường tối đen như mực. Tôi cố gắng chạy thật nhanh để đi lên phía trước, nhưng một hồi rồi lại cũng tụột về phía sau. Đôi chân của tôi vừa nhỏ, vừa ngắn, bước chân của má vừa dài lại nhanh. Cứ như thế tôi ráng hết sức, mãi đến khi nghe má nói: “Tới rồi, sắp tới rồi con ơi! Chợ ở đằng kia kìa!” Là lúc ấy tôi bước nhanh hơn, vui mừng, hớn hở vì biết rằng sau buổi chợ má bán hết hàng, má sẽ cho tôi ăn một cái bánh bao và uống một ly sữa nóng ngon ơi là ngon!
Vì nhà đông con nên má phải xoay tua, hôm nay dắt đứa nầy lên chợ, hôm sau dắt đứa kia lên chợ để có sự công bằng. Anh hai Long là đứa con đầu, mọi việc nặng nề, khó khăn má đều giao cho anh hết. Nghe má nói khi sanh đứa con thứ sáu, việc ở cữ săn sóc lo cho má đều do một tay anh tôi lo. Cơm ngày ba bữa, than lửa ba lần, sau khi má ăn xong phải có mấy cục than hồng để hơ em bé và hơ chính thân thể bà nữa. Anh tôi trút mấy cục than vô hết trong lò, quăng đại miếng thiếc đựng than còn đang nóng hổi, tôi lúc đó là con bé mới lên ba, lẽo đẽo đi theo đòi gặp má, muốn má ẵm, má bồng. Đâu biết rằng miếng thiếc đó nóng nên đã dẫm hai bàn chân bé bỏng lên. Thế là anh tôi bị một trận đòn và hai chân tôi phồng lên như cái bánh phồng mới nướng. Tôi là con bé sinh ra ở nhà quê mà học đòi làm công chúa. Nghe nói đất quê dính liền với cuộc đời của người nhà quê mà tôi lại sợ đất. Ngày tôi còn bé, thân hình mủm mỉm, tay chân trắng hồng, cứ đeo theo đòi anh ẵm suốt ngày. Mỗi khi anh chơi đánh đáo, đánh đu, buông tôi xuống thì tôi rút hai chân lên không dám đụng đất. Một tay anh nách tôi bên hông còn một tay thì chơi với bạn. Má tôi nằm cữ một tháng rồi lại phải chỗi dậy để lo làm ăn tiếp tục. Ở dưới quê bất cứ có cái gì là lạ cũng đem lên chợ bán được cả. Nghe má kể có một đêm kia đang ngủ chợt nghe tiếng gà kêu quang quác sau hè. Má cầm cây đèn bão ra xem thì thấy một con trăn lớn hơn bắp tay đang quấn chặt một con gà. Bà lẹ làng đưa chân mình vô chuồng chọt, chọt cái đầu con trăn để nó buông con gà ra rồi sẽ quấn vào chân của bà. Thật đúng vậy, con trăn cuộn mấy vòng lên tới bắp vế, má tôi rút chân ra khỏi chuồng gà rồi dùng hai tay nắm chặt cổ con trăn tháo gỡ từng vòng, từng vòng. Cuối cùng con trăn chui vào giỏ, sáng hôm sau bà xách lên chợ bán. Thế là hôm ấy má tôi tha hồ mua các thứ bánh, kẹo, xôi, chè về cho các con.
Cửa Lấp cách chợ Dương Đông đúng ba cây số, vì gần biển nên các sườn núi, triền đồi cũng có đồng sim, tới mùa sim chín, má tôi một thân, một mình càn vô lục sục hái trái đem về chợ bán. Những trái sim no tròn, nhung tơ màu tím sẫm, ăn thật ngọt, thật ngon, vì mỗi năm chỉ có một mùa sim nên con nít, người lớn ai cũng thích ăn. Má tôi bán đong bằng tô, bao nhiêu thúng gánh về chợ cũng bán hết sạch. Sim ở Cửa Lấp đã hết nên má tôi đi xa hơn qua tới bãi Giồng cách Cửa Lấp khoảng mười cây số. Lúc ấy má đang mang thai đứa con thứ bảy, vì cứ vói cao cố kéo ngọn sim xuống nên má đã bị băng huyết giữa rừng hoang. Ai giúp đỡ được đây, má cố gắng đi bộ về nhà và tối hôm đó má đã hạ sinh thằng em trai thứ bảy của tôi chỉ mới hơn sáu tháng mà thôi. Nó nhỏ như con khỉ con, da mặt nhăn nheo, ruột gan cồm cộm dưới làn da bụng mỏng manh thấy rõ các bộ phận. Nuôi một đứa con sanh thiếu tháng thật là vất vả, cực nhọc, lúc nào cũng cặp bên mình của nó hai chai nước ấm để giữ nhiệt độ như đang còn trong bụng mẹ. Thế mà một năm sau nó bình thường như trẻ con sanh đúng ngày, đúng tháng, nếu không muốn nói nó có phần khôn ngoan, tinh ranh hơn nữa.
Xin được nhắc lại ở đoạn nầy, khi anh Hai tôi cùng chị Tuyết Hòa vượt biên bị bể, anh trốn chui, trốn nhủi về Sàigòn ở chung với má. Ban đêm phải nằm trên mái nhà đề phòng tránh bọn công an xét nhà bất tử, rủi bắt gặp thì khổ cả mẹ lẫn con. Má tôi là người buôn bán, đi nhiều biết nhiều, tình cờ quen một người mối lái chuyên lo về chuyện vượt biên. Họ biết anh tôi là người Phú Quốc, đề nghị trả cho mấy cây vàng để anh tôi làm tài công lái tàu ra biển đưa người tìm đến bến bờ tự do. Thật tình mà nói, anh tôi chỉ làm lính, sau năm 1975 anh làm nghề buôn gỗ đi theo ghe chở hàng từ An Thới về Rạch Giá và ngược lại. Chớ anh đâu biết làm tài công bao giờ, biết thế nên anh mới nghĩ đến thằng em thứ bảy nầy, liền gọi nó từ Phú Quốc vô. Lúc ấy nó mới mười bảy tuổi, khi miền Nam đổi chủ, đời sống quá cơ cực, nó chẳng tha thiết đến việc học hành. Bỏ trường đi biển làm nghề đánh cá để mong có được cơ hội vượt biên. Vì thế nó cũng biết sơ sơ về công việc lái tàu, cũng biết nhìn trăng, nhìn sao, nhìn sóng to gió lớn mà lượng định được tình hình.
Thế là em tôi cấp tốc lên Sàigòn hợp tác với người anh lèo lái đưa người ra hải phận quốc tế. Tàu chưa tới nơi đã bị tàu quốc doanh bắn rượt theo. Vì sinh mạng mấy chục người trên tàu nên hai anh em đành ngưng chạy, chờ đợi tàu quốc doanh cập vào. Họ nhảy qua tàu vượt biên lục soát tất cả, lột sạch hết nữ trang không chừa thứ gì hết. Bà con trên tàu van xin: “Mấy ông muốn thứ gì thì cứ lấy hết đi, xin làm ơn cho chúng tôi đi! Bắt chúng tôi vào bến mấy ông cũng chẳng có lợi lạc gì. Khi vào bến chúng tôi bị ở tù, chúng tôi khai tàu của các ông cướp giật tài sản của chúng tôi thì lúc ấy các ông cũng chẳng được yên thân đâu!” Bọn quốc doanh là người miền Nam, thời đó chán ngấy nhóm người miền Bắc, nên cảm thấy lời nói của đám người nầy rất hữu lý, vì thế họ cho đi, không kéo tàu vào bến. Khi tàu quốc doanh sắp rời khỏi tàu vượt biên thì liền lúc ấy có lẽ bị sóng nhồi nhiều nên cái túi đựng mấy lượng vàng của anh tôi cất dấu trong lò than bỗng dưng nó chui đầu ra, một tên đứng bên tàu quốc doanh nhìn thấy hắn nhảy ập tới lôi ra lấy hết. Anh tôi xin lại một cây nhưng họ nhất định không cho, mọi người trên tàu khuyên: “Thôi thì mất của còn hơn bị tù đày”. Anh tôi giận lắm, nhưng cũng đành nuốt giận mà tách tàu ra chạy đi thật lẹ, không thôi họ đổi ý vì không chia chác đều sẽ vào tù ngồi đếm lịch mệt nghỉ. Suốt mấy ngày vật lộn với sóng gió, bão tố, cuồng phong không ăn, không ngủ, anh em tôi thay nhau cầm lái. Cuối cùng nhờ thằng em sinh thiếu tháng đã đưa con tàu vào tới bến bờ Mã Lai được bình yên vô sự.
Những mẩu chuyện về cuộc đời của má, má đã kể cho từng đứa con nghe. Có những câu chuyện tôi quên và có những câu chuyện tôi còn nhớ, hôm nay xin ghi vào đây để tỏ lòng hiếu kính, trân trọng một bà mẹ quê suốt đời tần tảo nuôi nấng tám đứa con khôn lớn, thành người. Không thể nào đền đáp hết công lao trời biển. Mỗi đứa con tùy theo hoàn cảnh, thể hiện bằng cách nầy hay cách kia. Riêng tôi là người có chút ít văn chương, thi phú nên tôi tôn vinh, trả hiếu bà bằng những vần thơ" Mẹ Tôi" như sau:
Mẹ tôi tuổi quá bảy mười
Lưng còng, má hóp, da mồi, tóc sương
Nuôi con mấy bận đoạn trường
Đắng cay, khổ nhục má hường phôi pha
Gánh gồng phố chợ đường xa
Bó rau, trái mít mang ra thị thành
Đổi về từng bữa cơm canh
Đường đời mòn nhẵn đôi chân
Tháng năm lặn lội tuổi xuân héo gầy
Nuôi con từ lúc đỏ hây
Giờ con khôn lớn như bầy chim khuyên
Thoát ra khỏi cánh mẹ hiền
Bay vào trời rộng tới miền nào xa
Biết chăng ở chốn quê nhà
Tâm tư từ mẫu chan hòa nhớ thương
Mắt mờ pha lẫn màu sương
Tóc buồn đếm sợ đo lường tháng năm
Thương con những đứa xa xăm
Đường mây rộng bước chắc không ngày về
Mẹ già bóng ngã trời quê
Mong đàn con trẻ ngày về không xa
Tôi mong mẹ sống rất già
Ngày tôi trở lại cả nhà đoàn viên
Đảo xa sóng vỗ triền mien
Tình tôi với mẹ vạn niên vẫn còn…

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét