Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Tự Truyện Kiếp Lục Bình - Chương 18: Có Những Giấc Mơ

 

Chương Mười Tám 

CÓ NHỮNG GIẤC MƠ        

          Ngài Ngô Minh Chiêu người sáng lập ra đạo Cao Đài tại hải đảo Phú Quốc là anh em cô cậu ruột với bà Cố tôi là bà Đinh Thị Lan. Thời gian đó ông cũng là tri huyện tại hải đảo Phú Quốc. Tôi nhớ năm tôi mười ba tuổi, lúc nằm đong đưa trên chiếc võng ở nhà sau, bỗng nhiên cảm thấy nóc nhà bị biến mất, nhường lại một bầu trời xanh lơ với một tượng Phật Thích Ca sáng chói, vàng rực. Tôi sợ quá, liền chắp hai tay niệm: “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Lạ lùng thay, tượng Phật ấy đã biến mất. Chỉ vài giây đồng hồ sau, một con mắt thật to, thật lớn hiện ra, tia sáng uy nghiêm phóng tận chân trời. Tôi hãi hùng quá, trong lòng không biết niệm danh gì? Lại sực nhớ có nhiều lần khi đi ngang qua vào giờ bà cố tôi cúng trà nước cho ngài Ngô Minh Chiêu bà niệm câu: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.  Tôi nhớ loáng thoáng câu niệm ấy và đem ra thực hành liền. Thật là mầu nhiệm, Thiên Nhãn đột nhiên biến mất và cái nóc nhà cũng liền lặn trở lại, nhìn xuống ngực thấy hai bàn tay tôi vẫn chắp trong tư thế như đang xá, lạy… Rồi từ đó tôi thích ăn chay, thích lên chùa Cao Đài mỗi khi người Sàigòn ra để ngồi cơ, chắp bút. Vì việc học, sau đó tôi rời đảo vô Rạch Giá và sau khi truởng thành, lập gia đình, biến cố dồn dập đã đưa đẩy tôi trôi giạt xứ người. Bệnh mắt đến với tôi như một định mệnh oan khiên. Ngày đi hốt thuốc bắc tôi gặp dì bảy Ngọc Tuyết Tiên, chủ nhân tiệm thuốc bắc Viễn An Đường, cũng là chức sắc cao trong Thiên Lý Bữu Tòa  bà có đôi lời vừa an ủi, vừa trách cứ: “Đã thấy được Thiên Nhãn, đó là một phước phần rất lớn, tại sao không bước thẳng vào đường tu lại bước ra đường đời nên cô mới bị bệnh tật như vậy”. Thật ra lần ấy tôi thấy hai hiện tượng, hai chơn tánh đại diện cho hai tôn giáo chứ không phải chỉ là một Thiên Nhãn. Hơn nữa đạo Cao Đài có thờ Tam Giáo Quy Nguyên, một bên là Đức Phật Thích Ca và một bên là Đức Chúa Jesu.

          Những câu chuyện lạ, những con người sống giữa hai trạn thái siêu nhiên và bình thường  đã đưa tôi vào tình huống mơ mơ, hồ hồ. Thật sự có kiếp trước, kiếp sau, cõi thiên, cõi địa hiện hữu trong cõi ta bà nầy không? Những mẫu chuyện tôi ghi ra  đây đều có thật, đầy huyền bí khoa học khó mà giải thích được!  Tôi nhớ lần đó chúng tôi đang đi Target thì tình cờ gặp lại vợ chồng cô Phương,  người mà gần mười năm trước chúng tôi quen biết qua anh chị Nguyễn Văn Sáu. Lúc ấy hai vợ chồng cô Phương đang làm nghề bán xe lunch, loại xe nầy thường mang thức ăn đến bán cho các hãng xưởng vào buổi trưa. Thời gian sau nghe đâu cô Phương không còn bán nữa mà về nhà lập bàn thờ gõ mõ, tung kinh, tu tại gia rồi bắt đầu ăn chay trường.  Lúc ấy cô có hai đứa con tuổi còn nhỏ, chuyện chăn gối với chồng cô cũng dẹp qua một bên luôn. Anh chồng rất khổ sở chưa biết tính sao! Ly dị vợ thì con trẻ không cha, cái ăn, cái ở ai lo cho chúng?  Nghĩ thế nên anh sống với Phương cái kiểu nầy cho qua ngày tháng, hy vọng  một ngày nào đó Phương sẽ trở lại  đời sống bình thường. Từ lúc ăn chay, niềm Phật ba năm Phương chưa hề bước chân ra khỏi nhà,  và cũng ít khi mở miệng tiếp xúc gì với aí. Đêm đó nằm mộng Phương được ơn trên mách bảo rằng sáng hôm sau hãy đi ra ngoài và sẽ gặp lại người quen biết cũ và truyền đạt những điều mà ơn trên đã giao phó.  Thế là Phương đã gặp tôi sau gần mười năm vắng bặt.  Chúng tôi tay bắt, mặt mừng hỏi thăm đủ chuyện, sau đó Phương nằng nặc muốn về nhà chúng tôi chơi cho biết. Vì lịch sự, hơn nữa nhà chúng tôi cũng mới vừa xây cất xong nên sẵn dịp mời hai vợ chồng Phương cùng hai đứa con về nhà luôn.

          Vừa nói chuyện, vừa uống trà chưa tới mười phút thì Phương cất giọng khào khào, gương mặt đỏ gây quay sang tôi cầm tay lắc lắc mấy cái: " Chị nữ nầy chị có biết chị từ đâu tới không?  Tôi nghĩ là Phương đùa nên cười rồi trả lời: "Từ Việt Nam tới chứ từ đâu? " Cô Phương lắc đầu: "Không phải, chị từ trên kia xuống đây!" Phương vừa nói vừa ngước mặt đưa tay chỉ lên trời. Rồi cô nói tiếp: "Ta nói cho chị nữ biết, kiếp nầy là kiếp sau cùng của chị đấy, ráng mà ăn chay, niệm Phật  để trở về trên kia.  Ngày tháng còn ở đây nữ phải lo việc cứu nhân, độ thế, chữa bệnh cho người.."  Tôi thấy có điều gì kỳ lạ, không bình thường nên hỏi tới luôn: "Tôi có tài cán gì mà làm chuyện ấy? Bệnh của tôi, tôi chữa chưa xong nữa thì làm sao chữa bệnh cho người khác được? "  Phương trấn an: "Điều ấy chị nữ đừng có lo,  ơn trên đã an bài mọi việc, những lúc trời gần sáng chị thấy xương sống ớn lạnh lắm phải không?  Đấy là điện từ ơn trên truyền xuống vào người chị đó. Nhờ thế mà hai bàn tay chị lúc nào cũng ấm, cũng nóng. Đây là bàn tay cứu nhân, độ thế chữa bệnh cho người, với lòng thành ăn chay, niệm Phật chị sẽ làm được công việc ấy."  Khi cô Phương nói ra điều nầy thì tôi thấy quả là đúng, hai bàn tay tôi lúc nào cũng ấm áp.  Nhiều lúc tôi để hai bàn tay trên thành ghế sofa  bỏ đi  đâu vài phút, khi trở lại ngồi tôi đặt bàn tay lên trên ấy thì cảm giác như ai mới vừa dùng bàn ủi, ủi lên trên đó. Đồng thời tôi cũng nhớ đến câu chuyện bà thầy nhân điện của anh Trương Phú Hiếu, chẳng lẽ đây là sự thật, là huyền bí và mầu nhiệm mà người thế gian của chúng ta không hiểu được. Có điều tôi cảm nghiệm với chính bản thân mình rằng lúc nào ơn trên cũng theo dõi, bảo hộ che chở và đôi lúc cũng giáo hóa. Tôi làm gì sai, nói điều không đúng thì đêm đó trong giấc mơ sẽ bị trừng phạt ngay, miệng ngậm đầy một đống kim. Ngày rằm, ngày mùng một mà tôi quên ăn chay thì tối hôm đó tôi lại thấy mình ăn toàn thịt mỡ đến nghẹt họng, ăn tới ói ra… Trãi qua nhiều lần  như vậy tôi tự ý thức rằng đây là sự dạy dỗ, tu tập từ các đấng bề trên. Nhất là còn tham vật chất thế gian.  

          Tôi ở San jose nầy trên ba mươi năm, lúc đó nhà cửa còn rất rẻ nhưng mỗi lần có ý định mua thêm nhà để đầu tư thì tối hôm đó tôi sẽ thấy cái cảnh mình lạc lối trong rừng, mình lạc lối giữa sa mạc bị những sợi dây vô hình ràng buộc, trì kéo không cách nào thoát ra được. Bởi thế nên suốt mấy mươi năm tôi chỉ có một ngôi nhà để che mưa, che nắng mà thôí.  Năm 2003 những vùng lân cận như Antioch, Stockton nhà cửa bắt đầu xây lên hàng loạt, nhà nào nhà nấy rất là đẹp, rộng rãi nữa. Chúng tôi xúm nhau xuống dưới coi nhà mẫu, thấy quá đẽp nên đã đặt mua một căn. Tối hôm đó nằm mơ thấy tôi mất cái bớp trong đó có một ngàn mỹ kim. Đang trên đường đi tìm thì lượm được ba viên hột xoàn lớn, tôi lẹ làng bỏ vào túi áo, bụng nghĩ thầm: "Thôi thì mình mất một ngàn nhưng bù lại mình nhận được ba hột xoàn nầy thì cũng đáng giá lắm rồí"  Vừa nghĩ như vậy thì bỗng dưng túi áo của tôi  bốc cháy, ba viên hột xoàn  rớt xuống đất, lửa từ hột xoàn bốc lên có ngọn, đố ai dám thò tay vô vốc lửa…  Thế là tôi bỏ chạy một mạch về nhà.  Vừa vô nhà tôi đã thấy bàn thờ Quan Thế Âm phát hỏa, như vậy là ơn trên muốn gởi gấm tôi một thông điệp nào đó.(Đừng lo làm giàu mà phải lo tu dưỡng, vì đây là kiếp chót, nếu không sẽ bị đày ải ngàn năm ở cõi thế gian nầy.)

          Còn nhiều giấc mơ nữa, tuy nhiên có một giấc mơ mà khiến tôi rất sợ hãi, rất kinh khiếp.  Đó là tôi thường nằm mơ thấy lửa, lửa từ trên trời rớt xuống, lửa bể ra từ ánh mặt trời thành nhiều mảnh nhỏ rớt xuống thế gian, đụng tới đâu thì cháy tới đó. Hình như mặt trời có con mắt, cứ theo dõi tôi, cứ kiếm tìm tôi, nhìn vào tôi không rời. Dù tôi có núp, trốn chỗ nào thì mặt trời cũng biết. Thế là lửa rớt  xuống từng mảng,  cháy tràn lan, cháy khắp nơi. Tôi cố chạy thoát thân đến lúc mệt sắp ngất xỉu thì mới giật mình thức dậy mồ hôi ra nhễ nhãi, thật là điều kỳ lạ, quái gỡ. Thỉnh thoảng cứ thấy giấc mơ ấy xảy ra liên tục, liên tục… cho tới một ngày mắt tôi hoàn toàn tối hẳn thì không còn thấy giấc mơ ấy nữa.                                            

          Giấc mơ quái dị kia chấm dứt thì tôi lại thấy một giấc mơ khác không kém phần lạ lùng, ghê sợ! Tôi với Ngọc Dung là đôi bạn rất thân, chơi với nhau từ thời niên thiếu đến lúc trưởng thành. Ngày 30 tháng 04 năm 1975, trước đó một tuần tôi có gặp Ngọc Dung,  lúc ấy Dung đã sanh một đứa con trai hơn một tuổi, ông xã Dung là y tá quân y đang công tác tại An Thới.  Anh khám bệnh cho mấy chục ngàn người dân từ miền Trung chạy vô, miền Nam lúc đó như ngọn đèn trước gió không biết vụt tắt lúc nào! Tôi cùng Dung hai đứa rủ nhau vào nhà lồng chợ  ăn mỗi đứa một tô bún riêu rồi chia tay liền.  Suốt 20 năm sau tôi thỉnh thoảng cũng gặp thấy Dung trong giấc chiêm bao. Hình ảnh hai đưá vét từng lon nước giếng đổ đầy thùng rồi gánh về nhà trong những ngày cận Tết, chúng tôi dừng lại ngồi nghỉ xả hơi giữa đoạn đường, nhìn lên trời cao chúng tôi mơ mộng cùng các vì sao sáng lấp lánh trên kia. Gởi ước nguyện vào ngôi sao sáng nhất: "Đó là tao, đó là mầy! Mai sau dù ở phương trời nào nếu nhớ nhau mình hãy tìm sao gọi tên nhau nhe. Khi mầy thấy ngôi sao của tao chớp chớp đó là tao đã nghe thấy mầy gọi rồi đó nhỏ!" Một kỷ niệm trong nhiều kỷ niệm thật dễ thương của tôi với Dung là như thế đó! Có lúc tôi thấy hai đứa đi ăn chè đậu đỏ, sâm bổ lượng tại quán ông Khái trên đường Nguyễn Trung Trực, rồi lại thấy hai đứa giận nhau, ra đường gặp mặt nhìn nhau bằng nửa con mắt,  nguýt, hấy, chu mỏ, nghiến răng…tiềm thức trở giấc giữa mộng và thực lôi kéo tôi về thời gian đó.. Mấy năm sau trong một buổi đứng lớp, tôi đang cắm cúi viết lên bảng đen bài Tập Đọc, chợt một em trưởng lớp đứng lên thưa: "Dạ thưa cô, có cô nào đang đứng ngoài cửa lớp muốn gặp cô.. "  Tôi nghe tiếng thưa liền dừng tay nhìn ra cửa lớp thấy Dung đang đứng đó với nụ cười cầu hòa, thấy cả chiếc răng khểnh xinh xinh của Dung. Hai đứa ôm chầm lấy nhau, thế là mùa Nô- en năm ấy chúng tôi lên rừng hái trái, xuống biển mò nghêu. Bơi lội, lặn ngụp trong dòng nước xanh mát rượi. Bao nhiêu giận hờn vu vơ ngày trước đã được rữa sạch, xóa tan. Ngày đám cưới của Dung tôi nhờ Trung úy Kiệt  lái L19 bay về Dương Đông tham dự. Hơn một năm sau tôi cũng lập gia đình, ngày đám cưới của tôi Dung cũng tới dự. Thế là hai đứa chúng tôi đi lấy chồng bỏ cuộc chơi với bao buồn, vui thời tuổi dại.  Mỗi độ xuân về, mỗi lần tết đến, tôi thường mơ thấy Dung... Có một đêm tôi nằm mơ thấy mình trở về Phú Quốc, mới đi tới đầu ngả năm đã thấy Dung ra đón. Nó nhất định kéo tôi về nhà nó trước, Dung nói: "Mầy ghé thăm nhà mới của tao trước đã, rồi sau đó về nhà hai bác cũng được mà!"- "Nhà mầy ở đâu, chứ không còn ở chỗ cũ sao?" Hai chị em Dung sống với ông bà ngoại từ nhỏ tới lớn. Nhà ngoại Dung đầu ngõ, nhà ba má tôi cuối ngõ. Nghe tôi hỏi vậy Dung trả lời: "Nhà tao cũng gần đây thôi, mầy đi một chút sẽ thấý"  Dung dắt tôi đi qua một cánh đồng nhỏ, cây cỏ lưa thưa,  đất đá ghồ ghề. Tôi bực quá nên gằn giọng hỏi: "Nhà mầy ở đâu, sao dắt tao đi vô chỗ nầy!"  Dung liền chỉ tay lên cái gò đất phía trước: "Nhà tao đây nè, mầy vào chơi nghe"  Dung nói xong cười  khanh khách rồi biến mất.  Tôi nhìn kỹ lại thì ôi chao.. đây là ngôi mộ nằm giữa cánh đồng hoang, tôi ba chân, bốn cẳng chạy một mạch về nhà, mệt muốn đứt hơi, thế là tôi giật mình tỉnh dậy. Thời gian đó tôi chưa liên lạc được với Dung nên mọi chuyện xảy ra như thế nào tôi đâu có biết.  Đến năm 1992 cô em gái về nước, tôi có gởi chút ít tiền nhờ mang ra Phú Quốc biếu tặng cho Dung, thì lúc đó mới hay Dung đã mất rồi, anh Khương chồng của Dung cho biết như thế.  Dung làm ngân hàng nhà nước, tiền bạc, sổ sách thất thoát thế nào đó,  Dung sợ  bị ngồi tù nên đã uống thuốc độc tự vẫn. Thế là Dung về báo mộng cho tôi bằng cách ấy…     Nếu nói là giấc mơ thì hầu hết những giấc mơ của tôi đều trở thành hiện thực, từ việc nhỏ nhặt tầm thường cho đến việc trọng đại. “Chồng qua mặt, con nói dối” đều có người đến báo cho tôi trong giấc mộng nên tôi biết rõ hết chân tướng. Cũng như trận bão Linda xảy ra ở Việt Nam, tôi đã nằm mơ thấy trước, tôi thấy mình về Việt Nam thăm quê chồng ở miền Trung, đang ngồi nói chuyện với cô em gái của chàng bỗng dưng nước từ đâu tràn tới lênh láng và ngôi nhà bị nước cuốn trôi, tôi kêu cứu ơi ới nhưng chẳng ai nghe thấy. Tôi một thân một mình vớ được tấm ván trôi dập dềnh, qua bao nhiêu ngày, bao nhiêu đêm ngâm mình dưới nước tôi cảm giác như hai chân tôi quờ quạng, động đậy, chạm phải nhiều xác người, xác thú vật đang chết chìm, chết đuối. Trời tối âm u, gió bão cuồng phong nổi lên từng chập. Quang cảnh thật là kinh hồn, tôi cứ tiếp tục kêu la cầu cứu. Tiếng kêu của tôi lớn quá chính nó tự đánh thức tôi và lúc đó tôi mới giật mình tỉnh mộng. Hơn gần một tháng sau, trận bão Linda xảy ra gần mười ngàn người chết và mấy ngàn ghe, tàu đánh cá bị chìm, không vô bến kịp hoặc đậu tại bến cũng bị sóng gió nhận chìm. Còn hai tòa tháp đôi Twin Center ở New York trước đó một tháng tôi nằm mơ thấy chiến tranh xảy ra và bom đạn tàn phá, làm sập hai tòa nhà ấy, khói lửa mịt mùng, người chết vô số.

          Cho dù thấy như vậy nhưng tôi tin rằng không bao giờ chuyện ấy có thể xảy ra tại đất nước Hoa Kỳ nầy... Nhưng thực tế đã xảy ra, đã ứng nghiệm vào giấc mơ của tôi. Buổi sáng đó thứ ba lúc tám giờ bốn mươi sáu phút sáng giờ địa phương. Chiếc phản lực cơ đầu tiên do bọn khủng bố điều khiển đâm vào toà tháp phía nam đến chín giờ lẻ ba phút chiếc phản lực cơ thứ nhì đâm vào phần trên của tòa tháp ở hướng bắc. Chín giờ năm mươi chín phút tòa tháp phía nam cũng là tòa tháp đầu tiên bị tấn công đã sụp hoàn toàn và đến mười giờ hai mươi tám phút Tòa Tháp thứ nhì đổ sập xuống. Như vậy chưa đầy hai tiếng đồng hồ, hai building cao ngất trời bỗng nhiên mất dạng, cuốn theo 2,751 sinh mạng đã lìa đời mang lại tang thương, đau đớn cho toàn dân nước Mỹ. Tôi cũng là người Mỹ gốc Việt nên mang nỗi đau chung, vì thế đã làm ra bài thơ "Cùng Nhau Nguyện Cầu" xin ghi lại tâm tình của mình trong ngày biến động ấy:

          Tôi cúi xuống nghe tim mình thổn thức

          Đau niềm đau với Nữu-Ước, Đi-Xi*

          Sáng thứ ba khung cảnh xám màu chì

          Là chết chóc là phân ly đổ nát…

          Triệu con tim còn bàng hoàng ngơ ngác

          Twin Center chốc lát biến thành tro

          Ngũ Giác Đài năm cánh cụm co ro

          Cả thế giới âu lo và rúng động!

          Tôi đang sống hay đi vào cơn mộng?

          Thật hãi hùng, lồng lộng bóng phi cơ

          Thượng Đế ở xa nên em chết tình cờ

          Ôi oan nghiệt hay cuộc đời dâu bể

          Người tri thức biết ngăn ngừa cội rễ

          Kẻ vô luân bất kể nghĩa nhân   

          Tôi thương em có đôi mắt lạc thần

          Giống y hệt dân tôi ngày mất nước!

          Hồi tưởng lại mấy mươi năm về trước

          Thật kinh hoàng cảnh máu lửa, đạn rơi

          Chuyện xảy ra chỉ tưởng ở quê tôi

          Nay lại đến xứ bình yên muôn thuở   

          Tôi với em như hai người tình lỡ

          Dẫu thế nào cũng chẳng nỡ quên nhau

          Vì chúng ta có chung một niềm đau

          Mong tất cả hãy trôi vào quên lãng 

          Lòng nhân ái thăng hoa đời tị nạn

          Bởi vì em có di sản đặc trưng

          Có tự do, no ấm một rừng

          Có chính nghĩa, nhưng lưng chừng tình nghĩa       

          Em hãy cùng tôi bước vào Thánh địa

          Cùng nguyện cầu Hiệp Chủng Quốc bình yên

          Mọi tai ương tách khỏi đám dân hiền

          Và thế giới triền miên trong hạnh phúc…

 

          *Washington DC

        Lại có thêm một giấc mơ khác, cô em thứ sáu về Việt Nam bất ngờ không nói lý do. Tối đêm đó có người báo mộng cho biết rằng cô ấy đem một người Việt Kiều về cưới cháu Hương, con gái lớn của chị Phụng. Đây là một tin vui nhưng cô ấy giấu tôi, mãi đến khi chị Phụng từ Việt Nam gọi sang thông báo tin chị sắp gả con, tôi liền hỏi:

        - Có phải gả cho Việt Kiều không?

        Chị ngạc nhiên hỏi:

        - Tại sao em biết?

        Tôi cười trả lời:

        - Con Sắc nó giấu em, nhưng ơn trên đã báo mộng cho em biết rồi! Chúng em thành thật chúc mừng anh chị và cháu Hương, cơ hội gặp anh chị bên Mỹ chắc không xa.

          Gần đây nhất là chuyện của anh Sang chồng chị Phụng bị bệnh gan suốt mấy tháng nay đưa lên thành phố Sàigòn rồi lại trở về nằm bệnh viện Long Xuyên, lúc khỏe, lúc mệt. Cho tới một đêm tôi nằm mộng thấy cùng chị Phụng đi mua vải trắng ở chợ nhà lồng Long Xuyên, tôi gọi về cho chị Phụng liền, báo rằng chị hãy chuẩn bị, anh Sang sẽ ra đi rất sớm. Thiệt y như rằng, đêm sau tôi gọi chị Phụng, chị đang ở nhà thương cạnh giường anh, anh vẫn tỉnh táo không mê man gì hết. Tuy nhiên hai bàn chân bắt đầu lạnh và tê, anh tưởng rằng đôi vớ anh mang quá chật, anh bảo chị Phụng lột ra, chị Phụng cho anh biết rằng dì Năm (tức là tôi) đang gọi phôn về thăm anh, anh muốn nói chuyện không? Anh Sang trả lời:

          - Cám ơn dì Năm. Thôi bà nói chuyện với dì đi!

           Sau đó nửa giờ đồng hồ con gái anh, cháu Hương ở Mỹ gọi về, anh nói chuyện với cháu Hương được mấy lời. Hương dặn dò anh:

          - Ba ráng đợi con, con đã mua vé máy bay rồi, ngày mai con sẽ về thăm ba, ba phải đợi con nghe!

           Mười lăm phút sau anh làm mệt, lúc đó anh biết mình sắp chết, anh quay qua nói với vợ:

          - Như vậy là bà đi Mỹ một mình rồi, tôi không đi với bà được! Nhưng tôi sẽ phù hộ bà...”

          Nói xong anh nhắm mắt và vĩnh viễn ra đi, anh đi về một nơi mà tất cả con người chúng ta rồi cũng sẽ có ngày phải đến. Có điều rất tiếc cho anh là niềm mơ ước của anh chưa trở thành hiện thực. Anh rất mong đi Mỹ, con gái anh đã lo giấy tờ xong xuôi tất cả và giấy phỏng vấn cũng đã về tận nơi. Tuy nhiên mấy tháng qua anh mang bệnh nên chưa phỏng vấn được. Chuyện xảy ra như vậy thì mới thấy rõ mỗi con người đều có định mệnh, có số phận riêng, không ai chia xẻ số phận giùm cho ai được cả!


Anh Hồ Văn Sang   

Chị Nguyễn Kim Phụng   


Cháu Hồ Kim Hương

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét