Chương Bốn
NẮNG ẤM CALI
Đoạn đường dài gần gấp đôi chiều dài của nước Việt Nam, ngày lái gần sáu trăm dặm, tối chui vào khách sạn, thế mà phải mất hết bốn ngày, ba đêm chúng tôi mới đến được tiểu bang California. Thành phố San Jose đất lành chim đậu, những con chim Lạc bay về vùng đất ấm, cũng như tổ tiên ta mấy ngàn năm trước xuôi Nam lập thành giang sơn cho con cháu Lạc Hồng về sau.
San Jose là điểm chọn, nó còn được mệnh danh là Thung Lũng Hoa Vàng, đồng thời còn có cái tên rất hãnh diện, tự hào bởi vì hầu hết những bộ óc giỏi nhất được qui tụ về đây. Silicon valley tức là “Thung Lũng Điện tử”. Vì thời đó các hãng điện tử bắt đầu nở rộ và người Việt khắp nơi được tin nên nhiều gia đình đã tung cánh chim tìm vùng đất hứa. Chồng “Tách”, vợ “Ly” (Technician và Assembly). Có người đến trường để học nghề điện tử, có người học qua bạn bè, thế mà khi interview người trước bày cho người sau hoặc khi ra trường chưa có kinh nghiệm làm việc thì cứ khai đại vào resume rằng đã làm một, hai năm cho hãng nào đó…Rút cuộc, người nào cũng được thuê mướn hết. Người Việt mình vốn thông minh, tháo vát và cần mẫn nên công việc nầy rất thích hợp với họ. Hầu hết ai cũng ăn nên, làm ra vì nhờ cái nghề nầy. Hai tuần lễ đầu chúng tôi ở tạm nhà anh chị Phạm Quang Hiền người đã đi trước chúng tôi (Anh Hiền sau nầy là Chủ tịch của Fair Lending Mortgage Company) . Sau khi thuê được apartment ở đường số 5, cạnh trường đại học San Jose State. Chàng của tôi vì đã tốt nghiệp tại trường Hawkeye Tech ở Iowa nên khi sang đây chàng có job ngay, còn tôi vừa làm bà “nội”, vừa làm bà mẹ, vừa làm bà vợ. Vậy mà vẫn phải cắp sách tới trường học nghề ban đêm vì ban ngày còn phải lo cơm nước cho chồng, cho con nữa chứ!
Tôi học mỗi tuần hai buổi tối, suốt mười bốn tháng trời, ghi danh từ lúc chưa có bầu đến khi sanh xong mà vẫn còn đi học. Tôi học tại trường Bay Valley Tech tận thành phố Santa Clara. Mấy tháng đầu cấn thai, tối nào đến lớp cũng phải chạy vào toilet để ụa, mửa, thật là xấu hổ quá chừng! Trước ba tuần thi mãn khóa học, thế mà thằng nhỏ lại chui ra, sanh đẻ xong sau mấy ngày tôi còn ở nhà thương mà vẫn phải cầm quyển sách tiếng Mỹ dầy cộm, đọc mờ cả mắt. Mấy tuần sau làm lễ ra trường, cùng thời gian thằng bé vừa tròn một tháng. Nước da thằng nhóc ngăm ngăm làm sao ấy! Thật giống...Vì buổi khai trường xui cho tôi, cái người ngồi sát bàn tôi là tên Mỹ đen, cao, to, tóc quăn, môi miệng thừ lừ. Hắn ngồi ở đó suốt mấy tuần lễ, thời gian sau chẳng thấy hắn đến lớp nữa. Thế mà hắn để lại cái hơi hám, cái sắc tố của màu da nhuộm vào thằng con của tôi thật là tội nghiệp. Nhưng thằng con càng lớn thì nước da càng mởn, mặt mày, tướng tá thì giống y chú Lào của nó, em ruột của chàng. Thật hú vía! không thôi thì “Oan ơi Thị Kính”. Bác Nhữ, người quen biết lâu năm với gia đình thường bảo: “Thằng nhỏ nầy nếu lạc ở chợ Vĩnh Điện sẽ có người dắt về nhà cậu Lào, vì nó giống cậu ấy quá!”
Thực tế thì thằng nhỏ không lạc ở chợ Vĩnh Điện mà lạc ở bãi biển Santa Cruz. Năm ấy thằng bé sấp xỉ bốn tuổi tôi mới vừa mua cho cây cà rem, đang đứng chờ tiền thối thì thằng nhỏ đã lạc giữa dòng người đông đúc. Cha mẹ, anh em túa nhau đi tìm, thằng bé thấp tí teo đi lẫn khuất giữa hàng trăm người thật khó mà trông thấy. Chúng tôi vừa đi vừa gọi tên và lắng nghe coi có tiếng khóc của trẻ con hay không, nhưng đã mười phút trôi qua vẫn chưa tìm được cu cậu. Sau một hồi chúng tôi gặp được thằng con, chúng tôi mừng hết sức, nhưng chưa lộ mặt, âm thầm đi phía sau theo dõi cu cậu. Thằng nhỏ vừa đi vừa liếm cây cà rem, mắt nhìn người qua lại dáng vẻ như kiếm tìm cha mẹ, anh em nhưng không lộ vẻ gì lo lắng, sợ sệt, thỉnh thoảng lại ngó vào mấy gian hàng chơi game. Chúng tôi chạy tới bồng thằng con lên hỏi: “Con lạc ba mẹ sao không sợ, không khóc?” Thằng nhỏ ngây thơ trả lời: “Tại con mắc ăn cà rem mà!”
Khi tìm được thằng con rồi thì tôi mới hay mình đã đánh rơi mất sợi dây chuyền vàng 18 kara, có đính thêm một hột xoàn nho nhỏ chỉ 4 ly rưởi mà thôi. Sợi dây nầy tôi mua vào năm 1976 tại Waterloo, Iowa, lúc đó lương của chàng một tháng bốn trăm mỹ Kim mà sợi dây nầy đã hết ba trăm rồi, nhưng so với bây giờ cũng chẳng là bao. Thật ra giá trị của nó là ở chỗ thời gian và kỷ niệm. Suốt bao năm lúc nào tôi cũng đeo ở cổ, thế mà hôm nay đi chơi biển làm mất sợi dây chuuyền nầy thì thật đáng tiếc. Bãi biển mùa hè rất đông người, kẻ qua người lại tấp nập dễ gì mà tìm lại được! Nói thế nhưng tôi vẫn bảo các con túa ra đi tìm, còn phần chàng thì xuống bãi cát nơi mà hồi nảy chúng tôi đã ngồi. Thật là một điều may mắn và hi hữu. Chàng đi từ xa nhìn thấy một vật gì sáng lấp lánh dưới ánh nắng ban trưa, chàng chạy nhanh tới thì quả đúng là sợi dây chuyền nhỏ nhắn của tôi còn luôn cả mặt hột xoàn. Chàng nhặt lên và vội vàng chạy nhanh về chỗ tôi đang ngồi hí ha hí hững nói lớ: " Ồ may quá, anh đã tìm được rồi nè" Tôi mừng quá liền cầm lấy đeo nhanh vào cổ. Đúng là số mình không mất của, nếu bàn chân ai đó vô tình dẫm lên thì coi như sợi dây chuyền nầy đã bị cát chôn vùi rồi, làm sao mà chúng tôi tìm thấy được? Chiều hôm đó trên con đường về nhà, chúng tôi ghé vào tiệm ăn Botown ăn một bữa no nê, có cả tôm hùm và cua biển để mừng chuyện mình không mất của…
Xin trở lại chuyện thằng con, ngày ra trường cũng là ngày baby shower, giáo sư đứng lớp tên ông ta là gì mà hôm nay tôi đã quên mất cùng đám bạn học chung, ai cũng đã làm ba, làm má người ta rồi. Tất cả chung tiền lại mua cho thằng cu tí của tôi mấy bộ áo quần có in nhiều hình vẽ như mặt trăng, mặt trời, Solar System và phi thuyền cùng đường quỹ đạo, cũng có nhiều hình máy móc Hi-Tech khác…Trong buổi tiệc ngọt, có nghĩa là cái gì cũng ngọt, bánh ngọt, nước ngọt và những lời nói ngọt ngào, thân thiện. Ông thầy đứng lên cám ơn các môn sinh đã cho ông tháng ngày bình yên, không quậy phá. Đoạn ông quay sang tôi: “Xin chúc mừng bà đã cho ra đời một đứa con trai trong suốt thời gian là học trò của tôi. Hy vọng mai sau thằng nhỏ lớn lên sẽ trở thành khoa học gia, vẽ đường đi, đường về cho phi thuyền con thoi, hay phi hành gia hoặc tệ lắm cũng là kỷ sư design các máy móc tối tân trong ngành Hi-Tech sau nầy”. Lời chúc mừng ấy hôm nay chẳng linh nghiệm gì cả. Thằng nhóc lớn lên mê computer như điếu đổ, bán computer, sửa computer và mê chơi games trong computer. Có nghĩa là trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ, con người nó dính liền với computer hết hai mươi tiếng, chỉ còn lại bốn tiếng ăn, ngủ, tắm, rửa mà thôi. Đúng như ông thầy bói nói lúc nó chưa có mặt ở cuộc đời nầy: “Về sau bà sẽ nhờ thằng con thứ ba”. Thật đúng vậy, nó là đứa dư giả nhất nhà, là “Ông chủ ngân hàng”. Quý bạn có biết tại sao không? Chuyện dễ hiểu thôi, Vì nó đâu còn thời giờ để ra ngoài tiêu tiền nữa. Cha mẹ, anh em cần mượn tiền nó cũng cho nhưng phải ký giấy nợ! Quý bạn nào có con gái nên lien lạc với tôi để có được thằng rể quỷ, chứ không phải rể quý đâu nhá! …
Trở lại vấn đề trên, sau khi ra trường tôi bắt đầu xông vào đội ngũ áo xanh (công nhân viên, thợ thuyền). Vợ làm ngày, chồng làm đêm, chúng tôi thay nhau giữ đám nhóc tì để khỏi tốn tiền trả babysit. Chung cư hai phòng thời đó chỉ khoảng ba trăm Mỹ kim một tháng, chỗ chúng tôi ở là đường số 5 cạnh trường đại học San Jose State. Ông manager chung cư là sinh viên người da trắng tuổi ngoài ba mươi, có bà bạn gái “over size” cũng da trắng, thỉnh thoảng chị ta tới ở với ông. Vì là apartment nên phòng liền phòng, vách sát vách. Từ lúc cậu em trai được tôi bảo lãnh ra khỏi trại Mã Lai, hắn chưa đủ tuổi uống bia, nhưng có thể vào rạp coi các phim truyền giống, ngặt một nỗi thằng nhỏ còn trong trắng, em hiền như thầy tu, chưa biết yêu lần nào. Tạm thời cho nó ngủ chung với mấy thằng boys của tôi sát cạnh phòng ông sinh viên manager. Cứ cách vài hôm thằng em thật thà hỏi:
- Bên phòng kia chắc có người bệnh?
Tôi hỏi lại:
- Sao cậu mầy biết?
Nó nói:
- Vì em thường nghe có tiếng người hay rên, la vào ban đêm!
Tôi cười cười:
- Họ bệnh thì kệ họ, cậu mầy lo làm chi, để ý làm gì? Cứ thẳng cẳng ngủ khò sáng mới đủ sức đi làm, đi học, biết không?
Cậu em cải lại:
- Âm thanh lớn quá làm sao mà ngủ được?
Tôi trả lời:
- Thì cậu mày cứ coi như tiếng kêu của hai con mèo hoang trên mái nhà ai vậy mà!”
Chắc có lẽ nhờ mấy chục cuốn chả giò mà thỉnh thoảng tôi mang sang biếu cho ông nên sau khi tốt nghiệp ông lựa chọn chúng tôi để nhường lại chức manager. Trách nhiệm của manager là thâu tiền nhà hàng tháng, giữ gìn vệ sinh sạch sẽ chung quanh và mỗi tuần một lần phải đẩy thùng rác ra đường để xe rác mang đi. Ống nước bị leak, ống cống bị nghẹt, bổn phận chúng tôi chỉ thông báo cho Landlord (chủ apartment) coi như xong trách nhiệm. Chung cư chúng tôi chỉ có 10 căn, dân Mễ, dân Mỹ từ từ dọn đi, nên sau nầy chúng tôi thâu nhận toàn người Việt, để dễ dàng sinh hoạt đồng thời biểu tỏ tình tương thân, tương ái giữa đồng hương với nhau, điển hình như gia đình anh chị Khổng Trọng Hinh mới đến từ trại tị nạn Thái Lan . Anh Hinh là cựu thẩm phán tỉnh Mỹ Tho, chị Loan vợ anh là giáo sư Pháp văn. Hai anh chị có cậu con trai đầu khoảng ba tuổi tên Bằng, tướng tá kịch cợm, ngon lành giống cháu Bảo nhà tôi. Hai đứa trang lứa nên chơi với nhau rất thân, rất hợp cũng như tôi với chị Loan vậy. Vài năm sau lúc còn ở chung cư anh chị sanh thêm một cháu trai nữa. Thời gian đó tôi vừa tốt nghiệp, còn chị chỉ đọc sách, hai đứa rủ nhau đi xin việc làm. Thế mà , có lẽ vì quá thông minh và may mắn nên chị đã có việc làm trước tôi một tuần. Ít lâu sau anh Hinh trải qua một cơn bạo bệnh " Thập tử, nhất sinh " Lúc ấy tôi rất lo lắng cho chị Loan, mới hai mươi mấy tuổi đầu, rủi mà anh Hinh có mệnh hệ nào thì Loan sẽ khổ sở lắm, vì chung quanh Loan không thấy có họ hàng , hay thân nhân nào cả! Cũng may nhờ Chúa thương tình và y học Mỹ quá giỏi nên đã cứu được anh trong đường tơ, kẻ tóc. Ít lâu sau anh chị rời khỏi chưng cư ,và nghe đâu anh Hinh đã lấy được bằng Broker địa ốc mua bán nhà cửa. Còn chị Loan cũng bỏ luôn nghề điện tử, mở văn phòng làm loan (giúp thân chủ vay nợ ngân hàng). Ông bà mình có câu : "Qua cơn bỉ cực, tới hồi thái lai.." và ba yếu tố quan trọng "Thiên thời, địa lợi, nhân hòa " đã giúp anh chị phát tài và phất lên từ đó.
Nhờ làm chức manager nên tiền thuê nhà hàng tháng được giảm phân nửa, nhưng chẳng lẽ sống ở chung cư hoài sao? Nên chúng tôi quyết tâm phải dành dụm tiền bạc để mua cho bằng được một ngôi nhà nho nhỏ xinh xinh, một tổ ấm cho gia đình mình, vì lúc ấy nhân khẩu đã tăng lên sáu. Hai vợ chồng tôi, một cô em họ và ba đứa con cần phải có chỗ rộng hơn để sinh hoạt. Chỉ tiêu được đặt ra, mỗi tuần lễ chiều thứ sáu lãnh lương, sáng thứ bảy đi bank lấy ra sáu mươi Mỹ kim mà thôi. Đổ xăng mười đồng cho xe chàng, năm đồng cho xe tôi, vì xe nhỏ mà! Hơn nữa thời đó giá xăng còn rẻ lắm, chỉ 73 xu một gallon. Số tiền còn lại tôi chia ra để dằn túi lỡ khi đi làm bánh xe bị bể thì cũng có tiền vá lại. Còn việc chợ búa, mỗi tuần đi chợ tôi có ghi danh sách những món hàng cần thiết không mắc lắm, chẳng hạn như: Rau, cải, cá, gà, ăn riết thiếu điều muốn mọc lông. Tôi sắp trở thành con gà mái dầu của chàng và chàng cũng hình như đang trở thành người cá muốn bơi ngược về biển Đông để tìm lại bóng hình của người lính thủy năm xưa.
Nhờ vậy mà chỉ sau sáu, bảy năm chúng tôi đã để dành được một ít tiền đủ để down cho một ngôi nhà ba phòng ngủ. Thứ sáu đọc báo, thứ bảy, chủ nhật đi coi nhà. Cuối cùng chúng tôi cũng tìm được ngôi nhà vừa ý trong thành phố San Jose. Thời đó giá nhà chưa mắc lắm, chúng tôi mua căn nhà nầy giữa thập niên 1980, mới năm tuổi giá đúng một trăm ngàn. Thấy ngôi nhà mới mát mẻ, sạch sẽ, sân vườn rộng rãi chúng tôi mê lắm. Nhưng vì đồng tiền, vì chức manager chúng tôi chưa dọn về ngay, ở lại apartment tiếp tục làm manager thêm một năm rưỡi nữa. Trong lúc đó cái nhà của mình lại cho cậu em thuê. Mỗi buổi chiều đi làm về, cơm nước xong hai đứa chúng tôi lại xách xe chạy xuống nhà mua bông hoa, cây kiểng về trồng sau vườn, trước sân.
Mãi đến khi tôi mang bệnh mất ngủ suốt sáu tháng trời, người ốm như con ma cà bông, bởi khi nằm xuống thì hình như có ai bóp họng mình nghẹt thở không thể nào ngủ được, nên ngồi dựa tường thức suốt cả đêm. Đôi khi cũng nghe có tiếng mở cửa tủ ly, tủ chén rồi đóng lại. Có một đêm tôi đang mơ màng chợt nghe âm thanh của một cái gì đó rớt bên ngoài nhà bếp, tôi nhẹ nhàng ngồi dậy, rón rén đi ra. Bật ngọn đèn điện cho sáng lên, nhìn tới, nhìn lui không biết rớt cái gì. Đến khi nhìn xuống sàn nhà cạnh bàn ăn, tôi mới thấy một cuốn lịch treo trên tường đã rớt. Tôi cúi xuống lượm lên và tìm luôn cây đinh, nhưng tìm hoài mà chẳng thấy cây đinh đâu cả. Nhìn lên vách thì thấy cây đinh vẫn còn nằm yên trên đó, tôi đưa cuốn lịch móc vào nhưng bởi vì đầu đinh lớn hơn nên không thể nào móc vô lỗ lịch được. Vì thế tôi phải rút cây đinh ra khỏi tường để gắm cây đinh xuyên qua lỗ lịch mới được. Trong đầu óc tôi cứ thắc mắc hoài, đây là chuyện kỳ lạ, đầy ma quái. Có hôm trời sáng bừng, chàng đã đi làm, các con đã đi học. Tôi vì ban đêm thao thức nên trở vào phòng ngủ, ngủ tiếp thì thấy bà Mỹ trắng mập mạp, mặc bộ đồ y tá cùng với người thanh niên Tàu mang kiếng cận bước vào phòng tôi, mở clothset ra lục lạo, kiếm áo quần gì đó. Tôi giật mình ngồi dậy hỏi: “Ông bà là ai? Tại sao vào nhà của chúng tôi?” Họ trả lời: “Không, chỗ nầy là chỗ chúng tôi ở lúc trước, bây giờ chúng tôi về thăm thôi!” Nói xong hai người bước ra khỏi phòng. Tôi mở mắt, thoáng nhìn còn thấy hình dạng của chiếc áo trắng y tá với cái lưng tròn trịa, đẫy đà.
Riết rồi khi chàng đi làm, dù mệt thế nào đi nữa, dù ánh sáng bên ngoài chói chan, tôi cũng không dám ngủ trong phòng mà phải xách gối, xách mền ra nằm ngoài phòng khách. Thế mà đâu đã được yên, hễ cứ thiu thỉu ngủ thì lại thấy có bóng người xuất hiện. Tôi khiếp quá bèn mò lên lầu hỏi thăm hai bác Bùi Quang Kim, ông là giảng sư trường đại học Sư Phạm Sài Gòn ngày trước. Gia đình gồm có năm người, bác Hồng là em của bác Kim gái, hai cậu con là Dư và Khánh còn đang đi học. Hai bác làm cho hãng General Electric ở đường Monterey . Lúc ấy cả nhà đang tu theo pháp Vô Vi do sự chân truyền của Đức Ông Tám, thế danh là Lương Sĩ Hằng, tôi đã có cơ duyên gặp ngài hai lần trên căn lầu nầy. Hôm nay gặp phải chuyện nầy quá lạ kỳ, huyền bí nên tôi nghĩ đến các bác, may nhờ đạo cao, đức trọng có thể bác giúp mình làm được điều gì chăng! Khi nghe tôi kể mọi sự, bác cười rồi nói: “Cô Hương (tên của chàng, bác thường gọi tôi như vậy) cô nói ra thì tôi mới dám nói, nếu không tôi ngại lắm! Vì nói ra e rằng cô sợ. Trên lầu nầy về đêm cũng có nhiều âm thanh lạ, nhưng bởi chúng tôi tu rồi nên không sợ như cô. Nửa đêm ngồi thiền cũng thấy có người ngồi trước mặt, bên cạnh hay sau lưng. Thoạt đầu thì cũng sợ, nhưng riết rồi cũng quen. Mỗi khi thấy như vậy, tôi chỉ biết niệm Phật, bỗng chốc thì tất cả đều nhạt nhòa, tan biến …Bà Hồng thường hay mua bánh, kẹo về cúng vào những ngày mùng hai và mười sáu mỗi tháng”.
Sau khi nghe các bác nói như vậy, thì tôi chẳng biết làm gì hơn, tiếp tục sống trong tình trạng sợ sệt cả đêm lẫn ngày. Có một hôm đi đám cưới về tôi cần vào nhà trước để giải quyết cái “bầu tâm sự”. Mới vừa vô phòng tắm, chưa kịp đặt cái bàn tọa xuống toilet thì một cơn gió lạnh từ ngoài cửa sổ thổi vào cánh cửa tủ thuốc mở tung. Tôi điếng hồn, chạy nhanh ra phòng khách ngồi chịu trận không dám nhúc nhích. Chàng của tôi đi rước mấy đứa nhỏ vẫn chưa về. Bất chợt đèn điện lại phụt tắt, tôi muốn hét lên, chợt ánh sáng lại có liền sau đó. Tôi kiếm cái remote bật tivi lên để trong nhà có tiếng người nói cho đỡ sợ. Ối trời ơi, vì là đêm thứ bảy, truyền hình đang chiếu phim ma, loại phim “Quỷ hút máu người”. Nàng con gái thật đẹp đang mơn trớn trên phần ngực của anh nhân tình, rồi dần dần lên tới phần cổ, nàng đưa mũi hít hít mấy cái như tìm mạch máu, là là đôi môi sát vào. Người đẹp mỉm cười, nhe hai cái răng nanh trông thật dễ sợ, nàng nhẹ nhàng cắn vào, máu tuôn dầm dề, người thanh niên nằm im, bất động. Người con gái buông ra với nụ cười thỏa thê, bên mép còn dính hai dòng máu đỏ tươi đang chảy. Nàng bước tới, bước tới gần tôi hơn, tôi sợ điếng hồn gần như sắp khóc. Tôi muốn la lên cầu cứu, chợt cánh cửa mở tung, cả đám con tôi ùa vào nói chuyện líu lo, nếu chàng về trễ một chút có lẽ tôi đã đứng tim không chừng!
Từ đó về sau, hễ ban đêm tôi nhất định không chịu ở nhà một mình nữa. Tình trạng quái dị cứ tiếp diễn hoài hoài. Trong khi đó bác Kim đang đi coi nhà để mua, nghe đâu bác đã đặt cọc cho căn nhà sắp sửa xây ở khu Evergreen. Nhà lầu, mái ngói đỏ ba phòng ngủ, hai phòng tắm. Nhưng khi nghe tin tôi mách có một ngôi nhà ở vùng North valley, năm tuổi, bốn phòng ngủ, hai phòng tắm. Sân trước vườn sau đã làm sẵn, có trồng cả cây ăn trái nữa, nhất là chủ nhà lại là người Việt Nam. Bác nghe thế muốn nhờ tôi đưa đi coi, khi đến nơi thấy có cả bốn người đang trả giá. Lúc đó là năm 1985, nhà cửa rất có giá. Một ngôi nhà đưa ra với giá đó, nhưng nhiều người offer trả giá cùng một lúc nên giá nhà được tăng lên một cách quá đáng. Cái nhà nầy đang đề giá một trăm lẻ chín ngàn. Năm người muốn mua mỗi người tự tăng một ngàn, cứ như thế giá nhà bỗng trở thành một trăm mười bốn ngàn chỉ trong vòng năm phút. Bốn người Chuyên viên địa ốc đi theo với bốn thân chủ mình, ai cũng muốn mua nên cứ tiếp tục trả như thế thì giá nhà càng lúc càng cao. Tôi chợt có một biện pháp nên quay qua hỏi bác:
-Bác ơi, bác thích cái nhà nầy lắm không?
Bác trả lời:
-Vâng, tôi thích lắm! Cô Hương cứ trả giá mua cho tôi đi!
Tôi quay sang nói nhỏ với anh chị chủ nhà:
-Bác Kim rất thích căn nhà của anh chị, bây giờ tôi trả lên thêm một ngàn nữa, anh chị hãy bán cho bác ấy đi với giá một trăm mười lăm ngàn, đừng nhận thêm bất cứ giá nào của các người khác, anh chị thấy sao?
Hai vợ chồng trẻ cũng tốt bụng, không phải là người ham tiền. Nên theo lời đề nghị của tôi, họ đã đồng ý bán với giá đó và kết sổ. Bốn realtors khác dẫn bốn thân chủ không mua được nhà ra về trong lòng tiếc hùi hụi.
Trong ngày tân gia, tôi biếu quà bác không nhận, trái lại bác còn tặng tôi một chiếc đồng hồ hiệu Seiko rất xinh xắn để lưu niệm về sau. Thế là bác đã dọn đi chỉ còn tôi ở lại căn apartment. Sau mấy mươi năm bác Kim trai và bác Hồng đã ra người thiên cổ, bác gái vẫn còn ở ngôi nhà đó. Dù các con Dư, Khánh đã là bác sĩ, kỹ sư đủ khả năng mua nhà trên đồi. Nhưng bác gái nhất quyết không chịu dọn đi đâu cả. Bác thường nói: “Ở dưới phố gần chợ, gần shopping tiện lợi cho người già như chúng tôi. Chứ về núi vắng vẻ, buồn lắm cô Hương ạ!” Vợ chồng Dư và hai đứa con đang sống chung với bác, cô vợ cũng tên Hương hiền ơi là hiền, là người biết lý, biết lẽ, cảm thông được tâm tình của người mẹ chồng, chịu ở chật chội suốt mấy chục năm qua. Nghe đâu có một dạo ngôi nhà nầy lên giá tới bảy, tám trăm ngàn Mỹ kim.
Xin trở lại chuyện ngày trước, lúc gia đình bác Bùi Quang Kim dọn đi thì tôi vẫn còn ở lại apartment với nhiều đêm dài không ngủ, đến lúc quá mệt, ngả lưng xuống giường thiếp đi thì lại thấy một bóng đen sì cứ muốn ôm chầm lấy mình. Khiếp quá, tôi phải đi tìm thầy về cúng. Cô Lục, người coi bói có tiếng thời đó cho biết rằng: “Cái cây ba nhánh, cành lá sum xuê, trồng trước phòng khách của tôi có một vong ở trên đó, hằng ngày thấy tôi ra, vô, dễ thương quá nên người ta chọc phá đấy thôi! Còn cái bóng đen kia là của một người lính, ngày xưa tôi vừa mới lớn anh ta để ý thương thầm nhưng chẳng may sau nầy khi đụng trận anh đã bị tử thương. Oan hồn ấy, vẫn đeo đuổi tôi. Bây giờ muốn giải oan cho người ấy là phải cúng một mâm cơm và cầu xin anh ta thương tình mà tha cho, đừng đeo đuổi tôi nữa thì mọi chuyện sẽ được an lành”. Tôi làm y như lời bà thầy bói nói và dự định rời bỏ chung cư để dọn về nhà mới vào mùa hè năm ấy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét