Chương Hai Mươi Mốt
TÌNH NGƯỜI KHÓ QUÊN
Sau ngày ra mắt sách - thơ mười tờ báo địa phương tới làm phóng sự và viết ra những lời khen ngợi, khích lệ về sự nỗ lực phấn đấu của tôi: “Văn thơ của chị là tiếng nói quê hương, là hơi thở của Cộng Đồng…” ký giả Huyền Thịnh, báo Mõ San Francisco, “Nước Việt nam ta, từ cỗ chí kim trong giới sáng tác chưa có người phụ nữ khiếm thị nào viết được truyện dài, tác giả Hoa Hướng Dương là người duy nhất…” ký giả Nguyễn Dương và Nguyễn Khanh báo Cali Today, “Nhiều người đến ủng hộ chị, bởi vì qua cung cách, nhân phẩm, uy tín và trưởng thành trong thơ, văn….” ký giả Du Phong báo Sàigòn USA. Ngoài ra những tờ báo ở xa như Phụ Nữ Đẹp, ở Texas, cũng đăng lại lời tường thuật của ký giả Trần Củng Sơn tức nhạc sĩ Trần Chí Phúc rất quan tâm tới việc tôi làm sao có thể dùng máy computer mà sáng tác ra một chuyện dài như vậy, ông tỏ ý vô cùng thán phục với sự kiên trì nỗ lực của tôi. Đồng thời với lời lẽ chân tình, nồng nàn giới thiệu sách mới và con người mới của nền văn học hải ngoại. Còn tuần báo Người Việt ở Florida với lời của ký giả Hoàng An đã so sánh và ví: “Tác giả có nghị lực giống như cựu nữ Thủ Tướng Thatcher của Anh Quốc, vì bà nầy quá cứng rắn, nhiều nghị lực nên đã được mệnh danh là Steel Lady, vậy thì chúng ta cũng nên đặt một danh từ nào tương đương cho tác giả Hoa Hướng Dương nầy, chẳng hạn như Iron Lady.
Điều làm cho tôi cảm thấy lạ là việc ký giả Vũ Khang đến mua cuốn sách trịnh trọng trả 25 Mỹ kim và xin chữ ký của tác giả. Thông thường các nhà báo nếu đến đều được nhận sách free, nào ngờ ký giả Vũ Khang kỳ nầy với Hoa Hướng Dương ông đối đãi đẹp thiệt! Riêng nhà báo Đặng Thiên Sơn vắn tắt, gọn gàng: " Hoa Hướng Dương là viên ngọc trai trong làng văn học hải ngoại." Ngoài ra cũng có một số khán, thính giả tiêu biểu gọi đến như anh Trí kèm theo lời lẽ: “Đã bao nhiêu năm qua, tôi và gia đình theo dõi từng bước chân, từng việc làm của chị nên tôi đã cảm nhận được cái tâm, và tấm lòng trong sáng của chị đối với cộng đồng, quê hương và dân tôc”. Còn cô Ánh Diệp sau khi đọc hết quyển sách cô chân tình nói: “Em sẽ đưa quyển sách nầy vào tủ sách collection của em, vì em thấy rất hay và đây là một trường hợp quá hiếm hoi" Chú Thanh bảy mươi tám tuổi ở Louisiana gọi đến gặp được tôi chú mừng lắm và chân tình bày tỏ: “Tố Hữu, một tên văn nô, bồi bút, ông ta muốn vào ngồi trong nền Văn Học Việt Nam, nhưng không, chúng tôi sẽ lôi cổ ông ta ra, còn cô chúng tôi sẽ cõng cô vào nền văn học nhân bản của người Việt Quốc Gia, cô là ánh hào quang, là vầng thái dương soi đường, dẫn lối cho chúng tôi, những người còn sáng mắt mà chưa làm được những gì cô đang làm!” Còn nhà thơ Trúc Giang nhận xét: "Hoa Hướng Dương giống như bà Huyện Thanh Quan cũng có lòng yêu nước nhưng nếu so về di sản văn học thì Hoa Hướng Dương có lẽ vượt trội hơn. Vì cô có hằng mấy trăm bài thơ, truyện dài, truyện ngắn, tùy bút, tự truyện . v. v." Và một người cao tuổi nhất, đó là cụ bà nữ sĩ Trùng Quang, tuổi trời đã ngót một trăm đã khích lệ tôi qua lời nhận xét: "Những vần thơ, những câu văn, những mẫu chuyện về đời tị nạn của người có hoàn cảnh nghiệt ngã như tác giả Hoa Hướng Dương xứng đáng được lưu truyền để lại cho thế hệ mai sau." Nhà báo Đặng Thiên Sơn hết lời khen ngợi: "Tác giả Hoa Hướng Dương quả xứng đáng là viên ngọc qúy của nền văn học hải ngoại" Còn một điều bất ngờ, lý thú khác nữa tôi xin kể ra đây luôn, đó là lời nhận xét rất đặc biệt về một số bài thơ trong thi phẩm "Gọi Hồn Dân Tộc" của ông Thư Trang Nguyễn Bá Thư. Ông là người cộng tác với báo Đuốc Nhà Nam tại Sàigòn trước năm 1975. Hiện giờ ông cũng là cố vấn của Hội Tây Sơn Bình Định, lời lẽ ông như sau: "… Gần mười năm dò dẫm, tìm hiểu những sinh hoạt trong dòng văn học hải ngoại, tình cờ tôi vớ đượcTuyển Tập Thơ LạcViệt, đọc hết hơn năm mươi tácgiả đủ cả ba thế hệ nam nữ đều góp mặt. Thật là muôn màu, muôn vẻ. Nhưng thú thực là tôi giật mình bấn loạn khi đọc đến những vần thơ của thi sĩ Hoa Hướng Dương qua các bài: 'Tình Trăng', 'Đứt Sợi Chỉ Hồng', 'Mùa Xuân Đã Mất', 'Tóc Thơ', 'Tiếc Đời Tài Hoa'. v. v . . . Tôi đọc và nghiền ngẫm suốt mấy đêm liền, bớt giờ ngủ thường lệ. tôi đọc đi, đọc lại một số bài : 'Gãy Cánh Kiêu Sa', 'Tình Trăng', 'Sầu Ly Hương', 'TócThơ', ' Nỗi Lòng Của Mẹ', 'Cuộc Đời Và Tình Người', 'Bóng Chiều Tan' . v.v… tôi có cảm nghĩ phải chăng những năm đầu bán thế kỷ 20 thập niên ba mươi, bốn mươi có thi sĩ Hàn Mạc Tử và đến thế kỷ 20 đầu đầu thế kỷ 21 một ngàn chín trăm chín mươi, hai ngàn mười có thi sĩ Hoa Hướng Dương đã diễn tả Tình trăng phong phú đến thế là cùng. Hàn Mặc Tử có hai câu bất hủ : Trăng nằm sóng soải trên cành liễu. Đợi gió đông về để lã lơi.. còn Hoa Hướng Dương một bông hoa đã "Gãy Cánh Kiêu Sa" chỉ nhìn trăng qua cảm nhận của cảnh quang thật tinh tế: "Trăng lã lơi cho trời đất giao tình. Trăng bẽn lẽn ẩn mình sau kẽ lá." .v. v… rồi tiếp qua một loạt mà cảnh vật mà trăng đã soi sáng theo dòng thời gian, tuổi đời từng giai đoạn theo dòng thơ ký thác tâm sự như tiếng nấc xé lòng người mến mộ qua rất nhiều bài trong thi phẩm "Gọi Hồn Dân Tộc". Bà là hiện thân của cụ Đồ Chiểu, những tinh hoa, thi bá phát tiết qua dòng thơ lục bát và cả song thất lục bát, ngũ ngôn, thơ tám chữ và thơ của nhiều thể loại đã làm ray rứt lòng người. Thi sĩ Hoa Hướng Dương thật hiếm quý trong vườn thi ca hải ngoại. Nền văn học Việt Nam tương lai sau nầy có tự do, dân chủ ước mong nhiều thế hệ được học về thi sĩ Hoa Hướng Dương, một cựu giáo chức người miền Nam sinh quán tại hải đảo Phú Quốc, mong lắm thay".
Còn tại San Jose nhiều thân hữu đã từng sinh hoạt chung trong cộng đồng ai cũng tỏ lời mến phục, khen ngợi và cổ động tôi rất nhiều. Trong đó có bác Nguyễn Mỹ Hào nhân sĩ cộng đồng, bác ấy nói : "Quyển sách đẹp, hoàn chỉnh từ hình thức tới nội dung. Nếu như trước năm 1975 tôi có thẩm quyền trong Bộ Quốc Gia Giáo Dục tôi sẽ cấp cho cô bằng tiến Sĩ danh dự ngay!" Ngoài ra nhà văn Kiêm Ái, nhà văn Nguyễn Trung Dũng, ông bà Nguyễn Diên, ông bà Diệu Hòa , ông Cao Hiền, phó chủ tịch Cộng đồng Việt Nam Bắc Cali, tất cả đều có chung một cảm nghĩ như trên. Bác sĩ Đặng Phương Trạch trong ngày ra mắt sách ông bận không tham dự được. Nhưng sau đó ông đặt mua một quyển và ký tấm chi phiếu hai trăm mỹ kim ủng hộ. Đồng thời ông dành thời giờ sáng tác mấy bài thơ với lời hay ý đẹp gởi đến khen ngợi tôi là người say đắm trong thơ văn còn chàng thì luôn gắn bó nghĩa vợ chồng. Còn phần bác sĩ Phan Mỹ Dung, bà đọc hết truyện dài Qua Biển của tôi và thẳng thắn phê bình, đóng góp ý kiến bằng những lời tích cực. Khuyến khích tôi nên viết thêm nữa với bất cứ đề tài nào bà cũng sẵn sàng ủng hộ.
Điều hay ho bất ngờ nhất là tôi tiếp xúc qua điện thoại với một người mà bắt đầu câu chuyện cũng giống như các độc giả bình thường, muốn tìm hiểu nội dung về cuốn sách và tôi đã thật thà trình thưa: “Tôi viết về hải đảo Phú Quốc và lồng theo một cuộc tình của một chàng sĩ quan hải quân cùng cô sinh viên sư phạm v. v.. và v. v…” Ông ta nghe qua rồi đặt câu hỏi về các địa danh của Phú Quốc như: Hàm Ninh, Hàm Ếch, Cửa Cạn, Bắc Đảo, Dinh Bà, Dinh Cậu, Cầu Sấu, An Thới và bất ngờ ông hỏi tôi một câu khiến tôi bị bí:
- Thế thì cô có viết về mỏ huyền của hải đảo Phú Quốc không?
- Dạ thưa ông, thú thật tôi chỉ viết về bề nổi, chứ không viết về mặt chìm của hải đảo, hơn nữa lúc ấy tôi còn nhỏ lại không nghiên cứu về các mỏ khoáng sản của quê hương mình, nên đây có lẽ là điều thiếu sót. Nếu ông biết được nhiều điều hay ho như thế ông nên giúp dân Phú Quốc chúng tôi phổ biến thêm ông nhé!
- Trước năm 1975 tôi có viết bản thảo gần bốn chục trang về những điều đặc biệt của Phú Quốc, nhưng sau khi đi tù về đã bị thất lạc mất rồi!
Ông ngưng một chút rồi đặt thêm câu hỏi:
- Thế thì cô có biết, nhiều người ở Dương Đông có tới hai cái nhà. Một ở chợ, một trong rẫy. Những con em của họ bình thường đi học ở chợ, nhưng tới tuổi sắp đi lính, họ không thích rời đảo cứ ở miết trong rẫy, dần dà bị Việt Cộng chiêu dụ nên đi theo chúng nó luôn.
Tôi thoáng giật mình, quả đúng như ông nói, lúc ấy tôi cũng biết nhiều đứa con trai tới tuổi mười lăm, mười bảy bỗng nhiên bọn nó từ từ biến mất không thấy xuất hiện ngoài chợ nữa. Tôi tự nhủ: “ông là ai mà biết được điều đó!” tôi lên tiếng:
- Ông giống như Chúa Đảo, sao am tường nhiều chuyện quá vậy? Quý danh ông là gì, vui lòng cho tôi biết được không?
Bên kia đầu giây ông cười rồi nói:
- Tôi tên Hoa, cô có biết không?
Một vùng trời ký ức tuổi thơ trở về, trong đêm Tết Trung Thu năm 1965, 1966 gì đó tôi được Thiếu tá Hoa phát quà cho giải thưởng chấm thi đèn ngôi sao đẹp nhất, nhì trong năm đó.
Tôi mừng rỡ, nhanh nhẩu trả lời:
- Chắc chắn ông là Thiếu tá Hải quân, Quận trưởng Quận Phú Quốc Nguyễn Văn Hoa phải không?
Tôi cười, nhắc luôn về chuyện tranh cử của bà Quận nữa.
- Lúc ấy cô còn bé mà sao biết được nhiều chuyện thế?
Tôi tự hào:
- Dạ, tại tính tôi hay để ý lại có trí nhớ dai!
- Thế thì cô có biết hãng sản xuất nước mắm Huỳnh Thành không?
- Dạ, tôi biết!
- Như thế chắc cô biết ông Từ Văn Nghĩa, con rể của ông Cả Tựu chứ gì?
- Dạ, tôi cũng biết luôn!
- Như thế cô biết luôn giáo sư Huỳnh Phụng Vân, em vợ của ông Nghĩa phải không?
- Chẳng những biết, mà tôi với cô Vân cũng có bà con với nhau nữa đấy!
Nghe thế, ông đem câu chuyện tranh cử của bà Quận, vợ ông với ông Từ Văn Nghĩa ra kể cho tôi nghe. Sự xung đột giữa hai bên trong thời gian tranh cử cũng khá trầm trọng, ông nói:
- Ông Nghĩa có quen với bà Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, áp lực tôi nhiều điều không thuận tai, thuận mắt. Cuối cùng tôi phải lên tiếng, thôi thì để dân Phú Quốc định đoạt, họ chọn con rể Phú Quốc làm hội Đồng Tỉnh, là quyền của họ”.
Ý nói ông Từ Văn Nghĩa là con rể của ông Huỳnh Thành Tựu, tức là con rể của hải đảo Phú Quốc, còn bà Quận kể như con dâu vì được rất nhiều các bậc trưởng thượng, bô lão ở đó mến chuộng. Vì suốt bao nhiêu năm ông làm Quận Trưởng Phú Quốc không ăn hối lộ, không hà hiếp dân lành vậy thì hãy để người dân định đoạt lá phiếu của mình. Cuối cùng bà Quận vợ ông Thiếu tá Hoa đắc cử chức vụ Hội Đồng Tỉnh tại hải đảo Phú Quốc, nhưng cũng giống như các nhà chính trị khác, trong khi tranh cử thì hứa thật nhiều đến khi đắc cử thì những lời hứa ấy hầu hết tan thành mây khói. Cũng như ông Thiếu tá Hoa có hứa sẽ mua một quyển sách ủng hộ, nhưng sau khi biết tôi có họ hàng với ông Từ Văn Nghĩa nên lời hứa ấy cũng tan thành khói mây luôn.
Tuy nhiên bà con Phú Quốc như Trần Chí Dũng sau ngày ra mắt sách đã đến tận nhà mua ủng hộ một lúc 10 cuốn để tặng đồng hương ở xa. Còn Peter Hùng Bùi ông xã của bạn Nghiêm thị Vân Ngoan sau khi đọc truyện dài Qua Biển đã thẳng thắng phê bình "Hay tuyệt, hay tuyệt ". Cô Huỳnh Thu Lan cựu chủ tịch cộng đồng Michigan cũng là cô họ của tôi đã hết lòng hỗ trợ từ tinh thần đến vật chất thật đáng kính, đáng qúy và cô Khèn ở New York trong dịp píc níc hè của hội Đồng hương Phú Quốc năm 2008 gặp tôi lần đầu tiên cô ôm tôi rồi nói; " Cám ơn Hoa Hướng Dương, hoa Hướng Dương đã ôm cả hải đảo Phú Quốc vào tận trái tim mình, vì lẽ đó tôi muốn ôm Hoa Hướng Dương vào lòng để cảm ta một người con của hài đảo đã có tấm lòng cao cả như thế ! . . . Nếu người Phú Quốc ai cũng giống như cô Khèn thì chắc chắn sẽ co nhiều đóa hoa khác đua nhau nở rộ và vùng trời hải đảo sẽ ngát hương văn học.. Ngoài ra còn rất nhiều người ở xa gởi mua sách, sau khi đọc xong họ gọi hoặc viết thư về bày tỏ và nói lên những lời thật trân trọng. Đây là điều an ủi và khích lệ nhất đã hồi báo được phần nào trong sự nhọc nhằn, gian khó khi tôi hình thành quyển sách như cựu Phó Đề Đốc Hải Quân Diệp Quang Thủy đã mua ủng hộ tôi 2 quyển sách, ông hứa sẽ đọc hết để nhớ lại một thời binh nghiệp. Cựu Thiếu tá Hải quân Lê văn Quế ở Houston, ông Nguyễn Văn Lý ở Texas, anh Trương Văn Tấn thuộc Hội Ái Hữu Hải Quân Khóa 1 và 2 ở tận Tây Đức cũng là bạn đồng môn với chàng của tôi. Ngoài việc gia nhập Lực Lượng Chiến Sĩ Hải Quân Bắc Ca Li, chàng còn là hội viên của Hội Ái Hữu Hải Quân Khóa 1 & 2. Thú thật tôi có nhiều thiện cảm với hội nầy, vì các anh sinh hoạt trong tinh thần thương yêu, đùm bọc và quý mến lẫn nhau. Bài thơ "Tâm Tình Người Lính Biển" đã được sáng tác trong dịp hội ngộ của các anh vào ngày 04 tháng 9 năm 2005 tại thành phố Hoa Vàng San Jose. Hôm nay tôi xin ghi lại để chân thành cảm tạ sự tham gia, ủng hộ tích cực của quý anh chị trong những lần ra mắt sách, thơ vừa qua như một lời cảm tạ chân thành nhất. Và bài thơ dưới đây xin kính tặng tất cả những người hùng “Áo trắng đại dương” đã một thời vẫy vùng trên sóng nước.
TÂm Tình Người Lính Biển
Có những con tàu lạc loài bến nước
Neo xứ người hằng mấy chục năm qua
Hôm nay đây, dưới ánh nắng chan hòa
Thung lũng Hoa Vàng đón chào thân khách
Về bên nhau từ các vùng sông lạch
Từ biển khơi, ngõ ngách của đại dương
Từ miền xa, vùng duyên hải tiền phương
Từ chiến đĩnh, Giang đoàn, Thủy bộ
Vui lên anh trong phút giây tương ngộ
Kẻo ngày mai trời dở chuyện nắng, mưa…
Ai sẽ buồn khi ngắm ánh sao thưa?
Ai sẽ nhắc màu trời xanh biển cả
Nhớ khi xưa ra trường đi muôn ngả
Đứa trôi về vùng đất lạ Năm Căn
Muỗi vo ve ngỡ tiếng sóng Bạch Đằng
Gương Hưng Đạo, tinh thần trai nước Việt
Tuổi hai mươi chứa chan bầu nhiệt huyết
Chí làm trai nào há sợ chi đâu
Biển lăm le, từng cơn sóng bạc đầu
Tàu lừng lững đi vào vùng gió bão
Anh hoang vu trên đỉnh Đài Kiểm Báo
Quét mắt thần soi sáng giữa trời đêm
Tôi làm thơ ca tụng lúc biển êm
Hái hoa sóng khi sao trời thắp nến
Đời lính thủy lênh đênh đi và đến
Ghé Hoàng Sa rồi về bến Cam Ranh
Xuống Hậu giang bao kỷ niệm dỗ dành
Đêm truy kích mắt xanh tình chiến hữu
Ra Phú Quốc trong tháng ngày mưa lũ
Nhớ Thành Đô, ta nhớ quá em ơi!
Nhớ Nha Trang thuở áo trắng bên người
Chiều “đi bụi” ta tôn em thần nữ
“Tổ Quốc Đại Dương” hào hùng bốn chữ
Mộng đầu đời xin giữ mãi trong tim
Kỷ niệm rơi ta vạch sóng đi tìm
Xin góp nhặt làm hành trang quân ngũ
Gặp lại nhau nhắc về thời xưa cũ
Thuở tung hoành trên sóng nước đại dương
Hay cùng em đi dạo khắp phố phường
Chiều thứ bảy, tan trường “hoa trắng nở!”
Anh đến đón làm tim ai rạng rỡ
Tình hôm nào dù tình ở, tình đi!
Mất quê hương, ta còn lại những gì?
Tình chiến hữu, tình yêu thương đồng đội…
Mặt trời xoay, xoay dần vào bóng tối
Tuổi đời ta đều đã quá sáu mươi
Gặp hôm nay, lưu lại những tiếng cười
Để nhớ mãi một thời làm lính biển…
![]() |
| Khu Trục Hạm Trần Hưng Đạo HQ1 |
Hơn hai tháng sau ngày ra mắt sách, chị Đoan Trang đã đưa truyện dài Qua Biển của tôi đọc trên làn sóng của đài phát thanh Quê Hương mỗi ngày hai lần sáng và chiều. Nhờ giọng đọc điêu luyện, truyền cảm, trầm ấm của chị đã làm say mê nhiều thính giả. Họ theo dõi câu chuyện thật sát, cho dù đã đến giờ vào sở làm hoặc đi lo công việc khác. Họ phải ngồi nán lại lắng nghe cho hết đoạn đó mới thôi. Thật tình mà nói, đây là phương pháp hữu hiệu nhất để quảng bá tác phẩm của mình đến hàng chục ngàn thính giả, độc giả. Đây là điều vui sướng, hạnh phúc nhất cho tôi trong những ngày tháng đó.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét