Chương Mười Sáu
KỶ NIỆM VẪN XANH
Sau hai năm mất mẹ, niềm đau chưa nguôi ngoai. Bỗng một đêm tôi nằm mơ thấy ba tôi đã qua đời. Chiếc quan tài đặt trên một chiếc thuyền chở đi giữa dòng sông. Tôi ôm bức ảnh ba khóc sướt mướt, giật mình thức dậy nước mắt vẫn còn đọng mi, ướt cả gối. Sáng hôm sau tôi lẹ làng gọi về Việt Nam, may mắn gặp được ba, ông cho biết ông vừa mới đi nhà thương về vì cảm thấy trong người không được khỏe, đau ngực, nhức đầu và hắt hơi khá nhiều. Tôi không dám nói những điều mình mơ thấy, chỉ khuyên ba nên uống thuốc đều đặn, đúng giờ, đúng giấc để giữ gìn sức khỏe, vì bây giờ ông là điểm tựa tinh thần của các con. Chúng tôi đã mất mẹ mấy năm trước, hiện giờ chỉ còn người cha thương yêu nhất đời. Mong ông sẽ sống trăm tuổi, vui vầy với con, với cháu để tôi còn có cơ hội về thăm ông thêm lần nữa. Nói lên những gì chưa kịp nói, làm thêm những gì chưa kịp làm, để bày tỏ lòng hiếu thảo đối với người cha thân yêu của mình.
Thế nhưng bệnh của ông càng lúc càng nặng, mười ngày sau phải đưa về Sàigòn nhập viện. Nằm ở đó gần hai tháng, mặc dù đã lấy nhiều thứ thử nghiệm, nhưng bác sĩ vẫn chưa cho biết là bệnh gì. Có lúc ông tỉnh, có lúc ông mê man. Có khi thân thể ông co giựt lại đau đớn vô cùng, tiền nhà thương, bác sĩ, thuốc thang mỗi ngày gần một trăm Mỹ kim. Họ “chặt thật là đẹp” vì biết có bốn, năm đứa con đang ở Mỹ. Mãi đến khi họ thấy tiền bạc của Việt Kiều sắp cạn kiệt nên họ cho ba tôi về nhà và tuyên bố một câu ngắn ngủi: “Bướu não và bướu xương sống, không chữa được!” Các con không dám đưa ông về Phú Quốc, sợ trên đường đi ông kiệt sức qua đời thì không tốt. Nên cứ để ông nằm nhà thương tiếp tục. Độ năm hôm sau thì ông mất. Đáng lẽ ông phải nằm trong phần đất của tổ tiên bên nội tôi ở Phú Quốc, nhưng vì Phú Quốc lúc nầy con cháu không còn ai ở đó. Ngoại trừ ông có hai cô em gái từ nhỏ tới lớn vẫn chưa lấy chồng ở vậy nuôi dưỡng cố tôi tức bà nội của ba, thủ kỹ ngôi nhà từ đường, gìn giữ đất đai của ông bà tổ tiên.
Ông nội tôi có hai anh em, người em sanh độc nhất một đứa con đó là chú Hòn ở bên Pháp và phần ông, ông sanh ba tôi cùng hai người con gái, đó là cô Ba và cô Tư tôi. Như đã nói ở trên, hai cô không chồng nên tính tình rất khó khăn, bảo thủ. Ba tôi là con trai trưởng, là cháu đích tôn đáng lẽ phải nắm hết quyền hành tài sản của ông bà, nhưng vì tính tình hiền lành, không thích tranh giành gì với ai nên ông cứ để cho hai cô tôi lấn lướt. Vì ông nghĩ rằng hai cô không chồng, không con, mai mốt của cải nầy, đất đai nầy cũng thuộc về đám cháu của cô mà thôi. Cũng như chuyện phim “Thiên Long Bát Bộ, Đoàn Dự cuối cũng được lên ngôi vua.” Cô Ba tôi mất trước ông một năm với chứng ung thư ngực, những người phụ nữ không có con hay ít khi cho con bú thường mắc phải chứng bệnh quái ác nầy. Trước khi cô chết, cô và người em gái là cô Tư có để lại di chúc cho anh Hai tôi là Nguyễn Thanh Long, nắm toàn bộ tài sản, đất đai, nhà cửa của ông bà tổ tiên tại hải đảo Phú Quốc với điều kiện: “Không được bán buôn, sang nhượng cho bất cứ một ai!” Phần của ba tôi có riêng một ngôi nhà, trước khi ông mất, ông cũng đã để lại chúc thư cho người em út của tôi là Đám con gái trong nước, đám con gái ngoài nước cùng cậu em thứ bảy của tôi Nguyễn Bá Cầm đang là việt kiều cũng tay không. Một đời người khi đến thế gian không mang theo gì và khi rời thế gian chẳng để lại gì, đó là điều tốt. Bằng không, nếu có của, có tiền mà sự phân chia không đồng đều sẽ đem đến nhiều di lụy về sau cho các thành viên trong gia tộc, hay gia đình. Đúng như sự linh cảm đã báo trước trong đêm 30 tháng 4 năm 1975, ngày trăm tuổi của mẹ cha tôi đều không có mặt. Cũng giống như đám tang của má, tôi đã không về được quỳ lạy trước hương linh cha, gởi nắm đất yêu thương theo ông xuống tận dưới huyệt mộ. Tôi chỉ biết hướng lòng về quê cũ, trăm thương, ngàn nhớ cảm tạ ông đã mang đến thế gian tám hạt bụi, kết tinh nguyên vẹn thành tám hình hài. Hôm nay và mai sau, cây nhân sinh ông trồng sẽ tiếp tục sinh sôi, nẩy nở, đâm chồi, mọc nhánh, cho hoa, cho quả. Tuy nhiên không phải cái hoa nào cũng đẹp, cái quả nào cũng ngon. Mỗi đứa con có mỗi tính tình, có đứa đem niềm vui đến cho ông, có đứa mang nỗi buồn đến cho ông. Riêng tôi thì cũng có nhiều kỷ niệm với ba, lần đầu tiên học nấu cơm tôi đã nấu thành nồi cháo. Lúc đó tôi vừa lên tám, má thì lên chợ quận bán hàng, các anh chị cũng lo việc rẫy nương, chỉ còn ba với tôi đang ở vườn tiêu sau nhà. Ông ngắt bỏ những bông tiêu còi cọt, còn tôi thì lo bắt bướm hái hoa gần đó. Đã mười một giờ trưa, mặt trời tỏa ra hơi nóng hừng hực hắt xuống, mặt mày ông lốm đốm những giọt mồ hôi chảy dài trên trán, ông đưa tay lên lau sơ sài rồi ngồi chồm hổm dưới bóng mát của bụi tiêu. Ông vấn xong điếu thuốc lào, đưa lên môi bập bập mấy cái, ông nói như cố để cho tôi nghe:
- Ba ngồi nghỉ một chút rồi vô nhà nấu cơm cho hai cha con mình ăn nghe.
Tôi nghe nói liền chạy lại tài lanh lên tiếng:
- Thôi, ba ở ngoài nầy ngồi hút thuốc đi, để con vô con nấu cho!
Tôi vừa nói vừa chạy vô nhà xuống tận sau bếp. Một đám củi khô nằm cạnh ông lò, tôi cắt một miếng nhỏ nhựa cao su đã phơi khô cho vô làm mồi lửa. Thứ nầy chúng tôi cắt lấy mủ từ vườn cao su của một người Pháp nay đã bỏ hoang nhiều năm dùng để nhóm bếp. Sau khi đã có lửa, tôi đong hai lon gạo cho vào nồi đem ra sàn nước vo hai lần, chắt cho ráo rồi đổ nước vào hơn nửa son đặt lên lò. Khoảng mười lăm phút sau, cơm sôi nước cạn dần dần, tôi sợ cháy cơm nên tiếp tục cho nước vào. Đến khi ba tôi nghe mùi khét, từ vườn tiêu ông chạy vào nhà hỏi:
- Cơm nấu xong chưa con, mà sao nghe mùi cháy khét vậy?
Tôi chỉ vào nồi cơm:
- Dạ, thì con đang nấu đó ba!
Ông vỗ vô đầu tôi một cái bốp mắng liền:
- Mẹ mầy, cơm chẳng ra cơm, cháo chẳng ra cháo mà lại còn bị khét nữa. Con gái nầy hư thật!
Tôi khóc mếu máo:
- Thì con cũng thấy hai chị làm như vậy mà!
Ông kéo tôi lại gần nồi cơm, chỉ dạy:
- Lần sau, vo gạo xong chỉ đổ nước một lần, nước ngập khoảng một lóng tay. Khi nào nước cạn thì đậy nắp lại và bớt củi ở dưới lò rồi bươi than ra để nồi cơm từ từ chín, nhớ chưa!
Lần đầu tiên tôi học nấu cơm, mà lại nấu trật lất còn bị kí vào đầu. Nhờ vậy sau nầy qua cách chỉ dẫn của ông tôi nấu cơm thật là xuất sắc, không bị nhão, không bị khê như lúc trước nữa.
Ban ngày ba tôi lo cày cuốc, ruộng vườn, ban đêm trong mùa thẻ mực ba chèo xuồng ra biển cách bờ khoảng vài cây số. Có lúc ông đi một mình, có lúc ông đi với người bạn. Cứ chín giờ tối là xuồng vào bờ, trong khoang đầy mực tươi, ông đem về cho má tôi nấu cháo khuya, số còn lại ngày mai đem bán cho dân trong làng. Nhiều lúc mực còn quá tươi, tôi thấy màu da nó chớp chớp, còn nghe cả tiếng kêu en ét của nó nữa. Chúng tôi quay quần bên tô cháo khuya với niềm vui đơn sơ, mộc mạc. Có thêm vị nồng của tiêu, vị thơm của mấy lá ngò gai sau vườn chắc chắn đêm đó chúng tôi ngủ không còn đứa nào ú a, ú ớ hay mớ nói nhảm nữa…
Sau một biến cố ba tôi bán xuồng không còn đi thẻ mực nữa. Một buổi chiều kia khi mặt trời vừa ráng đỏ ở phương tây, ba tôi cùng người bạn thân thiết đã từng đi biển với ông, hai anh em ngồi trên xuồng, tay chèo, tay bơi ra tận biển xa. Lúc ấy không phải là mùa thẻ mực nên họ chịu khó đi xa hơn mọi khi. Thình lình trời nổi cơn giông, gió thổi mạnh, chiếc xuồng bị sóng nhồi dữ dội. Hai người hối hả chèo vào bờ nhưng không còn kịp nữa. Một ánh sáng lóe lên, rồi biến mất tiếp theo là một tiếng nổ ầm thật lớn và tiếng thét của người bạn chung xuồng. Ông bạn ngồi gần cây cột xuồng nên bị sét đánh trúng, thân thể nám đen chết ngay tại chỗ. Mưa bắt đầu trút xuống, sóng cuồn cuộn xô bờ, ba tôi sợ lắm nhưng cũng ráng dùng hết sức mình để lèo lái đưa chiếc xuồng vào tận bãi mang theo thân xác của người bạn xấu số. Thế là từ đó trở đi ba tôi giải nghệ, không hành nghề thẻ mực nữa!
Ở nhà quê chúng tôi không có gì để chơi, trước sân nhà có một cây ổi xá lị, bốn chị em tôi ngồi trên bốn nhánh làm ngựa để cỡi quanh năm suốt tháng, đó là niềm vui trong thời thơ ấu của chúng tôi. Cây ổi kia sẽ không bao giờ cao hơn, lớn hơn, duy chỉ có gốc nó càng ngày càng to, nó muốn cạnh tranh với chúng tôi theo thời gian cứ lớn dần. Và bên kia con đường mòn nhỏ dẫn tới xóm nhà của người khác là cây bằng lăng to, cao rợp bóng. Nhánh bằng lăng vươn dài qua cả con đường, che bóng mát cho sân vườn nhà tôi. Mùa hoa bằng lăng nở cũng là mùa ổi đơm bông, theo cơn gió trưa thổi đến, hoa ổi, hoa bằng lăng thi nhau rụng rơi trên đầu của chị em chúng tôi. Cho đến khi ba tôi nghe người trong làng bảo rằng cây bằng lăng đó có ma, nhất là buổi trưa khi mặt trời đứng bóng hoặc giữa đêm tối, có người thấy bóng trắng treo lơ lửng giữa nhánh cây bằng lăng và đôi lúc lại thấy có người đàn bà ngồi cú rủ dưới gốc cây giữa đêm khuya. Tiếng đồn vang xa nên con đường đó người dân không qua lại nữa, ba tôi phải bỏ ngôi nhà đang ở dọn về một miếng đất khác gần núi hơn.
Anh tôi lúc đó đã mười bảy, mười tám tuổi, suốt mấy năm anh lên chợ học, đã học hết bậc tiểu học. Dưới sự hướng dẫn của ba, anh tôi mở trường dạy học cho các trẻ em trong thôn xóm để chúng nó biết đọc, biết viết. Tôi lúc đó tám tuổi, bên hông thì nách thằng em thứ bảy, đứng ngoài cửa lớp ngó vô một đám học trò nhà quê tuổi cũng khá lớn đang học chữ i, chữ tờ. Mỗi khi đọc qua một lần cách phát âm hay ráp vần, anh tôi quay xuống gọi đại một đứa học trò, nó đứng lên lớ ngớ chẳng biết trả lời ra sao. Tôi đứng ngoài chỏ mỏ vào nói thay cho nó, việc làm thày lay nầy, bị anh tôi lấy roi ra rượt đánh mấy lần mà vẫn không chịu bỏ. Anh đem câu chuyện mét lại với ba, ba bảo tôi không nên giữ em nữa mà phải ngồi vào lớp để anh mình dạy luôn. Nhờ tôi sáng dạ nên học đâu nhớ đó, bài học thuộc lòng thầy giáo viết lên bảng, khi câu cuối cùng chấm dứt, tôi đọc sơ qua là có thể nhớ hết nguyên bài.
Hồi nhỏ một ngày tôi có ba sắc mặt, ba má tôi bảo những đứa con như vậy rất khó nuôi. Vì là con của Ông, của Bà của đấng bề trên gì đó, tôi cũng chẳng biết nữa, nếu nuôi được sẽ tạo thành tích. Tôi nhớ hồi hai tuổi, có lần tôi giận ba tôi lắm. Lúc đó ngôi nhà sàn ở cạnh cây bằng lăng là nơi sáu anh, chị, em tôi ra đời, chôn nhau cắt rún nơi đó. Sau một ngày làm việc vất vả, mệt nhọc, ba tắm rửa xong hay đùa giởn với tôi. Ông ẵm tôi lên và bắt tôi nằm trên giường thọt lét cho tôi cười. Tôi cười hả miệng ra, ông cũng cười hả miệng. Cười như thế nào mà cứ để nước miếng của ông rớt vào miệng tôi hoài. Ông dỡn kiểu nầy, con gái ông hổng thích nên sau đó nó cứ ngậm miệng lại, nhất định không chịu cười, nhất định không chịu há miệng ra nữa. Đó là cái nhớ của tôi ở vào tuổi quá nhỏ, cho dù vậy tôi vẫn nhớ đến ngày hôm nay. Ba tôi là người viết chữ rất đẹp, chữ nào chữ nấy đều như nhau. Cứng cáp, thẳng đứng, không ngả nghiêng, không méo, không gãy nói lên cái tính cương quyết, có phần hơi nghiêm khắc nếu không muốn nói có phần khó khăn. Ấy thế mà khi tuổi về già, ông trở nên hiền lành, dễ chịu. Lúc còn ở dưới quê, mỗi lần Tết đến ông dắt cả bảy tám đứa con xuống cái suối gần đó kì cọ, tẩy trần để ăn Tết. Ông kì đỏ cả da, rát cả thịt, đứa con nào cũng hít hà, lè lưỡi, rùn vai, rụt cổ, ông ký cốc, cốc lên đầu từng đứa. Anh chị em tôi hồi còn nhỏ rất mong ăn Tết, nhưng cũng sợ cái kiểu tắm rửa nầy của ông lắm. Vì thế sau nầy khi lớn lên sống ở hải ngoại tôi hồi tưởng lại với những kỷ niệm thân thương ngày cũ của cha mẹ, chị em qua bài thơ "Mỗi Độ Xuân Về":
Con viết lên đây được mấy dòng
Gởi về cha mẹ thỏa chờ mong
Quê hương xa quá ngoài tay với
Lệ đổ từng đêm nát cả lòng
Con biết mẹ cha giờ nhớ lắm
Tuổi già tóc bạc trắng màu sương
Tháng năm mòn mỏi chờ tin trẻ
Ngày ngày ra biển ngóng.. .đại dương
Con đã vun trồng cây hạnh ngộ
Chờ ngày trổ nụ kết đơm hoa
Ngờ đâu mưa bão rồi cây đổ
Nghiêng ngửa đời con lạc hướng nhà...
Con nhớ ngày xưa chiều cuối năm
Ba mang con trẻ tắm suối trong
Kì lưng, kì cổ chờ ăn Tết
Kì rát thịt da để ấm lòng
Nhớ ngày sắp Tết con theo mẹ
Đi chợ đường quê xa mỏi chân
Gió bấc thổi tung bay cát bụi
Bên rừng mai nở đón mùa xuân
Mẹ sắm vội vàng mươi mét vải
Nhà nghèo con cái lại hay đông
Quanh năm con mặc quần thủng đáy
Chờ dịp xuân về mặc áo bông
Chợ Tết ba mươi người tấp nập
Mẹ chờ buổi chợ đi về trưa
Thịt rau, bánh mứt còn thừa lại
Tiền có trong tay cũng đủ vừa
Xứ biển quê nghèo đời giản dị
Tuổi thơ vui sống chẳng buồn lo
Đêm về đuổi bắt đèn đom đóm
Sáng sớm tinh sương lượm vỏ sò
Tất cả làm cho con nhớ quá
Nhớ thời niên thiếu ngát hương hoa
Lẫn trong tiếng sóng trùng dương gọi
Có tiếng đùa vui của cả nhà
Giờ nơi đất khách con hồi tưởng
Kỷ niệm chập chờn như khói sương
Mỗi độ xuân sang hồn vỡ nát
Gởi về cha mẹ vạn niềm thương.
Sau khi ba tôi rời bỏ ngôi nhà ở cây bằng lăng qua miếng đất khác cách đó nửa cây số thôi. Dọn về chỗ mới lại có thêm người mới, má tôi sanh thêm đứa em gái thứ tám tên Nguyễn Phước Hảo, nó giống ba nên cao hơn chúng tôi nhiều. Hồi nhỏ chân cao, dài thế mà ít chịu đi bộ, ba, bốn tuổi mà cứ đòi ẵm, tôi đánh cho một trận nên thân từ đó về sau cô nàng không dám hư như vậy nữa. Tôi là đứa con gái thứ năm sanh ra giữa lưng chừng chưa lớn đủ để lo việc rẫy nương hay mua bán nên phải ở nhà giữ hai, ba đứa em. Mùa xoài chín má tôi mua cả cây hái đem về chất lên đầy giường, trái nào chín thì ăn trước. Chị em chúng tôi những đứa lớn má sắm cho mỗi đứa một con dao nhỏ để gọt xoài, thằng em thứ bảy giành giật con dao với đứa em gái thứ tám nên ngón tay trỏ của nó bị đứt thật sâu, máu chảy ra nhiều quá tôi sợ lắm nên kiếm một chiếc áo cũ cắt một khúc quấn vào ngón tay nó để cầm máu đoạn kiếm sợi dây thun cột chặt vào trong ấy nhiều vòng, Tôi nghĩ như thế là máu sẽ ngưng và em mình không còn cảm giác đau đớn nữa. Ba má tôi đầu tắt, mặt tối lo làm ăn nên không để ý, mãi đến ba, bốn hôm sau em gái tôi bảo rằng ngón tay tê quá, nhức nhối khó chịu quá … Tôi mới tháo cọng dây thun ra và mở luôn lớp vải quấn chung quanh. Trời ơi tội nghiệp con nhỏ , phần da thịt chỗ ngón tay đã bị hư thối, lầy lụa quá rồi! Ba tôi phải đem lên bệnh xá trên quận để rửa sạch vết thương và băng bó lại. Thời gian sau ngón tay ấy cũng lành nhưng trông rất xấu xí, dị họm bởi vì thịt mất rất nhiều nên ngón tay teo nhỏ lại, trụi lũi chỉ nhú ra một ít móng mà thôi. Nói về anh tôi lúc đó cũng vừa mới lớn bắt đầu cặp bồ, ở xóm biển có người con gái tên Thu Hà, chị da trắng, má hồng, mắt bồ câu miệng cười có cái răng khểnh trông cũng rất ngộ nghĩnh, có duyên. Điều đặc biệt là chị thường hay mặt đồ đen, mỗi lần gặp chúng tôi chị thủ sẵn mấy viên kẹo trong túi, kêu chúng tôi lại cho mỗi đứa một viên, xoa đầu rồi bảo tản hàng đi chỗ khác chơi, để anh chị tự do tâm tình. Ít lâu sau không thấy chị đến nhà chơi nữa, hỏi ra thì mới biết chị đã đi vào bưng rồi. Mối tình đầu của anh tôi tan nhanh như bọt biển, ba má tôi sợ anh buồn nên vội vàng kiếm cho anh một người con gái khác, kẻo không sợ anh đi theo cô Thu Hà luôn thì khổ cả nhà.
Tối đến, trong xóm nghe có tiếng chó sửa hàng loạt là biết du kích về, bắt dân làm điều nầy, điều kia, hoặc tra hỏi tin tức với những người thường hay đi về chợ. Tôi lúc đó tám, chín tuổi, mủm mỉm, trắng trẻo dễ thương. Mấy ông hay tới nhà năn nỉ ba má tôi cho tôi đi theo đoàn văn công, ông thà để tôi vào rừng bắt bướm hái hoa, bứt cây, bẻ lá chứ nhất quyết không cho đi theo bọn người đó. Lâu lâu họ có tổ chức văn nghệ trong rừng sâu, họ đến từng nhà bảo dân chúng khắp thôn ấp, xóm làng phải đi coi, nếu không thì sẽ có chuyện với họ. Trời vừa chạng vạng, mọi người ăn cơm xong là phải lo khăn, dép lên đường, băng qua rừng rậm, cây cao mới tới địa điểm bí mật đó được. Họ đã dựng sẵn sân khấu, bên ngoài có lều quán bán thức ăn, thức uống đầy đủ cả. Máy điện nhỏ với công xuất vừa đủ để khuếch đại âm thanh, mỗi khi thay đổi cảnh trong vở kịch, ánh đèn màu cũng được đổi theo bằng một miếng giấy kiếng mỏng chụp lên. Tôi thấy một người giống Mỹ trắng bị kéo sệt ra sân khấu, bắt quỳ gối, đầu cúi gầm xuống. Một tên mặc đồ đen, vai đeo súng xỉ vả thậm tệ. Một người mặc quân phục lính Cộng Hòa, hai tay bị trói về phía sau cũng đang quỳ xuống im lặng để các ông ấy tuyên truyền, chửi rủa một hồi rồi kết tội, nào là “quân xâm lược, nào là kẻ phản bội nhân dân”, mấy ông đó nổ súng đùng, đùng. Hai người kia ngã xuống giữa sân khấu. Bất chợt ánh đèn điện vụt tắt, sân khấu tối om, chỉ còn nghe tiếng máy bay, bay âm ầm trên trời. Mấy phút sau tiếng động cơ máy bay xa hẳn, ánh sáng mới được trả lại. Té ra họ sợ máy bay khám phá, biết họ đang tụ tập làm văn nghệ trong rừng nên mới tắt hết đèn điện.
Người dân ở những khu nửa chợ, nửa quê thật là khó khăn, khổ sở, giống như sống giữa hai lằn đạn, thế nào cũng có ngày lãnh thẹo. Không phải ba má tôi hay cô bác trong xóm lãnh thẹo mà chính là đứa em gái thứ sáu của tôi. Trong giờ trưa ba tôi nghỉ ngơi, hai chị em tôi tay cầm cây dao lén đi vào rừng tìm trái mây cát mà chặt. Trái nầy tướt hết vỏ, trộn vào chén mắm đường, dầm thêm một ít ớt hiểm thì ăn cũng đã miệng lắm. Đi vào chưa sâu, chưa thấy cây mây cát mà tôi đã thấy cây dây mối, loại cây nầy thuộc giống leo hoặc bò, cọng lớn bằng ngón tay, có thể lột vỏ, tước ra thành sợi làm dây cột rau cải cho má đem lên chợ bán thì còn gì hay bằng. Nghĩ thế tôi liền bảo con em ngồi xuống đối diện, còn tôi ngồi phía bên nầy. Tôi bắt đầu đưa cây dao lên chặt xuống thật mạnh. Cây dây mối chưa đứt, tôi lại bồi thêm một nhát nữa. Trong lúc ấy đầu con em đưa vào lãnh trọn nhác dao của tôi ngay gần mỏ ác. Tôi vừa sợ, vừa lo dắt em về đứng sau sàn nước, múc nước mà xối lên đầu nó. Cứ tưởng như thế là rửa được máu, máu sẽ không còn chảy nữa. Đó là sự suy nghĩ quá ngây thơ của một đứa con nít, khi tôi ngưng xối nước thì máu lại tuôn ra dầm dề. Trong lúc ấy ba tôi vừa thức dậy, ông bước ra sàn nước định rửa mặt, ông hoảng hốt la lên, kéo con em tôi vô nhà thay áo quần cho nó và lập tức lấy một nùi thuốc rê đắp lên ngay miệng vết thương, chỉ mấy phút sau máu không còn chảy nữa, tuần sau vết thương đã khô, từ từ lành lại. Tôi không nhớ lần đó mình ăn đòn mấy roi nhưng cái đầu của em tôi để sẹo cho tới bây giờ.
Lại một lần khác, từ Cửa Lấp về Dương Đông, một cây cầu vừa được xây xong, ông Quận trưởng tổ chức một buổi lễ khánh thành. Mọi người dân sống trong khu vực đó và vùng lân cận đều vui vẻ, hân hoan tề tựu về ăn mừng. Mãi đến khi trời sập tối ai nấy mới kéo nhau lần lượt về nhà. Khi đi qua một cây cầu nhỏ bắt ngang qua dòng suối, nơi mà anh chị em chúng tôi thường hay tắm, đứa nào bơi giỏi mới dám đứng trên cầu nầy nhảy xuống, vì chỗ ấy rất sâu. Cây cầu là một miếng ván dài khoảng năm thước, bề ngang chưa đầy hai gang tay, được bắc từ bờ suối bên này qua bên kia. Mỗi lần nhiều người đi qua cùng một lúc cây cầu rung lên bần bật, phát khiếp, kẻ trước, người sau lần lượt qua cầu. Ánh trăng non lờ mờ xuyên qua cành lá chỉ đủ cho chúng tôi thấy mà bước. Tôi đi trước, em tôi đi sau, đàng xa còn một số người đang đi tới, vừa qua khỏi đầu cầu tôi nghe tủm một cái, nhìn lại thì chỉ còn chòm tóc đen phồng lên, phụp xuống dưới làn nước. Em tôi vùng vẫy sắp sửa chìm, tôi hoảng hốt la lên cầu cứu. Mọi người nghe tiếng kêu quay trở lại và lập tức một bóng người lao nhanh xuống, ông mang em tôi bơi lẹ vào bờ, cũng may nó chưa uống nước nhiều nên không hề hấn gì. Năm ấy con em độ chừng sáu, bảy tuổi, thế là huề, lúc trước tôi chặt một nhác dao vào mỏ ác nó, nếu không nhờ có ba tôi thì nó đã chết rồi, cứu không kịp. Còn bây giờ nếu không nhờ có tôi nó cũng chẳng sống được tới ngày hôm nay.
Nó coi vậy mà mạng cũng to, ở nhà quê, nhà cửa chỉ lợp bằng tranh, vách đất hay vỏ kiền kiền ngon lành hơn một chút là vách ván. Ngôi nhà thường ở giữa khu đất, chung quanh sân vườn trồng rau cải hay cây ăn trái, xa hơn nữa là chỗ dùng để đi vệ sinh, tiểu tiện. Ban đêm lỡ mà đứa nào mắc cầu, vì sợ ma nên cả bốn chị em rủ nhau đi cùng một lúc. Cây đuốc sáng trưng làm bằng ống tre là ông thần hộ thân. Giữa đêm đen tịch mịch lào xào tiếng lá gọi nhau, có thêm âm điệu lạc lõng của tiếng tắc kè vang lên từng chập, từng chập. Chị em tôi lại quá nghịch ngợm, vừa sợ ma lại cứ nhác ma, rồi cả đám tranh nhau chạy lẹ vào nhà. Con em giành quyền cầm cây đuốc đưa cao lên khỏi đầu, ánh sáng từ trên cao tỏa xuống mới thấy đường mà đi. Nó đi dưới mái nhà tranh lụp xụp vừa tầm cho ngọn đuốc kia mồi lửa. Khi bốn chị em vô nhà thì mới hay lửa bên ngoài mái tranh bắt đầu cháy. Cháy lớn, cháy nhanh, cháy lan rộng ra, ba má tôi xông vào cứu lửa. Cây đòn gánh dựa sát bên vách, bà tiện tay cầm lên đập vào đám lửa, vô tình làm cho các cọng tranh đang bị cháy văng ra xa mồi thêm lửa cho chỗ khác. Anh tôi lấy thùng thiếc ra gõ beng beng, báo động cho bà con lối xóm ở gần nhất chạy lại tiếp cứu. Nhiều bác mau chân, lẹ cẳng chạy tới, xông vào bị hàng dây kẽm phơi áo quần chắn ngang giật ngược lại. Mấy cái mền trong nhà ôm ra nhúng nhanh vô lu nước rồi thảy lên mái tranh, gần hai mươi phút sau, đám lửa được dập tắt, cả nhà đi tìm con em, chẳng ai thấy nó đâu cả. Má tôi sợ nó bị chết cháy trong đám tro tàn kia, nhưng không, bà đi lục lạo từng cái tủ, rút cuộc thì thấy nó ngồi chong ngốc trốn trong cái tủ đựng áo quần. May mà nhà chưa bị cháy hết, không thì nó đã trở thành con heo quay rồi. Sau đó ba tôi hay ghẹo nó là con ngựa trời, giống nầy thường hay mang lửa đốt nhà người ta, nhưng nó lại mang lửa đốt cháy nhà mình, rõ là dại hết chỗ nó.
Tuổi thơ chúng tôi không lớn lên trong nhung lụa, sang giàu nhưng trong tình yêu thương mộc mạc, thanh bần của mẹ cha. Đồng tiền của kẻ sang giàu ít khi là đồng tiền lương thiện, từ quan quyền cho tới người kinh doanh, buôn bán. Ít, nhiều gì cũng có sự dối gian thủ đoạn, đàn áp, uy hiếp để trục lợi cho riêng mình càng nhiều, càng tốt. Còn cái giàu từ ông bà tổ tiên để lại thì chẳng có nghĩa lý gì, chẳng có gì đáng để nói. Vậy mà lại có nhiều người tranh giành, nhiều khi đưa đến sự chém giết, đoạn tuyệt với nhau trong cùng một dòng họ, cùng một gia tộc. Ba tôi thì ngược lại, ông không thích hành xử như vậy. Ông ăn mặc rất khiêm tốn, đạm bạc và đơn giản. Thức ăn ngon cũng hai chén cơm, thức ăn dỡ cũng hai chén cơm. Cà phê một ngày một cử, tiệc tùng, nhậu nhẹt một chai bia là đủ. Còn thuốc lá thì mỗi ngày bốn, năm điếu, ông cũng thấy cuộc đời lên hương. Tuy nhiên những ngày tháng cuối đời ông rất thèm thuốc nhưng không được hút vì lời khuyên của con cái, của bác sĩ. Có đôi lúc ông thèm thuốc hơn thèm cơm, cuối cùng mạng sống vẫn không giữ được. Nếu biết thế chúng tôi cứ tha hồ để ông hút, hút cho đã thèm, để khi ông ra đi chúng tôi không còn điều gì hối tiếc. Hôm nay tôi ngồi đây viết lên những dòng chữ nầy, nhắc lại một thời quá khứ của anh chị em tôi với ba là một kỷ niệm thật đẹp, thật êm đềm, hồn nhiên thời thơ ấu. Một khi bóng cha già đã mất thì mùa xuân sẽ không còn, tôi muốn chuyển tải những vần thơ đau xót từ tâm hồn mình hòa quyện vào hồn thiêng của cha, mong ông tha thứ và thông cảm cho đứa con gái côi cút, tật nguyền nầy qua bài thơ "Mùa Xuân Đã Mất":
Dòng lệ nóng tuôn tràn trên môi mắt
Con gục đầu nức nở khóc thương ba
Phút lâm chung chắc lòng ba quặn thắt
Đứa con yêu chưa kịp trở về nhà
Ba, ba hỡi bên nầy con đứt ruột
Như ngồi trên đống lửa đốt tim gan
Vì nghịch cảnh nên con không về được
Thỏa ước nguyền xin thắp nén tâm nhang
Màu hương khói đưa con vào quá khứ
Thuở sinh tiền ba cũng lắm gian nan
Nơi thành thị ba sống đời công tử
Lấy vợ miệt vườn mất hết cao sang
Rồi từ đó ba tay cày tay cuốc
Sân trước vườn sau hoa trái đơm đầy
Căn nhà nhỏ âm vang hồn yêu nước
Bỏ cuốc cày ba đánh đuổi giặc Tây
Thời năm tư, từng đoàn người xuôi ngược
Tập kết, vô Nam, bỏ hết cửa nhà
Ba của con thật vô cùng sáng suốt
Lý tưởng muôn đời chính nghĩa Quốc gia
Ba ở lại dưỡng nuôi đàn con nhỏ
Giặc tan rồi, ba vác cuốc lên nương
Đem mồ hôi tưới xanh màu cây cỏ
Sức cần lao tô thắm đẹp ruộng vườn
Chỉ vài năm yên bình nơi thôn ấp
Bỗng một hôm có giặc giả kéo về
Ba vội vã bỏ xóm làng cửa Lấp
Súng đạn vô tình, ba sợ lưỡi lê
Về trên chợ ba đi làm công chức
Mẹ bán hàng cũng có đủ bữa ăn
Tàm đứa con biết tiêu xài chừng mực
Sợ thân cha, áo mẹ lấm phong trần
Theo vận nước con lìa xa tổ quốc
Lần sau cùng không kịp nói biệt ly
Hai mươi mấy năm được tin ba mất
Lắng lòng đau con hóa kiếp hoa quỳ
Dương Đông hỡi mặt trời nơi phương đó!
Con cúi đầu bái tạ tiễn phụ thân
Phút nhàn du qua câu kinh, tiếng mõ
Bước bồng lai ba trút bỏ bụi trần
Giờ vĩnh biệt gởi tình con theo gió
Chốn quê nhà, ba rời bỏ người thân
Phút linh thiêng rùng mình con chợt rõ
Mất cha hiền là mất cả mùa xuân…
Mùa xuân hôm nay đã mất, nhưng mùa xuân năm xưa vẫn sống mãi trong lòng tôi. Kỷ niệm với ba tôi thì cũng nhiều nhưng điều tôi nhớ nhất là việc làm quá sáng suốt của ông trong câu chuyện như sau:
Hồi ấy tôi còn rất nhỏ nhưng đã ghi lại hình ảnh đau thương, rùng rợn của người bác họ do bọn Việt Cộng gây ra. Vào cuối thập niên 1960, sau hiệp định Giơ-ne chia đôi đất nước, Hồ Chí Minh lợi dụng chiêu bài yêu nước của toàn dân, nên trong miền Nam đã có một số người khăn gói tập kết ra miền Bắc, trong đó có bác họ cùng ba tôi và một số anh em đồng trang lứa. Đêm đó họ đã đến điểm hẹn, tụ họp tại nhà ba tôi để cùng nhau lên đường. Ấp Bà Phong, xóm Cửa Lấp cách chợ Dương Đông ba cây số đường chim bay. Ba tôi là chàng công tử thị thành, sau khi kết hôn với má tôi ông từ giã một thời ăn ngon, mặc đẹp. Theo vợ về vườn, tay cuốc, tay cày, sáng nắng chiều sương cũng tạo được mái nhà tranh xinh xắn. Vườn trước, vườn sau, giồng rau, giồng cải, cây mít, cây xoài và các loại rau quả khác. Đôi ba ngày là má tôi có hàng nông phẩm gánh lên chợ Dương Đông bán cũng đủ mua quần áo, cây kim, cọng chỉ, viên thuốc, chén cơm nuôi sống cả nhà. Không biết có phải vì ba tôi đổi ngược cái câu “Nợ nước trước tình nhà” thế nên cái đêm tụ tập một số bạn bè tại nhà ba để đi ra Bắc. Trong phút giây bin rịn thế nào đó mà cuối cùng ba tôi và người bác họ đều đổi ý. Hai người đều ở lại trong Nam. Họ tiễn chân số anh em kia ra tận đầu làng, nói lời xin lỗi và kèm theo câu chúc bằng an. Ánh đuốc lập loè trong đêm tối, không soi rõ những gương mặt mang nhiều tâm trạng khác nhau. Tiếng chân xa dần, ánh sáng không còn ở cuối đường rẽ trái, chỉ còn là khoảng tối đen, vang vang tiếng chó sủa vọng lại từ xóm nhà bên kia. Bác và ba tôi trở về, chia tay nhau trước ngõ. Ông bước vào trong nhà, một đàn con nheo nhóc năm đứa. Anh tôi lúc ấy đúng mười hai tuổi, hai người chị sinh đôi, tôi và một em gái nhỏ hơn ba tuổi. Nụ cười nhẹ trên môi, ba tay bế em và tay kia kéo tôi sát vào lòng, má tôi nước mắt rớt theo tiếng cười. Niềm vui vô cùng to lớn, bà như vừa tìm được món đồ quý đã mất nhiều năm.
Mấy năm sau, thời kỳ ông Ngô Đình Diệm về chấp chính và thành lập nền Cộng Hòa. Ở những nơi hẻo lánh, xa chợ, đời sống của người dân rất là khó khăn, khổ sở, ngày Quốc gia, đêm Việt cộng. Ba tôi là người ở thành nên chữ nghĩa có nhiều hơn so với một số người trong xóm, nên đã được trên Quận đề nghị làm Trưởng xóm lo việc sổ sách, lục bộ trong làng, báo cáo tin tức từ thôn lên Quận và ngược lại. Giai đoạn nầy Việt Cộng hoạt động càng lộ liễu và dữ dội hơn. Chúng đã cảnh cáo ba phải bỏ chức Trưởng Xóm, ba tôi xin từ chức thì trên Quận không đồng ý. Cuộc sống hồi hộp và đe dọa từng ngày. Ba tôi đã có ý định bỏ nhà cửa, vườn tược để trở về sống ở thành thị, sinh mệnh sẽ được bảo đảm, an toàn hơn. Nhưng má tôi không bằng lòng vì cả đời bà gắn liền với đời sống ở nông thôn, vả lại còn bà ngoại tôi và người dì chưa trưởng thành. Về chợ lấy gì mà sống để nuôi cả một đàn con.
Kế hoạch đưa gia đình về chợ ở chưa ngả ngũ thì một biến cố kinh hoàng xảy ra vào những ngày cuối năm Tân Sửu. Buổi chiều hôm đó má dắt tôi ra ngoài Xóm Biển mua vài ký thịt heo để kho ăn trong ba ngày Tết. Trời vừa sập tối, hai mẹ con bước nhanh hơn, gió dưới sông thổi lạnh và cây lá lao xao bên bìa rừng. Hai má, con đi sát vào nhau, chợt nghe tiếng kêu la từ nhà người bác họ vọng đến, tiếp theo là tiếng thùng thiếc đánh lên từng hồi. Vì ở nhà quê mọi nóc nhà cách nhau hàng mấy trăm mét nên trong trường hợp có những biến động khẩn cấp, nhà nhà đều dùng thùng thiếc, son nồi hay bất cứ vật gì có thể tạo ra âm thanh để gọi báo cho nhau. Hai má con tôi chạy nhanh về gần tới nhà thì một cảnh tượng hãi hùng hiện ra trước mắt. Bác Tám, bác họ của tôi đã nằm chết phơi ruột, gan ra ngoài bên sau hè. Bác gái kể lại trong sự bi thương ràng rụa nước mắt: “Cả nhà đang ăm cơm thì có tiếng gõ cửa, một anh du kích mặc đồ đen mời bác Tám trai ra ngoài nhà nói chuyện, không biết họ nói với nhau những điều gì mà mãi hơn nửa giờ không thấy bác trở vô. Cả nhà đốt đèn lên, ra sau hè kiếm, các con cất tiếng gọi năm, bảy lần vẫn không thấy cha lên tiếng nên cả đám túa đi tìm. Gần tới vườn chuối thấy xác bác nằm phơi bụng ra, máu chảy lênh láng, ruột lòi ra ngoài, họ giết bác bằng mả tấu, lưỡi lê gì đó. Đâm mấy nhát dao vào ngực còn phần bụng thì bị rạch nát nhiều nơi, thật dã man, rùng rợn. Họ để lại trên ngực bác một tờ giấy ‘Đền tội với nhân dân’
Tôi lúc đó tám tuổi, lần đầu tiên trong đời thấy hình ảnh chết chóc quá ghê rợn như thế! Ba tôi nhận được hung tin bắt đầu lo ra mặt. Sau đám tang của bác, ba tôi lên chợ Quận, khi về tôi không nhận ra ông, vì mái tóc đen nhánh trên đầu của ba đã bay đâu mất. Cái đầu trọc lóc, các đường gân xanh hiện lên trên màng tang trông mà phát khiếp, tưởng như một người nào lạ hoắc. Mãi khi ba lên tiếng tôi mới nhận đúng là ba mình rồi... Không biết ông đã khấn nguyện điều gì mà phải cạo trọc đầu, chắc cầu sự bình an cho thân mệnh và gia đình! Trước cái chết của bác Tám, ba tôi cho rằng cái bọn người kia đã nhận chỉ thị, trở về trả thù, vì ông đã hủy bỏ kế hoạch tập kết ra Bắc cùng với các anh em kia. Suốt một tuần lễ liên tục, ba tôi không dám ngủ nhà. Một manh chiếu, một chiếc mền mỏng, ông ôm theo ra lùm cây rậm rạp dưới trũng sâu, cách nhà non trăm mét để ngủ. Quả đúng như vậy, qua mùng bốn Tết, một đêm kia lúc gần chín giờ tối, cả nhà tắt đèn sắp đi ngủ thì có tiếng gõ cửa. Hai người du kích, có mang súng muốn gặp ba tôi, má tôi trả lời: “Ông đã lên chợ chưa về”. Cả bọn họ không tin, đòi vào nhà lục xét, má tôi để họ tự nhiên, không thấy ông, họ đành bỏ đi. Hai hôm sau họ trở lại kiếm nữa thì ba tôi đã về chợ ở luôn rồi. Từ đó đến mãi những năm về sau, khi Cộng Sản Hà Nội cưỡng chiếm miền nam, ông chưa lần nào trở về đặt chân lên mảnh đất mà mình đã tốn rất nhiều công sức, đổ mồ hôi tạo dựng nào là vườn tiêu, vườn chuối, vườn ổi, rẫy thơm v. v... Gần một năm sau dì tôi đi lấy chồng, má mới yên lòng dẫn dắt con cái mà cắt ruột bỏ nơi ruộng rẫy đã gắn liền đời bà hơn mấy mươi năm qua. Về chợ ở, chúng tôi được cắp sách tới trường, ba tôi làm công chức cho quận, còn má tôi lo việc buôn bán hàng ngày. Sáng hàng nông phẩm, tối bán chè, cháo cũng đắp đổi qua ngày. Đời sống từ từ được thích nghi hơn, anh tôi vì tiếc của nên sau nửa năm lại trở về vườn xưa tiếp tục trồng trọt. Anh có tình với đất quê, nên đất đã cho anh nhiều nông phẩm. Khổ qua, bầu bí, mướp, khoai, rau cải, thứ nào cũng mọc lên xanh um, hoa trái đầy vườn. Mỗi buổi chợ một mình anh bán không xuể, má tôi lại cho một trong hai người chị sanh đôi thay phiên nhau xuống rẫy nấu cơm, giặt áo, quần cho anh. Mãi cho đến một hôm, chị tôi về khóc mếu máo báo tin rằng anh tôi đã bị bọn Việt Cộng bịt mắt bắt đi vô rừng rồi. Ba má tôi ở chợ rất lo lắng cho số phận của anh nhưng biết làm sao bây giờ, thôi thì đành phó cho trời! Sáu tháng sau anh được thả, anh tỉ mỉ kể lại lý do họ bắt anh: “Bởi vì anh chơi cờ tướng rất giỏi, cả xóm ai cũng biết danh. Mỗi ngày sau việc rẫy nương xong, anh lội xuống suối tắm cho tinh thần sảng khoái rồi tấp vào nhà một người quen, ở đó có sẵn năm, bảy người ngồi chờ. Một số người ngồi xem, một số người là đối thủ, nước cờ của anh đi rất cao, hầu hết thắng được các chú, các bác trong xóm. Đánh cờ mà không có ăn, thua thì không vui, không được hào hứng nên họ đồng ý theo qui luật. Ai thua thì phải nộp cho người thắng một bao thuốc lá, ấy thế mà bọn Việt Cộng cho đó là cờ bạc, là tệ đoan. Lý do thứ nhì là thấy anh tôi cách vài ngày đạp xe đạp cọc cạch chở hàng nông phẩm về chợ bán. Họ nghĩ rằng anh tôi mang tin tức của các ông đang hoạt động trong vùng về báo với quận, nên họ bắt luôn. Gom tất cả là hai tội để giáo huấn, để tuyên truyền”. Chị em chúng tôi mỗi khi Tết đến, mặc đồ mới trở về thăm vườn tược, cây trái, nhất là đào lộn hột trái chín đơm vàng trên cây. Chúng tôi trèo lên bẻ cả thúng, ngồi dưới gốc ăn liền, vừa ngọt, vừa thơm. Cắn một miếng nước chảy tràn ra khỏi miệng rớt trên chiếc áo mới may là kể như bỏ dù giặc kỹ vẫn không ra, cũng như vết thẹo của chị Phụng.
Mùa xuân năm đó chúng tôi ăn đào xong đi vòng khắp xóm rồi trở về, khát nước quá anh tôi leo lên cây dừa bẻ mấy trái xuống cho chị em tôi uống. Uống xong cả đám chia ra công tác hốt vỏ đem bỏ, đứa nào làm nhanh nhất kể như đứa đó thắng tôi không nhớ thắng cái gì nữa!. Một, hai, ba mấy chị em tranh nhau chạy đổ vỏ dừa, khi chạy về gần tới nhà, chị Phụng vì muốn tới trước nên lách qua một đứa khác. Trái tai bị móc vào cọng kẽm phơi áo quần, tét làm ba miếng lòng thòng thấy phát sợ và chiếc bông tai bằng vàng má mới mua cho hôm Tết bị văng đi mất. Bọn tôi xúm lại học cách của ba kiếm một điếu thuốc lá, xé ra đắp vào vết thương, máu ngưng chảy liền. Sau đó mấy ngày vết thương khô lại và ba lằn rách năm xưa giống như hoa tulip nở ngược trên trái tai của chị để sẹo cho tới bây giờ. Anh tôi sau lần bị Việt Cộng bắt dẫn vô mật khu, anh ở rẫy thêm một thời gian nữa, cuối cùng anh cũng về chợ đăng vào lính địa phương quân học khóa truyền tin đặc biệt phục vụ cho Tiểu đoàn Địa phương quân ở An Thới dưới thời ông Thiếu tá Minh là tiểu đoàn trưởng cho đến khi mất nước.
Xin được nói thêm ở đoạn nầy, khi về chợ ở ba má tôi lại sanh thêm đứa con trai út, đó là đứa em thứ chính của tôi tên là Nguyễn Thành Hiệp. Ông bà mình thường nói: “Giàu út ăn, nghèo út chịu!” Khi miền Nam đổi chủ nó khoảng chín, mười tuổi. Suốt mấy chục năm qua sống dưới chế độ đó cuộc sống cũng giống như bao người dân khác, eo xèo, nghèo đói không lối thoát. Hơn nữa ba má tôi đều đến tuổi già yếu và đã qua đời, như thế tương lai nó càng gian truân hơn nữa, giống như kiếp gà hằng ngày phải bươi để có miếng ăn nuôi vợ, nuôi con. Ba má tôi cũng hay thật, sanh chẳn chòi tám đứa rồi đặt cho tám cái tên thật đẹp, thật ý nghĩa, duyên tình: “Long, Phụng, Hòa, Minh, Sắc, Cầm, Hảo, Hiệp”. Những tên như thế nầy không thể thiếu trong câu chúc tụng nhân ngày thành hôn, cưới gả. Theo tên tuổi ba đã đặt sẵn, đứa nào sanh ra dù gái hay trai, ở vị trí thứ tự như thế nào đều phải chịu nhận lấy tên đó không thể nào thay đổi được.
Nhớ ngày đầy tháng cháu Vũ, đứa con trai đầu lòng của tôi, má dắt nó từ Sàigòn ra An Thới thăm chị và cháu. Mấy hôm sau nó chẳng muốn rời chân, bịn rịn, muốn ẵm luôn thằng cháu về Sàigòn để cưng. Thoáng chốc, thằng cháu năm xưa đỏ hỏn bây giờ là cậu thanh niên trên hai mươi tuổi. Ngày cuối tuần không nghe lời mẹ ở nhà phụ ba lót gạch ngoài vườn, mê chơi cùng các bạn nên đã xảy ra chuyện gãy chân. Lúc ấy tôi đang đi dạo ngoài sân, bỗng dưng tôi té quỵ xuống, đầu gối đập mạnh xuống nền xi-măng đau điếng. Người ta nói: “Mẫu tử liền tâm!” chính là giây phút đó thằng con tôi chơi ngoài công viên, bạn bè rượt nhau, nó nhảy xuống một cái hố sâu chỉ hơn một feet, cái chân nghe rắc một tiếng thế là xương ống quyển của nó đã bị gãy. Bạn bè khiêng ra, chở thẳng tới nhà thương gần đó. Vì còn là sinh viên chỉ đi làm bán thời gian, cháu không có bảo hiểm sức khỏe nên nhà thương giữ một đêm. Sáng hôm sau họ chuyển qua bệnh viện Bascom, tôi liên lạc với Sở Xã Hội xin medical khẩn cấp để giải phẩu xương chân và băng bột, thế là việc học của cháu bị gián đoạn. Trong thời gian nầy tôi vừa mất mẹ, vừa mất cha, lại có thêm thằng con bị gãy chân nên đã làm cho tôi lo âu, phiền muộn khá nhiều, cảm thấy đau bên lồng ngực phía trái. Tôi làm hẹn gặp bác sĩ Ngãi để ông khám xem tôi có bị đau tim không. Qua nhiều thứ test vẫn chưa tìm ra, cái test sau cùng là vô nhà thương để ông thông tim. Năm giờ sáng chàng đưa tôi vào San Jose Hospital, hoàn tất thủ tục giấy tờ, người y tá đưa chúng tôi vào một căn phòng nhỏ giao lại cho nhóm ý tá khác để chuẩn bị lấy máu. Bà y tá nầy coi sơ qua hồ sơ rồi chỉ ngay vào chàng của tôi: “You, please take off your jacket, change your cloths and lay down here!” Chàng còn đang lúng túng, ngỡ ngàng và ngạc nhiên, tôi nhìn bà cười rồi chỉ vào ngực mình:
- It is me, I am the patient, not him!
Bà y tá cười bẽn lẽn, ngượng ngịu rồi xin lỗi:
- I am so sorry, I thought it was him.
Sự lầm lẫn của bà y tá cũng bình thường, không có gì đáng trách. Thông thường người già hay bị bệnh tim, so sánh giữa tuổi tác, chàng của tôi nhìn lớn tuổi hơn tôi. Người lớn tuổi thường bị đau tim chớ người trẻ thì làm gì mang bệnh ấy được. Hơn nữa, tôi make up, ăn mặc cũng lịch sự lắm nên đã khiến bà nghĩ lầm. Thế là tôi thay áo quần, mặc vào chiếc áo màu xanh dương lợt của bà y tá đưa, lên giường nằm đợi khám nghiệm. Năm phút sau một cô y tá tới lấy máu, cô lụi mấy chỗ mà kim vẫn chưa đụng vô đúng mạch máu. Mỗi lần như vậy cô rút mũi kim ra, máu nhỏ hàng giọt xuống floor thấy phát ớn. Họ phải gọi một cô y tá khác chuyên lấy máu cho các trẻ em sơ sinh, cô nầy vừa tới gặp tôi đã nhoẽn miệng cười:
- Don’t worry, I will do a good job!
Tôi cười nói:
- I hope so! You guys make me so scared…
Cô vỗ vai tôi trìu mến:
- Don’t worry, I will not hurt you anymore! OK!
Ấy thế mà cô lụi ba lần mới tìm ra được mạch máu của tôi. Lấy máu xong, cô giữ mũi kim đó để truyền nước biển luôn. Đến giờ, Bác sĩ Ngãi vô phòng bắt đầu làm công việc thông tim. Kết quả thì trái tim tôi vẫn không có vấn đề gì, nên tim vẫn khỏe mạnh, không bị tắc nghẻn bởi choresterol. Sau cùng ông cho biết có lẽ quá căng thẳng, quá lo lắng, nên bắp thịt bên ngoài trái tim bị co thắt tạo ra hiện tượng, cảm giác ấy mà thôi! Thế là tôi an tâm, dùng trái tim nầy để tiếp tục yêu đời, yêu người, yêu quê hương, dân tộc, và yêu mẹ cha dù nay đã không còn.










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét