Chương Mười Ba
VỀ VIỆT NAM, VỀ NHƯ KHÔNG VỀ
Gần hai mươi năm xa rời tình cha, nghĩa mẹ nhưng trong lòng tôi lúc nào cũng in đậm hình bóng của hai người. Mẹ tôi giờ đây thời gian đã làm hao mòn thân xác ốm đau, bệnh tật triền miên. Đêm hôm qua tôi lại nằm mơ thấy bà bị đưa vào bệnh viện cấp cứu, sáng ra gọi phôn về Việt Nam mới biết sự thật đúng như thế! Giấc mơ trọng đại nào đến với tôi cũng đều trở thành sự thực, hồi còn ở apartment tôi có mang con em họ sang Mỹ, vì là người giám hộ nên cứ mỗi ba tháng tôi phải đến sở xã hội khai lại hồ sơ kèm theo các biên nhận tiền nhà, tiền điện, tiền phôn v. v… Đêm hôm đó tôi nằm mơ thấy biên lai tiền nhà không có chữ ký của ông manager, tôi giật mình thức dậy đi tới tủ tìm biên nhận ra coi thì quả đúng như vậy, phía trên thì có số tiền hẳn hòi, còn phía dưới thì không thấy chữ ký của ông ta. Sáng ra tôi mang qua phòng nhờ ông ký để nộp cho nhân viên xã hội. Nếu không bổ túc kịp thời thì phải làm cái hẹn khác, thật là phiền phức.
Má tôi nằm nhà thương mấy hôm rồi về nhà, chị em tôi bên đó nói tới, nói lui khuyên tôi ráng về Việt Nam một lần để cho ba má nhìn thấy mặt trước khi ông bà nhắm mắt lìa đời. Hơn nữa ba tôi cũng cho biết ở Cần Thơ có một vị nữ bác sĩ chữa bệnh mắt rất giỏi, biết đâu bà có thể chữa lành cặp mắt cho tôi! Tôi thấy một công, hai việc cũng tiện. Ngặt nỗi tôi đi đứng khó khăn, phải có người dẫn dắt thì mới về Việt Nam được, hơn nữa "Tình nước trước tình nhà", khiến tôi còn phân vân chưa biết tính sao thì may quá năm 1994 Mỹ bỏ cấm vận và năm sau nữa thì bang giao luôn nên tôi nhờ cô em dắt về. Chiếc máy bay của hãng Hàng không Eva đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào lúc giữa trưa, hai chị em tôi đứng sắp hàng trước dãy bàn của hải quan. Người thanh niên tuổi độ ba mươi lật qua, lật lại, nhìn trong, ngó ngoài hai cuốn sổ thông hành Mỹ, thế rồi anh ta đặt xuống bàn để qua một bên, rồi anh lại tiếp người khách khác. Tôi đứng một góc kia chờ đợi, gần nửa giờ trôi qua, tôi hỏi cô em:
- Xong chưa, sao lâu thế!
Thanh trả lời:
- Dạ, em không biết nữa! Nhưng thấy họ để giấy tờ mình qua một bên rồi.
Tôi nắm tay con em bước tới cái bàn đó và trình ra thẻ Handicap (thẻ chứng nhận bệnh của mình):
- Tôi bị khiếm thị, nhờ anh làm thủ tục cho nhanh giùm!
- Chị tên gì? Còn cô nầy nữa!
Thanh chỉ vào hai sổ thông hành nằm chình ình trên bàn nói:
- Mấy anh làm việc gì kỳ vậy? Vô thứ tự. Tôi đứng trước ba người kia mà họ đã xong rồi, còn chúng tôi thì phải chờ, chờ đến bao giờ đây?
Tôi hỏi thêm:
- Bộ chúng tôi thiếu giấy tờ gì hả? Đây là lần đầu tiên chúng tôi về nước, chưa biết lề lối làm việc của các anh. Vì vậy các anh làm ơn kiểm soát đi, coi có thiếu giấy tờ gì thì nói. Chứ thật ra hồi nãy tôi đã đưa tờ giấy điền từ trên máy bay, bây giờ thì tôi trình passport (giấy thông hành) thôi, tôi nghĩ cũng đủ rồi.
Anh ta cầm passport lên lật qua vài trang rồi nói:
- Chị còn thiếu tờ giấy khác nữa!
Tôi ngay tình hỏi lại:
- Tờ giấy gì nữa?
Anh ta cười gượng gạo, nhẹ giọng:
- Dạ, tờ giấy màu xanh xanh có hình …
Bây giờ tôi mới chợt hiểu, thì ra họ cần đô-la, tôi quay qua nói nhỏ vào tai cô em:
- Họ muốn tiền! Thanh đưa năm đô, chị đưa năm đô cúng cho họ đi, để mình được đi nhanh.
Tôi đã từng đi qua Pháp, đi Phi Luật Tân và Đài Loan, nhưng chưa thấy một quốc gia nào có cái cung cách như đám hải quan tham ô nầy. Họ ăn hối lộ trắng trợn đối với người Việt Nam ta thôi, chứ những người ngoại quốc thì họ đâu dám, những người ấy chỉ trình sổ thông hành rồi đi qua một cách dễ dàng. Chị em tôi nhét vào miệng mười đô cho hai tên hải quan đó nên mới được bước ra nhanh chóng. Đứng đợi ở phòng lấy hành lý một chặp, trong lúc ấy cô em đi kiếm chiếc xe đẩy và cuối cùng chúng tôi chất bốn chiếc va ly lên chiếc xe và đẩy nhanh ra phía bên ngoài, chỗ cuối cùng kiểm soát bằng máy Scan. Tôi không mang đồ quốc cấm, không có máy móc rườm rà, chỉ toàn áo quần và một ít bánh kẹo nên cứ đinh ninh trạm cuối nầy dễ dàng đi qua. Ai ngờ họ chận lại, buộc tôi mở va ly ra để họ kiểm soát bốn cuốn video tape. Tôi thấy không có gì đáng ngại vì đây chỉ là tape thâu phim bộ, mang về cho ba tôi coi trong những lúc ông buồn. Nên tôi sẵn sàng mở ra cho họ xem, nhưng cuối cùng họ muốn giữ lại nộp cho sở Văn Hóa Thành Phố để nơi đó kiểm tra. Một tuần sau nếu không thấy gì thì bảo người nhà tới lấy về. Tôi đồng ý cho họ làm việc đó, sau khi giữ tờ biên nhận để làm bằng chứng. Thật ra, nếu lúc đó tôi đưa cho họ năm, mười đô thì mọi chuyện kể như êm xuôi, nhưng tôi chán ngấy cái cách làm tiền trắng trợn nầy lắm rồi, để tiền đó bố thí cho trẻ em nghèo, tật nguyền, khốn khổ thì tốt hơn. Hai chị em tôi đẩy xe thật nhanh để sớm rời khỏi cái đám người kia. Chợt một bàn tay nắm chặt lấy bàn tay tôi và hỏi:
- Minh, có phải con không Minh?
Tôi nhận ra giọng nói của má mình, tôi ôm chầm lấy bà nghẹn ngào, xúc động:
- Dạ, con đây! Má hả má?
Tôi chỉ nói được chừng đó rồi lặng thinh, cố nén những giọt nước mắt, đẩy ngược chúng trở vào tim. Tôi đưa tay rờ mắt, môi, miệng, mũi và khắp gương mặt bà. Lạ thật, lúc đó tôi không để rớt giọt nước mắt nào, trái lại má tôi lại khóc sướt mướt. Có lẽ bà mũi lòng khi thấy đứa con ngày đi thì sáng sủa, ngày về thì tối tăm, quờ quạng. Còn nỗi đau lòng nào hơn khi con không còn thấy được mặt mẹ suốt mấy chục năm dài, còn mẹ lại nhìn thấy con trong hoàn cảnh như thế nầy! Má tôi dằn cơn xúc động, giọng bà chùng xuống, buồn vui lẫn lộn:
- Được rồi, con về thì má mừng lắm, vậy giờ mình ra ngoài gặp ba và các chị em con đang đợi.
Tôi lê từng bước chân nặng trĩu, chập choạng trên con đường về thăm quê hương, với đôi mắt không còn nhận diện được người thân thương của mình: “Ôi nỗi đau đớn, oan trái nầy to bằng trời, lớn bằng biển”. Tôi muốn hòa tan vào vũ trụ, để thân nhân không nhìn thấy tôi với ánh mắt ngỡ ngàng thương cảm. Ba vừa thấy tôi, ông bước nhanh tới và nói:
- Minh, ba đây nè con!
Tôi ôm chầm lấy ông, nắm chặt bàn tay gầy guộc, tong teo của ông, nhớ ngày rời An Thới, buổi sáng đó tôi gặp ba đang đi chợ, nói được đôi câu rồi cha con bỗng chia lìa tới hai mươi năm sau mới gặp lại. Nào chị, nào em, nào dì, nào dượng, những bàn tay siết chặt, những vòng tay ôm sát bờ vai lại có thêm những nụ hôn trên trán, trên má làm tôi ngây ngất trong tình cảm gia đình. Chị Phụng đại diện cho cả nhà tặng tôi và Thanh hai bó hoa hồng tươi thắm, tượng trưng cho tình yêu thương nồng nàn đối với đứa con, đứa cháu và đứa em gái đã lưu lạc suốt mấy chục năm qua. Có tiếng khóc xen lẫn tiếng cười trong niềm vui đoàn viên, sum hợp. Thợ quay phim, thợ chụp hình làm phận sự của mình gọn gàng, linh động.
Trên đường về nhà, âm thanh ồn ào, vang động, tôi đi trong “Đêm Giữa Ban Ngày” nên chẳng thấy được gì dù biết rằng thành phố đã đổi thay. Hình dung ra thì cũng biết, thành phố nầy màu cờ đỏ sao vàng phất phới tung bay. May mắn cho tôi là không cần phải nhìn thấy để lòng khỏi quặn đau, chua xót. Thương mình, thương nước, thương dân tộc Việt Nam đang trầm luân trong nỗi oan khiên cùng cực. Nhờ vậy mà tôi cảm nhận được rằng: “Sự tối tăm của một cá nhân không to lớn, đau đớn bằng sự tối tăm của cả một dân tộc. Sự mất ánh sáng của một con người không quan trọng bằng mất đi chính thể tự do, mất đi màu cờ, sắc áo của Việt Nam Cộng Hòa ngày trước”. Hôm nay tôi trở lại, thành phố đã đổi tên, cộng thêm hoàn cảnh của mình tôi vĩnh viễn là người khách lạ trên quê hương đổi chủ.
Tôi xuống xe đi vào con hẻm Nguyễn Huỳnh Đức, lối đi gập ghềnh, tay trái tôi nắm chặt bàn tay chị Phụng, tay phải nắm vào cánh tay của đứa em trai để đi vào nhà. Ôi, sao em tôi là thanh niên mà sao cánh tay lại gầy, ốm thế? Tôi lên tiếng:
- Hiệp, sao tay em ốm vậy? Thanh niên gì mà yếu xìu hà, lỡ chị té có đỡ nổi không đây?
Tiếng ba tôi vang lên:
- Ba, ba đây con, tay của ba chớ không phải tay của thằng Hiệp.
Trời ơi, thì ra tôi đang nắm cánh tay gầy gò, ốm tong, ốm teo của người cha già mà tôi không biết, tôi vội vàng xin lỗi ba:
- Dạ con xin lỗi ba, con cứ tưởng là cánh tay của em Hiệp!
Ông cười nói:
- Thì tay nó cũng ốm giống tay ba thôi! Một chút con rờ sẽ biết!
Ông đùa, mà đúng vậy, thằng em tôi cũng ốm nhách, trơ xương. Thời đó mọi người đều thiếu ăn, vì Mỹ mới vừa bãi bỏ lệnh cấm vận nên các quốc gia khác chưa đổ xô vào làm thương mại. Chưa có công ăn việc làm nhiều nên người dân cần phải có một thời gian chờ đợi để vượt qua cái đói, cái nghèo của xã hội chủ nghĩa đương thời. Phải chăng hôm ấy nhà tôi đói thật sự nên đãi Việt kiều bằng nồi cháo huyết, tuy nhiên lại có thêm những miếng lòng thật ngon, thật ngọt. Vì là heo tươi nên hương vị đậm đà, ngon hơn tô cháo lòng ở Mỹ. Ba tôi thì quý đứa con gái từ xa mới về nên đặc biệt mua hai lon nhãn hộp, lẹ làng khui ra cho tôi ăn tráng miệng. Hôm ấy nhà tôi như ngày lễ Tết, đông đủ thân nhân, họ hàng ruột thịt… Bốn chiếc va ly được mở tung ra, quà cáp, bánh kẹo được tôi cẩn thận chia ra từng phần, bây giờ chỉ trao lại, người nào nhận của người ấy. Xong phần quà đến lượt phần tiền, tôi quay lưng, thót bụng thò tay vào móc một xấp tiền ra. Túi tiền nầy tôi cẩn thận may vào giữa chiếc quần lót, không dễ gì rớt mất. Xoay qua một vòng thì đã mất nhẵn hai ngàn năm trăm đô, tôi đưa thêm ba trăm Mỹ kim nữa cho chị Phụng để lo chợ búa, nấu nướng trong vòng ba tuần lễ. Công việc phân phối tiền bạc, quà cáp coi như xong, tôi khỏe ru bà rù, bắt đầu ngồi nói chuyện, thôi thì đủ thứ chuyện để kể cho suốt hai mươi năm qua. Tôi đem theo cái máy thâu nhỏ để thâu tiếng nói của cha mẹ, chị em hay bất cứ thân nhân, họ hàng nào. Hay nói bất cứ câu chuyện gì tôi đều thâu trọn vào máy để làm kỷ niệm về sau. Tối đến chị Phụng dẫn tôi lên gác chỉ chỗ ngủ và mô tả khung cảnh chung quanh để tôi biết phương hướng, tránh bị va chạm vào khi di chuyển. Giường tôi nằm đặt trước bàn thờ ông bà, cạnh bên là cái tủ có thờ chị Hòa, người chị vượt biên đã bị chết. Tôi bảo chị Phụng đốt giùm tôi sáu nén nhang để tôi chào lạy và thưa thốt các vị rằng tôi đã về thăm các ngài. Tôi đứng khấn vái ngoại tôi một chặp rồi nhờ chị Phụng cắm nhang vào lư hương. Tôi quay sang bàn thờ chị Hòa, đưa ba nén nhang ngang trán, giọng cảm xúc tràn dâng, vừa đau lòng, vừa thương nhớ, ước chi chị chưa chết để chị em hàn huyên tâm sự. Bất chợt cả đám cháu kêu lên:
- Cô Hòa cười, cô Hòa cười!
Chị Phụng nhìn kỹ thì chị cũng thấy hình chị Hòa trong khung ảnh thờ đang cười thật tươi. Chị Phụng la lên:
- Thiệt rồi con Hòa đang cười kìa, nó biết em về nó vui mừng đó!
Thanh cũng lên tiếng:
- Đúng rồi chị năm, chị tư đang cười mừng chị em mình thiệt đó!
Tất cả mọi người đều bảo nhau như thế. Tôi không biết đây là sự hiển linh hay do ảo tưởng? Tôi không khẳng định, nhưng những sự việc thuộc về tâm linh, huyền bí khó mà giải thích.
Khí hậu ở Sài Gòn vào mùa xuân vẫn nóng hơn mùa hè của Mỹ, ban ngày núp dưới mái nhà để tránh nắng, ban đêm chúng tôi mới dám ló ra ngoài phố. Chị tôi gọi một chiếc xích lô, hai chị em ngồi lên nhờ ông chở đi vòng vòng. Tới đâu chị chỉ, nhắc nhở chuyện xưa tới đó để tôi mường tượng lại khung cảnh ngày trước. Cũng may, vì tôi không thấy nên chẳng biết sợ, xe cộ di chuyển trên đường vô lề, vô luật, băng ngang, băng dọc. Họ muốn quẹo trái, quẹo phải thì cứ quẹo, chẳng biết nhường nhịn hay chờ đến phiên mình. Một chiếc xích lô kia tránh chiếc Hon-Đa nọ lại lủi ầm vào xe tôi, hai chị em tôi suýt chút nữa là té chổng gọng rồi! Tôi đang nói chuyện, bỗng dưng giọng khàn khàn như con vịt đực, có cái gì ran rát vướng cổ họng mình. Tôi tằng hắng mấy tiếng rồi khạc ra, tôi hỏi bà chị:
- Cái gì vậy chị?
Chị tôi trả lời:
- Chắc bụi khói xe, đen thùi hà…
Rồi chị nói thêm:
- Lần sau ra phố em phải mang khẩu trang mới được!
Nghĩ cũng lạ, có người về Việt Nam bị trở ngại về giờ giấc, nhưng tôi thì không. Sáng thức dậy ăn uống, chuyện trò đến lúc tối đi ngủ thì tôi cũng ngủ như họ, khi cả nhà thức dậy thì tôi cũng thức giống họ thôi. Có nhiều đêm bị đánh thức bởi tiếng rao hàng của người bán cháo khuya hay bánh mì sớm. Những tiếng rao thân thương, quen thuộc hằn sâu trong ký ức của một thời tuổi dại bỗng sống lại, trở mình thức giấc cho tôi cái cảm giác như đang sống lại thời xa xưa ấy.
Người nào từ Mỹ về thì cũng phải dè dặt trong các món ăn, thức uống. Tôi thì ngược lại, khi đi ra đường gặp nước mía thì uống cho đã thèm, gặp sữa đậu nành lạnh thì cũng nốc luôn. Nhà gần chợ Phú Nhuận, nên sáng nào má cũng mua bún vịt xáo măng kèm theo một dĩa gỏi với đầy đủ bộ lòng. Thật tình mà nói, thịt thà ở Việt Nam tươi rói, họ làm hằng ngày không đông lạnh quá nhiều tháng như ở Mỹ nên ăn cái gì tươi cũng cảm thấy ngon hết. Vậy mà cái bụng của tôi cũng biết điều lắm, êm ru hà, không “quậy, phá” gì hết! Ngày thứ năm chúng tôi đi Vũng Tàu, xe chạy ngang qua nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, người tài xế nói:
-Lúc trước, em có ông anh là Thiếu Tá Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tử trận và được chôn ở đây, sau nầy nhà nước bảo hốt cốt lên hết để làm Vườn Trẻ. Lạ lắm, xác của ảnh nằm trong bọc nhựa, một phần thân thể vẫn còn tươi, máu trong quai hàm nơi bị trúng đạn vẫn còn màu đỏ.
Anh lại nói tiếp:
- Mồ mả của bên mình trông tiêu điều tan hoang chứ mấy nghĩa trang liệt sĩ thì khang trang, đẹp đẽ lắm! Những mộ bia thẳng hàng, thẳng lớp.
-Liệt sĩ ở đâu mà nhiều thế? Đánh đấm ở trong rừng làm gì còn xác để mà chôn. Có lẽ đây là những ngôi mộ giả không chừng? Tôi noí, anh tài xế cũng đồng ý.
Đường ra Vũng Tàu cũng có đoạn ngoằn ngoèo, lúc lên đồi cao, lúc xuống dốc thấp. Chúng tôi chạy thẳng ra bãi Sau, thuê mấy cây dù và hơn chục chiếc ghế, nằm nghỉ ngơi, nghe tiếng sóng xô bờ nhịp nhàng, đều đặn. Vì là buổi trưa nắng quá gay gắt, không ai dám nhào xuống biển, đợi chiều chiều rồi hẳn hay. Nhiều em bán hàng rong, bưng đủ thứ bánh trái, đồ lưu niệm đến mời mọc chúng tôi. Má mua cho tôi một sợi dây đeo cổ và một chiếc vòng đeo tay bằng các loại ốc biển, cũng khá đẹp, cũng thời trang lắm! Dì tôi, mẹ của Thanh mua tặng tôi hai chiếc giỏ làm toàn bằng xương cá, thật ngộ. Chị phụ nữ gánh ghẹ đi ngang mời chúng tôi mua giùm và sẵn sàng luộc tại chỗ. Tôi nói với chị Phụng:
- Chị mua hết đi, nhờ người ta luộc luôn rồi mình đem lên đây ăn.
Hơn nửa giờ sau, muối tiêu chanh và mấy chục con ghẹ đỏ au từ từ bò vào bao tử của mọi người. Tôi cầm con ghẹ lên và cảm thấy thật là tội nghiệp, chúng không bự như ghẹ Hàm ninh, nhưng thật ra ăn cũng ngọt thịt lắm, lại có nhiều gạch son. Trời đã xế bóng, chúng tôi thay đồ tắm và chạy ào xuống biển. Chị Phụng lúc nào cũng cận kề để lo cho đứa em tàn tật nầy. Tôi ngụp lặn, bơi lội trầm mình trong làn nước mát của vùng biển quê hương, cảm thấy cả triệu tế bào sống lại, vì đã hơn hai mươi năm rồi tôi chưa có dịp nô đùa ngâm mình dưới biển như hôm nay. Nhiều con sóng ào ạt dồn tới làm thân tôi ngả nghiêng, chao đảo. Vài con mực con bị làn sóng dập vùi, ngất ngư gần chết, còn một chút sức lực cuối cùng cố bám víu thật chặt vào hai chân tôi làm tôi nhột nhạt, khó chịu. Tôi phải rút hai chân lên nằm cù đum trên chiếc phao mặc tình cho sóng đẩy đưa, trôi nổi. Tiếng vui cười, nô đùa, hò hét của đám con cháu làm cho tuổi thơ tôi sống lại với vùng trời hải đảo năm xưa. Biển ở đâu cũng mặn, duy chỉ có biển nước nhà mới có thêm vị ngọt của quê hương, dù hôm nay tôi không tắm ở biển Phú Quốc nhưng dòng nước nầy sẽ luân lưu, chuyển tải đến nơi ấy bằng ngọn gió trùng khơi. Sau hai tiếng chơi đùa, chúng tôi đã thấm mệt, cả đám kéo lên phần đất cao hơn tắm lại nước ngọt để chuẩn bị ra phố Vũng Tàu. Vừa thay áo quần xong thì má tôi lên tiếng:
- Hồi nãy con đang tắm ở dưới, má có mua được hai con sam. Ngày mai về nướng lấy trứng trộn gỏi bắp cải cho con ăn, thích không?
Tôi vui sướng reo lên:
- Thế thì hết sẩy, con thèm ăn món ấy lâu rồi!
Về khách sạn, tôi không ra phố ăn mà ở nhà với má. Hai mẹ con nói đủ thứ chuyện, hỏi thăm trong hai mươi năm qua gia đình, cha mẹ, chị em sống như thế nào? Cực khổ, vui sướng ra sao nơi quê hương đổi chủ nầy! Má giọng rưng rưng, buồn tủi:
- Má làm từng cái bánh, má bưng từng thúng ổi ra bán tại biển Vũng Tàu nầy mười mấy năm về trước để kiếm miếng ăn đó con, má tôi tỉ tê than thở, rồi bà kể tiếp:
- Má xách từng can nước mắm đi bộ hằng mấy cây số để khỏi tốn tiền xe, hầu mong kiếm thêm lời để nuôi con, nuôi cháu. Hồi đầu thập niên 1980, khi được giấy báo nhận lãnh quà của con má mừng lắm, nhưng rồi lại lo. Lo vì không có tiền để đóng thuế, mấy năm trước em con có về được một, hai lần nên gia đình mình cũng đỡ khổ. Tôi an ủi bà:
- Con biết, nhưng không phải một mình má khổ hay gia đình mình khổ mà hình như cả miền Nam đều có chung nỗi khổ nầy. Bây giờ Mỹ đã bang giao rồi, các nước khác sẽ vào đây làm ăn, các em con sẽ có việc làm và lúc đó người dân mới từ từ khá lên được má ạ!
Tiếng bò lộp cộp của hai con sam làm tôi thoáng giật mình, thịt sam thì ăn không ngon, người ta có thể nướng lấy trứng của con sam cái, vậy mà lúc nào con sam đực cũng bị chết chung. Vì chúng nó thường đi có đôi, có cặp, nên mới bị vạ lây. Kể ra giống sam thật chung tình, chung thủy, biết chết mà vẫn ở chung, đi chung. Không biết loài sam ở vùng biển khác thì như thế nào, chứ loài sam ở vùng biển Á Châu luôn luôn là vậy. Nên có câu: “Dính như sam” thật không sai! Cũng như đàn bà Đông Phương, lịch sử đã ghi bao thế kỷ trước. Chồng đi chinh chiến chết lúc tuổi còn thanh xuân, người vợ ở vậy thờ chồng, nuôi con. Trải qua ba, bốn thế hệ nếu xảy ra trong gia đình vọng tộc nên vua đã ban cho tước hiệu vô cùng cao quý: “Tiết Hạnh Khả Phong”. Đó là chuyện ngày xưa, bây giờ xã hội đã thay đổi tâm tính con người, luân thường, đạo lý cũng đã thay đổi rồi! Thế thì phải hỏi loại sam có thay đổi hay không? Nói thì nói vậy chứ thật ra sự thủy chung tùy theo tình cảm của mỗi cá nhân. Ở Mỹ người ta nói đến chuyện ly dị số tỷ lệ rất cao, nhưng cũng có nhiều người đàn ông cũng rất chung tình với vợ.
Tôi biết một “cô lão” bán hoa, sở dĩ gọi như thế là vì cô bán hoa từ thời còn con gái, đến bây giờ đã trở thành bà lão gần bảy mươi. Tiệm hoa của bà gần nghĩa trang Los Gatos, suốt mấy chục năm qua, bà chứng kiến nhiều người đến mua hoa tặng người yêu, tặng vợ, tặng chồng vừa mới nằm xuống. Trong số đó bà lưu ý đến một người đàn ông góa vợ, ngày đưa đám người vợ chỉ mới bốn mươi, người chồng khoảng bốn mươi lăm. Sau khi chôn vợ xong, tuần nào ông cũng đến mua hoa tặng cho người vợ yêu dấu của mình nay đã không còn nữa. Dù ngày mưa, ngày nắng, hay ốm đau, bịnh hoạn ông cũng làm công việc ấy thật đều đặn. Suốt bốn mươi năm dài, một bó hoa hồng thắm tượng trưng cho tình yêu vĩnh cữu của ông. Bỗng một ngày bà lão không thấy ông khách đến mua hoa nữa, hỏi ra thì mới biết ông đã qua đời tuần lễ trước. Bà lão trân quý sự thủy chung, tình yêu thương của ông đối với người vợ xấu số kia nên bây giờ bà phải thay thế ông mà mang hai bó hoa, một là thay ông để tặng cho người vợ chết đã nhiều năm. Còn bó hoa kia bà xin trân trọng tặng người chồng thủy chung như nhứt suốt bốn chục năm trường, mà ở thời đại nầy kiếm được mấy ai? Tôi nghe câu chuyện thì cũng rất kính phục người đàn ông nầy, đó là người Mỹ da trắng chính thống chứ chẳng phải giống dân nào khác đâu.
Sáng hôm sau trước khi rời Vũng Tàu, má tôi bảo tài xế chở tất cả vào chợ nhà lồng. Má gọi cho tôi một ly cà phê đá và một dĩa bánh tầm bì, món nầy tôi rất thích. Dĩa thức ăn vừa mới bưng ra, cả đám người ăn xin ào tới, vây quanh tôi. Tôi thì không trông thấy, má tôi thì cứ xua tay, đuổi lia, đuổi lịa, vì trong đám ấy có mấy người cùi, má tôi lên tiếng:
- Bà con làm gì kỳ vậy, để con tôi ăn xong rồi mới cho.
Tôi nghe loáng thoáng nên hỏi:
- Má nói gì vậy? Cho ai, cho cái gì?
Má trả lời:
- Mấy người nầy ăn xin, họ giành nhau để chờ ăn thức ăn thừa của con! Tôi nghe má nói liền gọi chị Phụng:
- Cứ gọi cho họ một số thức ăn nào họ thích đi, con trả tiền!
Má tôi kề tai nói nhỏ:
- Tay chân của họ có đâu mà cầm thức ăn!
- Vậy thì cho tiền họ đi.
Tôi đưa một xấp tiền Việt Nam và phát cho mỗi người năm ngàn, thế là xong, họ tản hàng đi nơi khác. Trên đường về vừa qua khỏi khu vực Bà Rịa, chị tôi kêu tài xế ghé vào một ngôi chùa bên đường cho tôi vào lễ Phật và cúng dường. Trước sân chùa lưa thưa vài ba người ngồi ăn xin, ăn mày thật tội nghiệp, vài bà cụ bán nhang, vài em bán vé số, nhiều em gái bán đủ thứ bánh trái, nước ngọt, nước lạnh. Tôi vịn vai bà chị, bước vô sân chùa, một số em nhỏ chạy theo hô lớn:
- Tụi bây ơi tới coi, bà Việt Kiều nầy có bàn tay đẹp quá!
Tôi cười với chúng rồi nói đùa:
- Cô đâu phải là Việt Kiều, cô là dân ở Sàigòn.
Tụi nó cùng cười:
- Không phải đâu, chúng cháu nhìn là biết ngay là Việt Kiều mà!
Tôi đứng lại hỏi chúng:
- Tại sao các em biết?
Chúng nó nói:
- Thứ nhất là bàn tay cô đẹp, thứ nhì là nhìn bàn chân.
Rồi cô bé nói thêm:
- Ở Mỹ, đàn bà ai cũng mang giầy nên chân lúc nào cũng trắng, coi kìa, gót chân của cô vừa trắng, vừa hồng nữa!
Con bé nầy lanh quá, tôi cười xoa đầu nó:
- Em đang bán gì thế?
- Dạ, hột é…
- Cho cô mấy bọc đi!
Tôi quay qua hỏi đám trẻ chung quanh:
- Còn các em kia bán gì?
Chúng nó nhao nhao:
- Dạ, em bán trà đá, em bán sữa đậu nành.
Tôi xoay qua hỏi mấy đứa cháu của mình:
- Các cháu thích ăn uống gì thì cứ mua đi, dì Năm trả tiền, Ok!
Tôi rời khỏi đám nhóc, bước chân vào chánh điện thắp ba nén nhang, lâm râm khấn vái. Cầu sự bình an cho mọi người, cho cha mẹ, chồng con, chị em, dì cháu v. v... Khi chúng tôi về tới nhà thì ba tôi cũng đã từ Phú Quốc vô lại Sàigòn. Ông về lấy một số đồ gia bảo cho tôi đem về Mỹ để làm kỷ niệm và đồng thời chuyển tiền biếu tặng của tôi đến hai người cô đang sinh sống ở Phú Quốc. Người cậu họ giữ nhà cho tôi biết: “Một chị ở Mỹ về tên Sương có tới thăm nhưng không gặp được cháu, nên chị hẹn ngày hôm sau sẽ tới nữa!”
Đúng rồi, chị Sương
là bạn thân của tôi từ khi còn ở apartment đến bây giờ. Tôi về Việt Nam trước
chị một tuần và hai chúng tôi đã hẹn gặp nhau tại đây. Chiều hôm sau chị đến bằng
xe Hon-Đa ôm, trên người mặc bộ đồ bà ba, đội cái nón lá lụp sụp, không ăn dọn,
chưng diện chút nào hết. Chị cố tình ngụy trang để người ngoài khỏi dòm ngó. Quả
đúng vậy, cả ba má và chị em tôi đều chưng hửng, không ai ngờ chị ấy là Việt kiều
sống bên Mỹ cũng gần hai chục năm rồi chứ chẳng phải chơi đâu. Lúc đó người Việt
nào về nước ai cũng nơm nớp lo sợ, đàn bà lo sợ bị cướp giật, đàn ông lo sợ bị
bắt vô tù. Đó là nói đến những người chân chính, lương thiện về khi ở bên nhà
có quan hôn, tang chế, chứ không phải se sua, khoe của hay "áo gấm về
làng". Nghĩ cũng lạ thật, Việt kiều về mà không khoe của, không đeo vòng vàng,
hột xoàn, cẩm thạch là Việt kiều dỏm thì gia đình cảm thấy chẳng được nở mặt, nở
mày với bà con hàng xóm. Còn nếu đeo vàng đỏ tay mà chi tiền ra quá ít thì bị
chê là “trùm sò”. Thật là tội nghiệp cho những con người mang cái “Mác Việt kiều”
quá chừng. Ngồi nói chuyên hơn một tiếng, chị Sương chào ra về. Vừa lúc đó cháu
Lễ con của chị Hòa mang mấy cuốn video tapes từ sở Văn Hóa Thành Phố về, bỏ vô
máy coi lại thì hỡi ơi… Tất cả đều bị xóa sạch, còn phải tốn mất tám chục ngàn đồng Việt Nam,
thật là quái đản . Ở xứ văn minh, dân chủ đâu ai làm chuyện kỳ cục vậy? Nếu không phạm điều cấm kỵ, thì sau khi kiểm
soát phải trả lại toàn bộ cho sở hữu chủ mới đúng. Cháu Lễ như hiểu rõ lề lối của
họ nên nói nhanh: "vì là phim mới chưa
nhập vào Việt Nam, họ không muốn mình có nên họ đã xóa hết, ngày mai mình ra chợ
trời, thấy họ copy hàng loạt bán ngoài ấy đó dì Năm." Tôi lắc đầu ngao
ngán vì cách làm việc tồi tệ nầy của mấy ông ấy quá rồí!
Tuần lễ thứ ba tôi đi xuống Cần Thơ tìm đến bà bác sĩ mắt, người mà ba tôi cho rằng bà chữa bệnh mắt rất hay. Tôi thuê một xe hơi nhỏ bốn chỗ ngồi loại tốc hành, chị Phụng, má tôi cùng anh tài xế khởi hành lúc sáng sớm. Chiếc xe nhỏ mong manh, cũ kỹ, bị dằn lên, xốc xuống bởi đường có quá nhiều ổ gà. Tôi ngồi suốt mấy tiếng đồng hồ sau thì mới biết xương chậu của mình đã bị trẹo, thật là đau đớn nên khi xe qua phà tôi cứ ngồi lì trên ấy, các cô bán hàng rong bu tới, mời mua đủ thứ, tôi mua một xâu mía ghim nhai nhóc nhách cho đỡ buồn miệng. Dù không nhìn thấy nhưng tôi biết bến phà không khác ngày xưa nhiều lắm, trái lại người ta còn đông hơn. Dân số Việt Nam tăng gần gấp đôi, đời sống sẽ chật vật, người dân lưu lạc khắp nơi để tìm miếng ăn chẳng khác gì kiếp lục bình đẩy đưa, trôi nổi theo từng cơn sóng nước. Xe tới bến Cần Thơ, chị Phụng dắt tôi đi thẳng đến phòng mạch của bà bác sĩ. Sau thủ tục và đóng lệ phí, tôi được mời vào nằm dài trên chiếc giường khám bệnh. Tôi kể sơ qua về bệnh tình của mình, bà cũng chú ý nghe rồi nhỏ vài giọt thuốc vào đôi mắt tôi và rọi đèn sâu tận đáy. Cũng giống như ở Pháp, bà bác sĩ lắc đầu chịu thua. Chỉ khuyên tôi nên thường xuyên uống nước trái cây và ăn các loại rau cải khác thật nhiều. Từ giã bà, chị tôi định đi chuyến xe cuối cùng về Long Xuyên để cho tôi thăm lại người anh rễ, tức anh Sang chồng của chị. Ngày xưa anh là lính quân cảnh đóng ở An Thới, hai người gặp nhau rồi kết duyên tình chồng vợ, có với nhau ba mặt con. Trong ngày 30 tháng 4 năm 1975, anh Sang đang ở Vũng Tàu học khóa đặc biệt, anh thương vợ, thương con nên không chạy theo đoàn lưu dân ra nước ngoài. Anh trở về quê quán ở Long Xuyên và sống tại nơi ấy từ đó đến nay. Má tôi bất thần đề nghị:
- Hay là mình ghé thăm cậu mợ năm Thới đi, lâu quá rồi má cũng chưa xuống thăm. Cậu mợ Năm là chủ vựa khô, vựa mắm trước kia ở Rạch Giá. Hồi đó gia đình cậu mợ khá giả lắm, Má, chị Phụng, chị Hòa đều là bạn hàng của họ, làm ăn với nhau lâu ngày họ đối đãi coi như thân quyến trong gia đình. Khi miền Nam đổi chủ, gia đình cậu mợ bắt đầu sa sút, vì công việc làm ăn không được tự do mua bán, mà phải qui vào hợp tác xã, nên ông bà dẹp nghề dọn về Cần Thơ ở từ đó cho tới nay. Chúng tôi không mời mà đến, không hẹn mà gặp. Cậu mợ Năm tiếp đón rất nồng hậu và tình cảm. Được biết tôi từ Mỹ về và đi trị mắt ở Cần Thơ, cậu mợ cười, rồi nói:
- Người dân ở Việt Nam và thế giới nói chung, bệnh tật gì ai cũng mơ ước qua Mỹ để chữa. Còn ngược lại cháu về Việt Nam tìm thầy để chữa thật ngộ hết sức!
Tôi thật tình thưa:
- Dạ, cháu đã chữa ở Mỹ, ở Pháp hết rồi, nhưng nghe ba nói tại Cần Thơ nầy có một bà bác sĩ nhãn khoa giỏi lắm. Thành thử nhân tiện về quê thăm gia đình cháu xuống đây luôn, biết đâu mình có phước duyên sẽ gặp đúng thầy, đúng thuốc.
- Thế thì cháu đến đó chưa?
- Dạ, thưa đến rồi! Xe xuống bến thì chị Phụng dắt cháu đến, nhưng cuối cùng bác sĩ cũng không làm được gì hơn!
Cậu Năm lại nói:
- Ngày mai cậu đưa cháu đến ông thầy thuốc nầy, nghe nói khi ở tù cải tạo ông được ơn trên soi sáng, ban phước vì tâm lành, căn tốt, nên chữa được nhiều người hết bệnh và khi ra tù ông hành nghề phước thiện đó luôn. Chính quyền cấm năm lần bảy lượt bởi vì nhà ông ấy lúc nào cũng nườm nượp khách phương xa đến cầu xin chữa trị.
Tôi nghe nói thì cũng mừng, háo hức muốn tìm đến nên hỏi liền địa chỉ, biết đâu phen nầy sẽ được sáng mắt. Đất người không linh đất nhà lại linh biết đâu chừng!
Sáng hôm sau chúng tôi kêu xe lôi ra chợ Cần Thơ, đi một vòng từ trên đầu chợ xuống tới cuối chợ, qua dãy hàng cá, thịt. Mợ Năm mua mấy ký sò huyết và một con cá lóc lớn cùng một ít rau cải để lo cho bữa cơm chiều. Chúng tôi ghé vào một tiêm ăn đơn sơ trong nhà lồng chợ, mọi người thích món nào thì gọi món nấy. Tôi gọi một dĩa cơm tấm bì sườn và một chén chè thưng, đang ăn chợt nghe tiếng ai cất lên với sáu câu vọng cổ buồn não nuột, nói lên tâm trạng của người sống kiếp mù loà, đang dò dẫm từng bước chân trên hè phố cầu xin sự bố thí của người qua lại. Tiếng ca càng lúc càng gần hơn, tôi mũi lòng cảm nhận sự bất hạnh của đương sự cũng như chính bản thân mình. Có khác nhau là ở hoàn cảnh của tôi không dùng lời ca, tiếng hát xin sự bố thí của mọi người mà trái lại tôi còn ban ra. Chị Phụng nói nhỏ:
- Một con bé dắt ông mù đi ăn xin, em cho tiền không?
- Cho chứ chị, chị đưa ổng hai chục ngàn đi!
Tôi ngẫm nghĩ, đi tới đâu cũng gặp nhiều ăn mày, ăn xin. Ngày xưa thời Việt Nam Cộng Hòa cũng có, nhưng không nhiều như bây giờ. Thật đáng buồn cho tổ quốc của tôi, có hơn bốn ngàn năm văn hiến.
Ăn uống xong mợ Năm xách giỏ đi thẳng về nhà, cậu Năm và chúng tôi đi tà tà xuống bến Ninh Kiều. Tôi chợt nhớ đến bài hát “Chiều Tây Đô” với câu: “Đen như manh áo buồn chưa quen!” thật là thắm thía… Cảnh cũ, người xưa, kẻ qua, người lại đều cảm thấy lạ xa. Khi đi ngang qua khách sạn Quốc Tế chị Phụng dừng chân lại diễn tả cho biết đây là một khách sạn khá nổi tiếng ở miền Tây. Quanh quẩn một hồi, chúng tôi kêu xe lôi chạy tới lộ 19, nhà ông thầy ở chỗ đó. Qua một con hẽm trước khi vào nhà tiếng heo kêu ét ét và mùi phân bay tràn lan trong không khí khiến tôi phải bịt mũi lại hỏi chị Phụng:
- Có lẽ ở đây là lò sát sinh nên mới hôi hám như thế nầy!
- Chắc không phải đâu, có lẽ nhà hàng xóm gần bên nuôi đó thôi!
Chúng tôi bước vô nhà ông thầy, thấy có hai người bệnh đã ngồi đợi sẵn. Sau khi chào hỏi thầy, má tôi và chị Phụng đi te te ra sau bếp tìm bà vợ chào luôn. Phía ngoài nhà một chuồng heo thật lớn, nuôi tới ba con heo nái và mấy chục con heo con, đang cử ăn trưa, chúng giành nhau kêu en ét. Tôi nghĩ thầm: “Như vậy thì hỏng rồi, ông thầy nầy không phải là thứ thiệt. Nếu là người tu hành, được ơn trên lựa chọn, gởi gắm bàn tay cứu nhân, độ thế, cứu giúp người bệnh tật thì phải ăn chay, phải tu tâm, dưỡng tính chứ đâu có nuôi heo mà bán, lại là heo nái nữa! Nghĩ là nghĩ thế, nhưng đã lỡ bước vô rồi cũng không nên để phật lòng người ta”. Ông thầy bảo chúng tôi lên lầu lễ Phật, tôi bước lên cái gác lửng. Trên đó là bàn thờ Phật, có đủ hoa quả, nhang đèn. Chúng tôi thắp nhang xong rồi lục tục đi xuống chờ ông tiếp hai người khách xong rồi mới tới lượt tôi. Ông trải một chiếc chiếu hoa, có một cái gối bảo tôi nằm xuống, ông vạch hai mí mắt lên coi, thoáng ngó qua, ông nói:
- Bệnh nầy dễ lắm, tôi nhìn phía sau thấy có ám khói nên cô mới không thấy! Bây giờ tôi nhỏ thuốc nầy vô và phải thành tâm cầu nguyện và đồng thời tôi viết cho cô một lá bùa, lúc nào cũng bỏ trong bóp, cất giữ nơi cao ráo, thanh sạch.
Ông lại nói tiếp cái chuyện vô duyên, không có:
- Cô Năm bị hư thai nên cái bào thai con của cô chưa được ra đời cậu về cậu phá đấy thôi! Sau nầy khi về Mỹ, cô cúng một buổi là xong.
Tôi chợt bật cười:
- Dạ thưa thầy, từ hồi nào tới giờ tôi chưa có bị hư thai. Mang thai lần nào thì sanh ra lần nấy, hiện giờ tôi được bốn đứa con đã lớn cả rồi. Ông quay qua hỏi má và chị tôi:
- Thế bà và cô nầy (ông chỉ vào chị Phụng) có ai bị hư thai không?
Má tôi thiệt tình:
- Dạ có, tôi nhớ rồi! Thằng Út của tôi, hồi đó tôi làm ăn buôn bán cực nhọc. Hay bưng hay xách những vật nặng nề nên lần đó tôi đã bị xảy thai, ông thầy nói đúng đó!
Ông quay qua nhìn vào má tôi:
- Tôi chúc mừng bà, cái thai ngày xưa đã trở thành “Cậu Trạng” rồi, “Cậu” có ngựa cỡi chạy chơi khắp nơi, lúc nào cũng theo độ bà. Nhưng cũng hay nghịch ngợm với bà lắm, có lúc làm cho bà vui, cũng có lúc làm cho bà buồn có đúng vậy không?
Má tôi gật đầu lia lịa:
- Dạ đúng, thầy nói đúng quá. Tôi cũng không biết sao tâm tính tôi là như vậy!
Tôi khều nhẹ má để bà chấm dứt câu chuyện, hơi đâu dông dài với mấy ông thầy lang băm kiểu nầy. Người già thì tâm tính thường thay đổi, đó là chuyện đương nhiên, chớ không có “Cô, Cậu” nào phá hết. Thật sự nếu họ có khả năng siêu phàm như vậy thì bọn người ác không còn sống tới ngày hôm nay. Trước khi ra về ông thầy trao cho tôi một lọ thuốc, bảo rằng về Mỹ nhỏ vào mắt ba lần mỗi ngày, khi nào hết thuốc thì liên lạc người chị xuống đây lấy thêm. Chúng tôi lịch sự cám ơn và gởi ông thầy một số tiền coi như là thù lao. Về tới nhà cậu mợ Năm thì đã hơn hai giờ rưỡi. Đang ngồi ăn trái cây và nói chuyện lông bông thì mợ Năm vừa thoáng thấy một chị phụ nữ đi ngang qua nhà, mợ gọi giật ngược lại:
- Cô Hồng, Cô Hồng vào đây!
Cô khoảng trên ba mươi tuổi, nước da hơi ngăm, tóc dài ngang vai, bước vô nhà. Mợ Năm chỉ chúng tôi nói liền:
- Đây, mấy người nầy ở Sàigòn mới xuống. Rồi mợ Năm quay qua nói với má và chị tôi:
- Cổ được xác “Cậu” nhập về nên coi hay và nói trúng lắm. Con Hòa nó chết đã lâu năm rồi, gọi nó về hỏi coi sự việc như thế nào và để biết nó đầu thai chưa! Má và chị tôi thuộc thành phần mê tín, tin tưởng vào những việc huyền bí, siêu nhiên nên đồng ý ngay. Mợ Năm dắt chúng tôi lên lầu trên, nơi có bàn thờ Phật và Cửu Huyền Thất Tổ của gia đình. Một chiếc chiếu được trải ra trước bàn thờ, chị Phụng tôi thắp nhang khấn vái, trình năm sinh, ngày tử của chị Hòa. Nếu linh thiêng thì hãy về đây mượn xác “Cậu” (Cô Hồng) mà nhập vào. Cô Hồng hai mắt nhắm lại, tay chắp trước ngực, ngồi xếp bằng, mấy phút sau cô rùng mình (Có lẽ hồn của chị Hòa đã nhập vào xác cậu) quay sang má tôi cất giọng tha thiết:
- Má, con chào má.
Rồi lại vỗ vai tôi:
- Năm, em Năm, chị mừng em mới về (Tôi thứ năm nên gọi thứ thay vì tên)
Tôi chỉ vào chị Phụng và hỏi:
- Thế thì người nầy là ai, chị có biết không?
Hồn chị Hòa gật đầu và đưa hai ngón tay nói:
- Em với chị, hai đứa mình sanh đôi.
Chị Phụng hỏi:
- Em chết như thế nào? Kể cho mọi người biết đi!
- Đùng, đùng! Em ngộp quá, ngộp quá! Mà lạnh nữa!
Hồn chị Hòa vừa nói vừa lấy hai ngón tay đè sát hai lỗ mũi lại như đang bị ngộp. Chị Phụng hỏi thêm:
- Hồi nãy em nói mừng em Năm mới về, thế thì em có biết nó từ đâu về không?
Hồn chị Hòa trả lời:
- Chỗ mũi cao đó!
Tôi nhớ đến người anh đang ở Mỹ, ngày xưa đi cùng chuyến với chị bị bể, nhưng sau nầy anh ấy đã đi lọt hiện đang bị một tai nạn không nhỏ, nên hỏi thử:
- Vậy, chị có biết anh Hai đang ở đâu không?
- Ở cùng xứ với Năm, nhưng ảnh đã bị thương tích lớn lắm!
Hồn chị Hòa vừa nói, vừa đưa tay làm dấu cắt ngang cổ họng và giọng trở nên khọt khẹt. Thật là lạ, anh tôi mấy tháng trước bị ăn cướp vào nhà khảo tiền, ảnh chống cự lại nên bị tên cướp cứa cổ, may sao anh dùng toàn sức lực chống cự lại nên tên cướp ấy đã đào tẩu, sau nầy đã bị cảnh sát Dallas, Texas bắt được. Thế mà chị cũng biết, thật là tài!
Khi nhắc tới người anh, hồn chị Hòa quay qua má:
- Xin ba má thay con nuôi dưỡng tốt thằng con của con nghe má! Tội nghiệp nó, nó đã không còn cha, còn mẹ nữa.
Tôi chợt nhớ bệnh tình của mình lại hỏi:
- Chị, chị có biết tại sao em bị bệnh không?
- Biết chứ, biết chứ, ở trên muốn lấy ánh sáng em đi lâu rồi, “Cậu” và chị xin nhưng không được. Có nhiều lần chị muốn ăn cắp trái minh châu để giữ lại ánh sáng cho em mà không được. Trái lại còn bị Thánh Cô phạt nặng lắm!
Xác cậu chồm tới nắm chặt vai má tôi rồi nói:
- Thôi, con phải đi ngay, con ở lâu không được. Con chào má, chào chị, chào em.
- Hai chân cô Hồng nhịp một hồi lâu rồi mới ngừng, mấy phút sau thần trí cô trở lại bình thường, cô không biết chuyện gì đã xảy ra. Cô bảo:
- Sao hai chân tôi mỏi quá, phải “Hồn” về đúng không?
Mợ năm nói:
- Đúng rồi! Hồn về nhập xác không lâu được, chỉ năm, bảy phút mà thôi! Để cô Hồng nghỉ khoảng mười lăm phút.
Má tôi lại thắp nhang tiếp tục, lần nầy xin mời vong hồn của cậu Chín, người đã vượt biên và chết chung với chị Hòa năm 1977. Xin nói thêm ở đoạn nầy, trước khi thăng chị Hòa còn làm đẹp, hỏi tôi cây son đâu, hộp phấn đâu! Đưa ra cho chị để chị thoa lên mắt lên môi. Tôi đem toàn bộ ra cho chị lựa, chị làm thật là nhuần nhuyễn, chỉ mấy phút sau gương mặt của cô Hồng trở thành gương mặt của chị Hòa. Chị Phụng nhìn thoáng sững sờ, hoảng hốt phải kêu lên như vậy. Lúc còn sống, chị Hòa thường hay ăn dọn, chưng diện dữ lắm. Môi son má phấn hằng ngày, trái lại cô Hồng là dân nhà quê không biết sửa soạn, làm đẹp. Thế mà qua sự nối kết lạ lùng nầy, cô làm rất thành thạo. Những sự kiện như vậy khiến chúng tôi cũng thắc mắc, và tự hỏi, đây có phải thật sự là chị Hòa không nữa!
Cô Hồng sau phút nghỉ xả hơi, cô trở lại chiếu ngồi trong tư thế như cũ. Cô rùng mình và cất giọng ồ ề, đây là giọng nói của đàn ông chứ không còn là phụ nữ nữa. Thế là cậu Chín đã về, ông chào mọi người và hỏi thăm má tôi về gia cảnh vợ con ông, xin má tôi nhắn lại một số giấy tờ quan trọng ông cất trong bọc ny-lông và chôn gần gốc cây nhãn, bây giờ đào lên đem đốt hết đi. Sau nầy má tôi về Sàigòn có qua nhà vợ ông thuật lại câu chuyện trên, quả đúng như vậy. Câu chuyện của chị Hòa và cậu Chín khi về Mỹ tôi vẫn bán tín, bán nghi, không biết thật sự có đúng chính là oan hồn của họ không nhỉ? Tại sao cô Hồng xác “Cậu” nói đúng thế. Ở đây không phải là cò mồi vì thời đó nhà cậu mợ Năm chưa có phôn, mà nhà má tôi cũng chưa có phôn để gọi liên lạc trước. Cô Hồng xuất hiện rất tình cờ và cấu trúc câu chuyện đã không dàn dựng trước.
Chiều đó chúng tôi từ giã gia đình cậu mợ Năm rồi lên xe về Long Xuyên thăm chồng, thăm con chị Phụng. Anh Sang, chờ đón tôi vào nhà mà hình như muốn khóc, giọng anh nghẹn ngào vừa mừng, vừa tủi. Hồi anh quen với chị, tôi là đứa em gái mới lớn, xinh đẹp, yêu đời. Lại có thêm cái tính nghịch ngợm hay trêu chọc anh mỗi khi anh từ trại giam xuống. Thoáng một cái đã hai mươi mấy năm mới gặp lại, từ lúc anh rời An Thới đổi đi nơi khác thì tôi không còn thường xuyên gặp anh được nữa, mãi cho đến bây giờ. Ngày trở về gặp nhau tình anh em nồng nàn, thắm thiết, nhưng ánh mắt nhung huyền ngày xưa nay trở thành mờ mịt, mông lung. Anh dắt tay tôi vô nhà và vỗ lên chiếc ghế:
- Dì Năm ngồi đây, để anh rót nước cho dì Năm uống nghe. Sao dượng và mấy cháu cũng khỏe chứ?
Tôi cám ơn anh:
- Vâng, chồng, con của em vẫn khỏe.
Tôi đứng lên xin phép bà chị rờ rẫm ông anh rể mình, để xem dung nhan, hình hài có thay đổi gì lắm không? Vì ngày xưa anh ấy rất đô con, rất bảnh trai. Tôi bóp bắp tay anh, anh gồng lên giọng vui vẻ trêu đùa:
- Dì Năm thấy không, anh còn gân lắm chứ bộ, lại phong độ lắm đó dì Năm à!
Chị Phụng từ trong bếp nói ra để hạ bệ ông xã mình:
- Phong độ hả? Phong đòn gánh thì có…
Cả đám chúng tôi cười vui vẻ, nhớ lại thời tuổi trẻ ngày xưa. Thời gian trở về Mỹ cũng cận kề, vì con em chỉ xin nghỉ được ba tuần nên sáng hôm sau má, tôi và chị Phụng trở lên Sài gòn. Anh Sang ra tận bến xe tiễn chân tôi, anh nắm chặt bàn tay, chúc thượng lộ bình an và bánh xe từ từ lăn tới. Tay anh rời khỏi tay tôi và tôi vẫy vẫy bàn tay trong không khí, chị Phụng nhìn theo thấy anh cũng quơ quơ bàn tay của mình. Chiếc xe đò tăng vận tốc, khoảng cách dài hơn, dài hơn và vô tận.
Chiếc xích lô chở bốn người từ bến xe về chợ Phú Nhuận, má tôi mướn một người từ Long Xuyên lên, hồi đi thì ba bây giờ trở về lại bốn. Cơn mưa chiều bất chợt đổ xuống, chiếc nón lá má lột ra đưa cho tôi đội đầu. Má tôi đứng phía sau càng xe, chị Phụng thì ngồi chung với tôi. Còn một người nữa không biết ngồi ở đâu mà ông đạp xích lô nầy tài tình đến thế, nhét cả bốn người ngồi trên một chiếc xe, ấy thế mà ông đạp tới chợ Phú Nhuận cũng nhanh. Tôi nói chị Phụng trả thêm tiền cho ông. Cơn mưa chiều lất phất không làm ướt áo quần, chỉ bám hờ hững trên tóc, trên mi. Không đủ làm sạch những lớp bụi trên mái nhà, cũng như không tẩy rửa cái đói, cái nghèo của dân tộc Việt Nam. Cái hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo càng sâu thăm thẳm. Nghe em, cháu xì xầm tôi ăn mặc không mốt, không sang, không thời trang như những dân đến hộp đêm ở thành phố. Việt Kiều không xài tiền như những tên con ông, cháu cha. Một chai rượu mạnh và mấy cô tiếp viên trong vũ trường đã mất toi hết mấy trăm Mỹ kim. Trong khi người xích lô đạp gò lưng, cong cẳng chỉ được mấy chục ngàn tiền Việt Nam trong một ngày. Đó là “siêu việt”, đó là “đỉnh cao trí tuệ” tiến nhanh, tiến mạnh tiến lên Xã Hội Chủ Nghĩa Vô Sản, để rồi người dân không còn tài sản, không còn miếng ăn.
Tôi đi một vòng chợ Bến Thành mua sắm ít quà để mang về Mỹ. Nhất là những loại khô, những loại mắm và một ít bánh trái đặc sản của quê hương. Dự định chiều hôm sau trước ngày về sẽ đến nhà hàng ăn một bữa cùng với gia đình trước ngày chia tay, nhưng ba tôi lại ngăn: “Thôi, ăn như vậy tốn kém lắm, nói với mấy đứa nhỏ mua cái gì về nhà ăn cũng được rồi!” Chiều hôm đó chị Sương đến báo một tin chẳng vui, ông chồng của tôi từ lúc tôi về Việt Nam thì anh ấy đã bị thất nghiệp. Anh dặn chị đừng nói cho tôi biết, để tôi vui trọn vẹn với người nhà, nhưng hôm nay cũng sắp về Mỹ nên chị nói luôn. Sau khi nghe tin nầy tôi cảm thấy thật là buồn, mình về nước đã tốn kém rồi mà giờ đây ông chồng lại thất nghiệp nữa. Tôi liền bảo Hảo, em gái tôi chở ra bưu điện Sàigòn để gọi phôn về Mỹ gặp ảnh xem sao, luôn thể thông báo ngày giờ để anh ra phi trường đón. Chuyện đúng như chị Sương nói, anh đã thất nghiệp hơn hai tuần nay rồi và cũng đang gởi đơn tìm hãng khác. Tôi đi xe gắn máy, ngồi kiểu đàn ông, ôm chặt con em cho vững vàng. Khi xe về tới nhà tôi bước một chân xuống, chân phải đụng vào ống xẹt-măng cháy xém một mảnh da phía trên mắt cá để thẹo cho tới ngày nay. Hết cái xui nầy lại tới cái xui khác, nhưng không sao, miễn là ba má, chị em tôi vui cũng đủ lắm rồi!
Ngày ra phi trường, cũng những gương mặt ấy cùng một số con cháu dưới quê lên. Ai cũng ngậm ngùi, buồn buồn rơi nước mắt trước giây phút biệt ly. Tôi siết chặt tay từng người, gởi gắm mấy nụ hôn lên gương mặt nhăn nheo của ba má tôi rồi đi nhanh vào bên trong. Tôi phải hành động như vậy để tránh khỏi phút giây bịn rịn, đau lòng và lo thủ tục cân, đo hàng hóa, đóng thuế cá nhân cho phi trường. Lại thêm một thủ tục lạ đời nữa, ở các quốc gia khác đâu có cái thứ thuế nầy, mỗi người tám Mỹ kim, hai chị em tôi còn đúng mười lăm Mỹ kim mà thôi. Vì trước đó bàn bên kia đã xin năm đô tiền trà nước, Thanh em tôi đã cho hết rồi. Tôi nói với các cô:
- Thiếu một đồng, cô qua bên đó lấy lại đi.
Các cô ấy hỏi:
- Thế, chị còn tiền Việt Nam không?
- Cho hết thân nhân tôi rồi.
- Chị ra ngoài kia xem thử, coi họ còn ở đó không xin lại đi!
- Tôi liền trả lời:
- Họ về hết rồi, không còn ai ở đó đâu!
Thật ra thân nhân, cha mẹ tôi vẫn còn đứng bên ngoài cửa kiếng kia, nhưng tôi ghét lối làm việc kỳ cục nầy thành thử tôi bực mình chơi “sát ván” luôn. Cuối cùng mấy cô cũng để cho tôi lên phi cơ. Chi Sương và chị Tuyết cùng về chung chuyến bay với tôi, chị ấy ngồi phía sau, chúng tôi ngồi phía trước. Khi máy bay bò ra phi đạo rồ máy, tiếng động cơ ầm ầm như xé cả không gian cũng là lúc trái tim tôi vỡ ra từng mảnh. Bây giờ tôi không còn đè nén nữa, nước mắt tôi tuôn đầm đìa như mưa tháng bảy. Tôi khóc như đứa con nít, như chưa bao giờ được khóc, mặc tình cho ai dòm ngó cũng kệ! Tôi gọi cha, gọi mẹ, gọi chị, gọi em, có lẽ lần chia tay nầy là vĩnh viễn đối với cha mẹ tôi. Vì hai ông bà tuổi đã khá cao, ngày chung cuộc chắc không còn xa nữa. Tôi hoàn cảnh như thế nầy, một lần về là một lần khó khăn, càng suy nghĩ càng thấy đau quặn con tim, đứt từng đoạn ruột. Dù biết thế nhưng trước ngày chia tay chẳng dám nói lời nào với ba má. Chỉ nói khéo ba má cho con xin một tấm hình bán thân để con giữ làm kỷ niệm (Thật ra để tôi thờ phượng sau nầy) và ba má nhớ giữ gìn sức khỏe, ráng chờ con về thêm một lần nữa!
Qua dòng suy tưởng, tôi thấy từng mảnh ruộng dưới kia, xin thì thầm tạm biệt với tổ quốc Việt Nam: “Quê hương là trường cửu, quê hương là thiên thu, quê hương là bất diệt, là những gì quý báu nhất trong trái tim tôi và trong trái tim của người Việt Nam tị nạn chân chính”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét