Chương Hai
HỘI NHẬP
Máy bay đáp xuống phi trường Waterloo (Iowa) vào đúng giữa trưa. Ngồi đợi gần một tiếng đồng hồ rồi mà chẳng thấy ai ra đón! Chúng tôi đâm ra lo, bồn chồn, sốt ruột. Bụng lại đói meo, trong túi chẳng có một đồng xu, khổ chết đi được! Thằng con trong người nóng hổi vì đang lên ban sởi, nó nằm im thiêm thiếp trong vòng tay của tôi, đôi lúc lại gượng dậy ói cả sữa lẫn thuốc hạ nhiệt Tylenol ra dính đầy cả áo quần. Chiếc áo dài cưới màu hồng cùng với chiếc quần trắng mà tôi đã dùng tấm ra trải giường ở trại Fort Chaffee may thành. Vì nghe nhiều người bảo rằng dân chúng Mỹ rất gớm loại quần đen của phụ nữ Việt Nam ta. Nghe vậy thành thử khi còn trong trại ai cũng mau mau dùng ra trắng để may quần, may áo. Ngoại trừ những kẻ có tiền thì tha hồ mà mua sắm, chớ đâu làm ẩu như chúng tôi! Ông cha ta có nói: “Bần cùng sinh đạo tặc mà!” Chẳng lẽ phải làm con bà phước mãi thế nầy sao? Tôi bảo chàng lấy xấp hồ sơ tìm số phôn của người bảo trợ rồi nhờ nhân viên phi trường gọi đến tư gia của họ xem sao! Bên kia đầu dây ông Marker kêu lên: “Oh my God, i am so sorry, i forgot to pick up the Vietnamese refugees. Please tell them to wait there, we will come very soon.” (Trời đất ơi, tôi quên, tôi đã quên hôm nay phải đi đón người tị nạn Việt Nam. Làm ơn bảo họ chờ ở đó, chúng tôi sẽ đến ngay). Thế là bao nhiêu sự mơ tưởng của chúng tôi tan thành mây khói. Cứ nghĩ rằng khi bước ra từ phòng đợi sẽ có một đội ngũ hùng hậu đứng chờ sẵn, tay bắt, mặt mừng miệng nói: “Hello! Hello! Hi! Welcome! Welcome, How are you?” và một buổi tiệc dù không linh đình lắm nhưng cũng phải có năm, ba món ăn dọn sẵn trên bàn. Nhưng thực tế thì chẳng có gì, chẳng có người mà cũng chẳng có thức ăn! Sự xuất hiện trễ nải, cách ăn mặc xề xòa của hai ông bà bảo trợ khiến chúng tôi vô cùng thất vọng. Trên đường về nhà, họ biết chúng tôi đói bụng nên ghé vào tiệm bán Fast food mua cho mỗi đứa chúng tôi một bánh Big Mac, một gói French Fry và một ly nước ngọt. Sau nầy chúng tôi mới biết đó là tiệm McDonald có mặt nhiều nơi trên thế giới. Thôi cũng đành chấp nhận vậy, vì mình là dân tị nạn mà, là kẻ ăn nhờ, ở đậu, họ giúp mình như vậy cũng đủ quá rồi! Chiếc xe Mercedes màu huyết dụ dừng lại trước một ngôi biệt thự nằm giữa lưng chừng ngọn đồi, hai ông bà mở cửa bước vào nhà, chàng của tôi thấy một thằng boy khoảng 12, 13 tuổi gì đó. Khi thấy chúng tôi nó chào: “Hi!” Chàng của tôi cười phát vào mông nó mấy cái nhẹ nhẹ, rồi xoa đầu để tỏ ra trìu mến thân thiện. Mấy ngày sau mới biết nó là đứa con gái thứ ba của ông bà bảo trợ tên Lynnett. Ông Richard Marker và bà MariLynn, cả hai vợ chồng gốc người Đức, có năm người con, hai gái, ba trai. Đứa trai đầu Bryan 19 tuổi, đứa gái thứ hai Sheila 17, thằng thứ tư Gary 8 và cậu út Andy mới lên năm. Gia đình đông con như thế mà ông bà lại tốt bụng, bảo lãnh thêm bốn người tị nạn Việt Nam chẳng quen biết, mới thấy việc làm nầy thật cao cả, có tinh thần phục vụ tha nhân đúng theo đức tin của người Cơ Đốc Giáo. Họ sắp xếp cho chúng tôi ở dưới basement cũng có đầy đủ tiện nghi: Tivi, tủ lạnh, phòng tắm, bếp lò, máy giặt, máy sấy. Hai tuần lễ đầu chúng tôi ăn bữa trưa và bữa tối với gia đình ông bà Marker, ông bà ta có câu: “Ai thương cũng bỏ ngoài da, cơm thương bỏ tận ruột già, ruột non!” Ăn bánh mì sandwiches với mấy lát dưa leo thì làm sao no cho được? Nên tối nào chúng tôi cũng ôm bụng đói mà ngủ. Tuần lễ sau chàng của tôi đi làm, một tuần sau nữa chàng mới lãnh cái check đầu tiên. Tôi còn nhớ, hình như bảy mươi dollars lẻ bao nhiêu xu đó. Thức ăn lúc ấy còn rẻ lắm, đi chợ chất đầy xe mà chưa tiêu hết phân nửa cái check của chàng. Thằng con của tôi bây giờ đã hơn chín tháng, nó bò tùm lum, quậy phá tưng bừng. Cứ thích bò lên, bò xuống cầu thang như vậy rất nguy hiểm. Con em bạn dì hàng ngày cũng phải đi học, nên trong giờ nấu cơm tôi phải bỏ thằng nhỏ vào trong máy giặt, bắt nó đứng yên trong đó, ló cái đầu ra nhìn mẹ làm việc. Một ngày nọ bà bảo trợ đi xuống định giặt đồ, thấy thằng nhỏ đứng trong đó nhìn ngộ quá bà lẹ làng chạy lên lầu đem cái máy chụp hình xuống, bà chụp mấy “Pô” liền để làm kỷ niệm.
Chàng của tôi sáng, chiều hai buổi được ông Marker đưa đi, rước về, vì chàng làm cho hãng tiện của ông ấy chuyên cung cấp phụ tùng cho hãng sản xuất xe máy cày John Deer nổi tiếng trên thế giới. Mới ở Mỹ mà, nên chàng đâu biết luật lệ lao động ra sao. Trong giờ làm việc, có bạn tới rủ đi chơi thì chàng ta cứ phóng lên xe liền, chạy mấy vòng trong thành phố rồi mới trả chàng về chỗ làm. Đây là mấy ông bạn Việt Nam đã ra trại trước, được nhà thờ bảo trợ nên các người trong họ đạo góp tiền lại cho một gia đình tị nạn mua chiếc xe cũ kỹ đời 1963 làm chân. Chiếc xe nầy hiệu Chevrolet của anh Thọ, phía sau hai bên bè ra như xe Batman, nên bạn bè thường nói đùa là xe Batman. Mấy ông một đời “đi lô ca chưn” nên bây giờ được lái xe hơi ai cũng thích. Vài ba lần bỏ sở trong giờ làm việc, chàng liền bị ông chủ gọi vào văn phòng cảnh cáo, giải thích rõ ràng đời sống, giờ giấc làm việc là phải như thế, như thế… nếu không muốn bị mất job thì phải giữ đúng nguyên tắc, lề luật!
Còn về phần tôi, việc chợ búa thì được sự giúp đỡ tận tình của bà bảo trợ. Bà chở tôi đến chợ Đại Hàn, chợ Nhật Bổn và lại kiếm cho tôi năm, bảy gia đình Việt Nam để tôi làm quen, để tôi bầu bạn, hầu bớt nhớ nhà, bớt nhớ mẹ cha…Nhờ thế mà mỗi tháng một lần chúng tôi đi chung một xe chạy thẳng xuống Des Moines (Thủ Phủ của tiểu bang Iowa) để mua nước mắm, mua bún, mua phở mua thực phẩm Á đông về ăn cho đã cái miệng, cho đỡ thòm thèm mùi hương dân tộc.
Đối với người Việt Nam chúng ta mùi hương dân tộc quá nồng nàn, quá hấp dẫn, mê ly. Còn đối với họ thì ôi thôi mỗi khi tôi nấu thức ăn có nêm nước mắm thì ở trên lầu bà bảo trợ lẹ làng đóng kín cửa lại, còn thằng nhóc tì Andy thì kêu lên: “What is that smell? What is so stinky?” Tôi nghe tiếng bà: “Suỵt, suỵt! Don’t say that, Don’t say that!” Những bỡ ngỡ từ giây phút ban đầu rồi cũng qua nhanh, tôi làm quen với lối đi, lối về chung quanh khu xóm, tôi dắt con đi chập chững trên những con đường ngập lá vàng rơi. Mùa thu ở nơi đây thật đẹp, khoác lên mình màu sắc của thi ca. Tôi nghe trong gió hương thu thoang thoảng, dịu dàng chen lẫn giữa màu xanh bạc hà của rau húng nhũi như vừa tìm gặp lại quê hương ở bên kia nửa vòng trái đất. Tôi mừng quá, thế thì phải ráng nhớ ngôi nhà nầy để mai sau tới gõ cửa xin về làm giống. Vậy là mình vẫn chưa mất quê hương! Biết đâu sẽ có thêm vài loại rau khác nữa! Thật đúng vậy, sau nầy khi chúng tôi dọn ra riêng, ông bà bảo trợ biết tôi thích trồng trọt nên đã thuê cho chúng tôi một mảnh đất nhỏ ngoài thành phố để chúng tôi trồng đủ loại rau, cà, dưa, đậu.
Tháng mười trời bắt đầu lạnh hơn và shopping thì treo bán nhiều kiểu áo quần hóa trang cùng các thứ mặt nạ rất quái đản, dễ sợ. Trời chưa tối mà cả đám con nít kéo tới nhà ăn mặc như một đám ma hoang, chúng gõ cửa, tay xin kẹo miệng lại nói câu: “Trick or treat.” Bà bảo trợ bước ra phát mỗi đứa một ít kẹo, chúng nói cám ơn rồi cả đám kéo nhau đi sang nhà khác. Những đứa quá bé được cha mẹ chúng dắt đi tay cầm trái “bí đỏ” bằng nhựa có ánh nến sáng bên trong. Đây là tập tục của ngày lễ Halloween tức lễ Ma giống như bên nước ta là ngày rằm tháng bảy cúng thí cô hồn.
Hết tháng mười rồi lại tới tháng mười một lễ gà tây tức là Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving). Trong ngày nầy gia đình nào cũng phải có bữa ăn bằng món gà tây đút lò với các món phụ khác như bánh mì, đậu, bắp, khoai lang nghiền, xà lách, và cranberry sauce. Cuối cùng tráng miệng bằng bánh pumking pie. Sau khi đi nhà thờ, buổi trưa ông bà dọn sẵn một bàn với ê hề thức ăn, mời gia đình chúng tôi ngồi vào bàn. Con gà tây vàng nâu nằm trong dĩa lớn hình oval, da căn phồng trông thật hấp dẫn. Hai cái ức vun lên đầy thịt, bà đưa dao lạng thật khéo cho vào dĩa chúng tôi, rồi rưới nước xốt gravy lên. Chàng của tôi ăn liền không khách sáo chút nào hết. Ngoài cửa sổ tuyết bắt đầu rơi, chỉ một chặp sau tuyết ngập trắng cả con đường. Lần đầu tiên chúng tôi mới thấy tuyết, tò mò tôi chạy ra nắm một nắm trong tay. Hình như nó chẳng khác gì nước đá bào của mình, nếu đem vo tròn thành cục lớn, cho lên một ít xi rô cam thì sẽ gợi nhớ lại thời còn đi học. Những ngày gần cuối năm nước Mỹ có nhiều lễ lớn như Lễ Giáng Sinh và Tết Tây. Ngày Lễ Giáng Sinh hầu hết gia đình Việt Nam chúng ta đã biết. Phố xá tưng bừng, hoa đèn giăng mắc khắp nơi. Shopping thì đông đúc kẻ mua, người bán, quà cáp, đồ chơi, áo quần, bánh kẹo mặc sức mà tung ra. Kinh tế quốc gia dựa vào mấy ngày nầy để đặt chỉ tiêu cho năm sau đó. Mặc dù chúng tôi là người ngoại đạo, nhưng vẫn hòa nhập vào dòng chảy của khách mua, sắm. Thường ngày ngồi xe qua, lại khu shopping nầy, chờ cuối tuần chúng tôi mũ áo chỉnh tề, kín chân, kín cổ làm một chuyến cuốc bộ đến khu mua sắm kia. Đường đi trơn trợt, chúng tôi chưa có giầy đi tuyết nên hai đứa cứ thay phiên nhau “chụp ếch”, eo ơi tội tình gì hỡi trời? Cái tội là thích ham vui…Con đường tưởng đâu gần nào ngờ xa quá sá là xa. Khi ngồi trên xe, thoáng một cái thì đã tới nơi, còn bây giờ sao mà xa thăm thẳm. Trời thì lạnh cắt da, tuyết xuống ngập đầu gối, tôi thều thào: “Mệt quá, lạnh quá hay là mình trở về đi!” Chàng khích lệ: “Sắp tới rồi, ở đằng trước đó thấy không?” Chúng tôi đến được shopping tìm chỗ ngồi thở dốc, hai bàn chân không còn cảm giác, má, mũi thì đỏ như trái cà chua. Nhìn người đi mua sắm tấp nập, kẻ qua, người lại thấy chẳng ai giống mình, rõ là dại thiệt. Mùa Noel năm ấy sẽ không bao giờ quên, sẽ nhớ mãi trong đời!
Có lẽ ông bà bảo trợ của chúng tôi thuộc thành phần Trưởng Lão trong hội Baptist Church nên tối thứ sáu nào cũng thấy khoảng gần chục người đến nhà, đem Kinh Thánh ra học hỏi, bàn luận cùng nhau. Trong thời gian ở chung, chúng tôi được mời đi nhà thờ đúng ba lần. Lần thứ tư chàng của tôi có cái cớ để dễ dàng từ chối mà không sợ mích lòng ông bà chút nào hết. Số là một ngày kia bà đọc báo thấy có bán một bàn máy may cũ, kèm luôn thùng đựng đồ phụ tùng như kim, chỉ, dao, kéo v. v… Thấy giá cũng rẻ bà mua về tặng tôi. Tôi mừng quá, liền lấy cây kéo ra thực hành ngay, kéo chỉ để cắt vải, tôi thì cần cắt tóc nên đem đầu tóc thằng con ra thử liền. Con nít ít tóc nên cắt bum bê dễ ẹt, chạy một đường kéo từ mảng tóc bên má phải qua tới má trái là được, còn phía trên trán tôi cho một mái ở giữa lưng chừng là xong. Con nhỏ em gái cũng thế, tôi cũng đem ra cắt rập khuôn, coi cũng được lắm quý vị ạ!
Đến lượt chàng thì tính sao đây? Chẳng lẽ cắt bum bê! Giống đàn bà lắm, không được! Tôi bảo chàng đi tìm mua cho tôi cái tông đơ. Bỏ mấy ngày weekend chàng cũng kiếm ra được mang về giao nó cho tôi. Tôi hồi tưởng lại ngày xưa ở dưới quê, ba tôi có tám người con, để khỏi tốn tiền hớt tóc ông lên chợ quận học lóm một ngày với anh bạn đang hành nghề. Thấy có mòi chắc ăn, ông mua đầy đủ dao cạo, kéo cắt, tông đơ và cái bông nhồi phấn mang về. Chiếc ghế đẩu đặt ngay dưới gốc mít, tám đứa con sắp hàng ngang đứng trước mặt ông. Ông lôi thằng con lớn ra hớt đầu tiên để làm gương cho các em khỏi phải sợ. Hễ con trai thì húi cua, con gái thì bum bê. Ông lấy cái bông tẩm đầy phấn khô dặm dặm trước trán rồi chà về phía sau ót và bắt đầu đưa tông đơ lên đẩy. Tôi thấy ngón tay cái cùng ngón trỏ và giữa của ông nhắp nhắp, nhúc nhích thế mà một chặp sau cái đầu của anh tôi tròn trịa, đều đặn và đẹp đẽ lắm! Lần lượt rồi cũng đến phiên mấy chị em tôi. Giữa trưa hè thanh vắng, có tiếng gáy ó o của con gà trống sau vườn hòa theo tiếng kêu úi da, úi da của chúng tôi khi thấy mũi kéo và mặt bàn tông đơ lạnh ngắt chạm vào da. Chúng tôi bắt đầu uốn éo, rụt cổ, rùng vai, ba tôi ký lên đầu một cái cốc. Có đứa nín thinh, có đứa òa lên khóc, nước mắt, nước mũi tèm nhem.
Viết tới đây tôi thấy nhớ ba tôi quá chừng! Bây giờ thì hình ảnh thân thương đó đã không còn nữa, có còn chăng là những hạt bụi phấn năm xưa đọng mãi trong mắt, thỉnh thoảng đã làm tôi rơi lệ. Mình đang nói chuyện vui mà sao loay hoay dẫn tới chuyện buồn nầy vậy kìa? Thôi, xin trở lại câu chuyện hớt tóc chàng. Cái tông đơ ngày xưa của ba tôi là cái tông đơ bằng tay, còn cái nầy chàng mua là bằng điện, nó quá bén nhạy, nên cuối cùng cái đầu của chàng chẳng giống ai, chỗ thấp, chỗ cao, bên dầy, bên mỏng. Nhất là tóc chỗ mang tai thì trụi lủi, khiến chàng dở khóc, dở cười. Cũng may tháng đó đang là mùa lạnh nên lúc nào chàng cũng phải đội mũ len để ngụy trang. Đây là cái cớ để chàng từ chối không đi nhà thờ nữa!
Năm đầu tiên trên đất khách, khi mùa xuân trở về, chúng tôi gồm mười mấy gia đình quay quần lại tổ chức một buổi tiệc đầu năm, mời các ông bà Sponsors dự tiệc để tỏ lòng biết ơn và giới thiệu Tết truyền thống của mình. Tôi được giao “trọng trách” làm nước mắm để ăn chả giò, ăn gỏi sứa tôm thịt. Dù Tết truyền thống chúng tôi lại chẳng có được những món truyền thống như: Bánh chưng, bánh tét, chả lụa, mai vàng, pháo đỏ và cả mấy bao lì xì nữa. Tuy nhiên các món khác thì cũng hậu hĩ lắm, mấy ông bà Mỹ cầm chén nước mắm lên húp nghe xùm xụp thấy mà phát thương. Sau bữa tiệc họ xúm lại hỏi: “Nước sauce đó là nước gì sao mà ngon thế? Tôi cười trả lời: “Dạ thưa ông, bà fish sauce đó ạ!” Các cụ nhìn nhau thoáng cau mày, nhưng miệng vẫn nói: “Very good, very good!” Từ đó về sau tôi được tặng cho cái hảo danh là: “Chị Hương Nước Mắm!” (Vì tên chàng là Hương). Hễ có tiệc tùng gì trong nhóm của chúng tôi, các bác, các chị đều giành cho tôi cái độc quyền pha nước mắm. Xin quý bạn đừng hỏi bí quyết pha nước mắm nhé! Tính ra ba mươi mấy năm, thời gian quá lâu đã quên tuốt luốt rồí.
Chúng tôi sống
chung với ông bà đúng sáu tháng rồi cũng phải dọn ra riêng. Bà bỏ công đi tìm apartment
cho chúng tôi, đặt tiền cọc, trả tháng đầu. Ngày rời khỏi, ông Marker cầm tấm
check hai ngàn năm trăm Mỹ kim đưa cho chúng tôi và bảo rằng: “Đây là tiền tị nạn của người Việt Nam được
hưởng”. Nhờ số tiền ấy mà vài tháng sau chúng tôi mua được một chiếc xe hơi
cũ 4 cửa, hiệu Impala do hãng Chevolet sản xuất. Trước khi mua xe, ông chủ tập
cho chàng lái suốt hai tuần lễ, xe mua được rồi mà bằng lái thì chưa có. Không
bằng thì cứ chạy có sao đâu, vì trước kia chàng đã từng lái xe Jeef, xe Dodge rồi
mà! Thế nên chiều chiều chàng chở vợ, chở con chạy ào ào trên freeway mà chẳng
thấy ông cảnh sát nào chận lại, thật là hú hồn. Nói nhỏ các bạn nghe nhé! Chàng
của tôi thi ba lần mới lấy được cái bằng lái xe tại đất nước Cờ Hoa nầy đó bạn ạ!
Lỗi của chàng là cứ cán lane. Còn khi bẻ cua quẹo thì quá sát lề, nên thi lần
nào cũng bị đánh rớt. Phần tôi thi một lần là đậu, hách chưa! Nhớ ngày hôm ấy
tôi đòi đi thi, chàng khi dễ: “Mười năm nữa
em mới đậu được em ơi!” Tôi nhờ người bạn chở ra DMV và khi về vừa bước vô
nhà chàng của tôi hỏi ngay: “Sao, rớt rồi
phải không?” Tôi thảy bằng lái xe mới cáu cạnh xuống trước mặt chàng: “Em đã đậu rồi đây nè!” Chàng quê một cục,
ngoe nguẩy bỏ đi.
Khi bất chợt bạn thấy hoa Tulip nở trong vườn nhà ai, thì đó là dấu hiệu mùa xuân đã đến, không khí vui tươi, vạn vật như bừng dậy sau mùa đông dài giá lạnh. Cỏ cây đâm chồi nẩy lộc, hoa lá cũng kết nụ khoe hương. Chim chóc líu lo trên cành như chào đón mùa xuân mới, rồi cũng có những cơn mưa phùn dai dẳng kéo về khiến lòng người tăng thêm nhịp sống và lòng khách tha hương nhớ nhà thêm thắm thiết.
Xứ người hồn lịm chết
Những tháng đầu mùa xuân
Cơn mưa phùn dai dẳng
Nhớ nhà mắt rưng rưng
Cành non vừa trẩy lá
Hoa chớm nở tưng bừng
Mưa vẫn rơi lả tả
Chim hót chào mùa xuân
Trong hồi sinh vạn vật
Sao nghe lòng thê lương
Nơi đâu cũng trời, đất
Nơi đâu là quê hương?
Những sinh hoạt ngoài trời bắt đầu khởi sắc, thời gian nầy kéo dài đến giữa mùa thu. Chúng tôi đã làm quen với đời sống mới. Ngày đi làm, đêm về ghi danh học sinh ngữ kiếm thêm vốn liếng tiếng Anh để giao tiếp với người bản xứ. Trong dịp nầy chúng tôi có cơ hội gặp hai vợ chồng anh chị Nguyễn Hiển, người mới đến từ tiểu bang Connecticut . Anh là thông dịch viên của Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ ở Nha Trang, chị Hiển cũng là cô giáo, vì thế nên hai gia đình chúng tôi kết thân ngay từ ngày tháng đó. Hơn nữa hai nhà lại có hai đứa con nít trạc tuổi với nhau. Đằng ấy có cô con gái nhỏ nhắn, dễ thương, còn bên tôi có cậu con trai hiền lành, nhút nhát nhưng lại “Handsome boy”. Mấy năm sống ở đây nên chúng tôi trở thành hai gia đình chí thân, ăn chung mâm, ngủ chung giường và tắm chung trong một dòng sông, tưởng đâu sau nầy trở thành sui gia với nhau thì tốt biết mấy. Nào ngờ chúng tôi rời Waterloo sớm quá, bây giờ chỉ còn: “Tình già xứ bắp” mà thôi! Sau mấy chục năm, anh chị ấy vẫn ở lì một chỗ, chẳng chịu đi đâu hết. Chẳng lẽ cạp bắp suốt đời hay sao? Tôi không nghĩ thế! Vì bây giờ đã già rồi, còn răng đâu mà cạp. Có lẽ một ngày đẹp trời nào đó tôi sẽ nhận được tin: “Chàng và nàng chào thua cái lạnh, bay lẹ về miền nắng ấm CaLi không chừng!”
Xin được nhắc lại,
lúc còn ở bên ấy chúng tôi có một kỷ niệm khó quên! Tuổi trẻ tính hay hiếu kỳ hễ
thấy cái gì lạ lạ, hay hay, trần tục một chút là chúng tôi xôm tới ngay. Mỗi chiều
thứ sáu có cái Club ở thành phố Waverly thường tổ chức nhảy sexy, chúng tôi mang
hai trự con nít gởi cho Babysit, dông lên thành phố đó để nhào vô coi. Bên nước
mình mấy cô giáo hiền như Ma sơ làm gì thấy cái cảnh trần trần, trụi trụi giữa
nam và nữ hai thân thể uốn a, uốn éo, lắc lắc, lư lư rồi chồm lên, khòm xuống
chổng mông, ưỡn ngực, khiến cô giáo Hiển nhà ta khi về quên luôn cái bóp, đến
lúc nhớ ra thì đã tới nhà rồi. Hai vợ chồng liền quay đầu xe trở lại, dọc đường
nàng mới thố lộ thở than: “Lạy trời đừng
mất! Lạy trời đừng mất! Vì trong bóp của em có tới mười mấy ngàn đô la đó thưa
anh chị”. Lúc bấy giờ chúng tôi mới biết mình đang chơi với nhà giàu, vì thời
đó mười ngàn đô la lớn lắm phải không các bạn? Khi đến nơi, nàng chạy ngay tới
chỗ ngồi tìm cái bóp, cái bóp đã biến mất. Lúc ấy ánh đèn đang chuyển qua màu
xanh và mặt nàng cũng xanh mét. Anh chồng giỏi tiếng Mỹ đi tới quầy Cashier hỏi
thăm người thâu ngân. Chị ta đang nói chuyện ầu ơ với khách, quay mặt ngó xuống
quầy cầm cái bóp đưa lên hỏi: “ Is this
yours?” (Phải cái nầy không?) Hai vợ chồng gật đầu lia lịa: “Yes, Yes, It is! Thank you, thank you very
much…” (Đúng rồi, đúng rồi! nó đó! Cám ơn, cám ơn nhiều) Dù chưa mở bóp ra
kiểm soát, nhưng vừa thấy nó đã mừng lắm. Anh chị đem vào restroom coi lại, số
tiền còn y nguyên. Thật là một phen hú tim!
Memorial Day là ngày lễ Chiến Sĩ Trận Vong rơi vào đầu tuần của cuối tháng năm. Nước Mỹ đã tham dự vào hai cuộc chiến lớn của thế giới nên có rất nhiều người lính đã hy sinh. Để tưởng nhớ đến họ, Quốc Hội Hoa Kỳ đồng ý vinh danh các anh hùng tử sĩ vào ngày trọng đại nầy. Có những vòng hoa đặt trên các Tượng Đài Tưởng Niệm, có những bó hoa mang đến mộ phần của người quá cố từ các cha mẹ, vợ con hay bạn bè thân quyến. Tôi chợt nhớ những nấm mộ của các tử sĩ miền Nam đang nằm nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa giờ nầy ai thăm viếng? Ai thắp lên một nén hương để ấm vong linh người đã mất! Chắc không có ai, vì bao triệu con người còn ở lại họ cũng quắt quay trong cơn bão dân tộc vừa qua. Bất giác tôi mủi lòng muốn khóc.
Chiến Sĩ Trận Vong đổ máu hồng
Chết vì tổ quốc rạng non sông
Tháng Năm dân Mỹ thường đi đến
Thăm viếng nghĩa trang tỏ tấm lòng
Chúng ta cũng phải nhớ công lao
Tử sĩ miền Nam đổ máu đào
Người chết cho chúng ta được sống
Bây giờ yên ấm đành quên sao?
Mason City là một town nhỏ nằm về phía tây bắc của Waterloo, lái xe gần hai tiếng đồng hồ. Nhân dịp nghỉ lễ, ông bà Marker đưa chúng tôi về thăm quê nhà thời thơ ấu của họ. Nơi đây ông còn mẹ già trên tám mươi tuổi và một người chị gái không chồng. Mẹ ông là người gốc Nga, cha người Đức, có lẽ họ găp nhau trong thời kỳ Đệ Nhất Thế Chiến. Con đường đất khá rộng bằng phẳng nằm dưới bóng mát của hai hàng cây cổ thụ, vài chiếc lá buông cành bay theo cơn gió trưa hè trong cảnh thanh vắng, yên tịnh của đồng quê. Chiếc xe ngựa với người đàn ông cọc cạch, chậm chậm đi tới, ông bà Marker quay cửa xe đưa tay ra ngoài chào nhau cười thân thiện. Chúng tôi vào nhà chào bà cụ và người chị gái của ông. Chị ấy đang lui cui cắt, tỉa một số hoa tươi trồng ngoài vườn, cho vào bình rồi bưng lên để trên chiếc tủ gỗ cũ kỹ đặt sát góc phòng. Ba bức ảnh của ba chàng trai khôi ngô, giống ông Marker lắm, họ là sĩ quan của quân đội Mỹ đã hy sinh trong Đệ Nhị Thế Chiến vừa qua. Họ là con yêu của tổ quốc Hoa kỳ, dù gốc gác trước đó của họ là dân tộc nào, nhưng khi vào xứ sở nầy thì phải đóng góp máu xương, có lòng ái quốc, phục vụ cho đất nước nầy. Quả là một truyền thống sáng chói, không uổng công cho các bậc tiền nhân đi dựng nước Hoa Kỳ mấy trăm năm về trước.
Không khí hè của miền
Trung Bắc nước Mỹ thật là ngột ngạt, khó chịu. Mồ hôi cứ ươn ướt dính da, dù
Waterloo có một con sông cũng khá lớn chảy ngang qua giữa lòng thành phố, chia
Đông và Tây ra hai phần để phân biệt được số người trí thức hay bình dân. Da trắng
hầu hết ở vùng phía Tây, còn phía Đông là địa bàn của người da đen. Chúng tôi
là dân da màu nên ở giữa lưng chừng. Ngày đó nấu một nồi phở thì rẻ lắm, chịu
khó lái xe mười mấy miles lên gần thành phố Waverly, nơi ấy có tiệm bán thịt bò
tha hồ mà lấy free xương ống và xương đuôi về nấu phở ăn mệt nghỉ. Chúng tôi phải
nghĩ cách làm giá sống. Cũng dễ thôi! Cứ ngâm đậu xanh một đêm, hôm sau lấy cái
rổ để chiếc khăn lông ướt vào, trải đậu lên chừa một phần khăn, sau đó trùm kín
đậu lại. Đặt rổ đậu vào một cái thau để chỗ ẩm thấp, không cho ánh sáng lọt
vào, hàng ngày hai lần rưới nước lên, chỉ ba ngày sau chúng ta sẽ có giá tươi để
ăn phở. Chúng tôi cũng có cái màn đi mua heo tận nông trại. Cả đám chung tiền lại,
đề cử một người năng động, dạn tay mới dám làm việc ấy. Huyết heo làm dồi, còn
bộ đồ lòng thì nấu cháo, thịt nạc thì chia đều mỗi nhà một ít, eo ôi, heo tươi
ăn thật là ngon! Đó là những ngày cuối tuần dân tị nạn mình mới có
thời giờ gặp nhau ăn nhậu để quên cảnh xa nhà, quên kiếp tha hương.
Ngày 4 tháng 7 năm 1976 là ngày ăn mừng Lễ Độc Lập của Mỹ vừa tròn 200 tuổi. Chúng tôi lấy một tuần vacation đến thăm vợ chồng Trung úy Giàu tại thành phố Wheaton (Illinois) người đã đi chung cùng chuyến tàu với chúng tôi từ An Thới. Nhờ vậy mà chúng tôi được thưởng thức một đêm đốt pháo bông thật là ngoạn mục. Gần trăm ngàn người ngồi bệt dưới sân cỏ, hướng mắt lên bầu trời chờ đợi. Bất chợt tiếng nổ đùng, đùng, bụp và ánh sáng đủ màu tỏa ra có hình dạng như lá cờ của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Tiếp theo sau là hình tượng Nữ Thần Tự Do. Dưới ánh sáng kỳ ảo muôn màu của pháo bông, từng chùm bung ra sáng rực kết thành nhiều hình thể khác nhau, từ trên độ cao rớt xuống chầm chậm rồi nhạt nhòe, rồi tan biến. Cứ như thế pháo hoa nầy vừa biến mất thì pháo hoa khác lại xuất hiện. Hơn tiếng đồng hồ chúng tôi mê mải say sưa chiêm ngưỡng. Lần đầu tiên trong đời thấy cuộc đốt pháo bông quá vĩ đại, quá đẹp mắt như thế nầy. Mấy trăm triệu đô la nước Mỹ vừa đốt sạch trong vài tiếng đồng hồ, quả là một nước phung phí nhất thế giới! Người dân của Mỹ làm nhiều mà chơi cũng nhiều. Hè chơi theo hè, đông chơi theo đông…
Sau Lễ Độc Lập July 4, kế tiếp là Lễ Lao Động rơi vào thứ hai đầu tuần của tháng 9. Thông thường chính phủ Mỹ cho nghĩ ngày đầu tuần hay cuối tuần để người dân có cơ hội được nghỉ bắc cầu luôn. Thí dụ như từ thứ năm tới thứ sáu kéo dài tới thứ hai, rồi sau đó mới trở vào làm việc. Bốn, năm ngày nghỉ như thế dân chúng mới có cơ hội đi xa thăm cha mẹ, bạn bè hoặc thắng cảnh để có dịp tiêu tiền. Đi như vậy để nuôi dưỡng nền kinh tế của quốc gia mình. Còn chúng ta thì ăn chắc, mặc bền, có thói quen ở đâu thì ở đó, ít khi ra khỏi tỉnh, quận, xóm, làng. Chỉ có những lúc cần đi thì phải đi thật xa, xa nửa vòng trái đất để làm kiếp đời tị nạn, lưu vong!
Gia Đình ông bà bảo trợ
Ông bà Marker - Marilynn
![]() Bé Vũ đứng trong máy giặt |







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét