Chương Hai Mươi Hai
TÌNH BẠN, TÌNH CHÀNG
Sau ngày ra mắt “Một Đời Người; Một quyển Sách” tôi nhận được lá thư của Kim Hồng, Hồng chính là chứng nhân trong chuyện tình của chúng tôi. Bao nhiêu kỷ niệm thân thương ngày cũ bỗng hiện về tưởng chừng như mới hôm qua, hôm kia. Hồng là cô giáo cũng là cô dâu phụ trong ngày cưới của tôi. Hồi đó chúng tôi gồm ba đứa, Kim Chức, Kim Hồng và tôi. Ba cô giáo dạy chung trường và sống chung trong một căn nhà . Chức đến từ Vĩnh Long, Hồng đến từ Châu Đốc, Hồng có ông anh là lính đóng ở đây đã nhiều năm, lúc trước Hồng sống chung với anh nhưng từ khi thấy tôi và Chức được chính phủ cấp cho một căn nhà nên Hồng muốn về sống chung cho vui. Hồng về ở chỉ mấy tháng mà cái điên rồ của Hồng và Chức khiến tôi bị vạ lây. Chúng nó muốn biến căn nhà đang ở của mình thành quán ăn điểm tâm sáng, như trứng ốp la, bánh mì xíu mại, mì gói dã chiến, cà phê nóng, cà phê lạnh .v. v.. Hai nàng bắt đầu đi sắm bàn, sắm ghế, mua dĩa, mua ly lại mua thêm cái lò lớn. Nhà cửa thì dẹp gọn gàng lại, bàn ghế thì sắp xếp từ trong nhà ra tới mái hiên. Ba cô giáo thay nhau lúc làm đầu bếp, lúc làm hầu bàn, vậy mà cũng có nhiều sĩ quan, lính tráng tới lui tấp nập gọi món nầy món kia. Chúng tôi canh sắp gần mười hai giờ trưa là đóng cửa, tắm rửa sạch sẽ, thay đổi xiêm y, áo dài, quần lĩnh để đến trường dạy học, vì cả ba đứa chúng tôi đều có lớp vào buổi chiều. Quán điểm tâm khai trương chỉ mới có ba này mà đã bị đóng cửa. Thầy giám thị trình lên hiệu trưởng, ông hiệu trưởng ra lệnh: "Phải đóng cửa dẹp tiệm ngay lập tức, cô giáo gì mà buôn bán kiểu ấy làm mất phẩm giá của nhà mô phạm." Thật ra chúng tôi đâu làm gì sai, ngoài giờ dạy học chúng tôi cũng có thể kiếm thêm tiền bằng cách nầy chứ! Không cho bán điểm tâm thì Hồng và Chức nghĩ tới chuyện đi chơi, chúng nó hỏi tôi: "Nầy nhỏ, nhà mầy ở Dương Đông cuối tuần nầy đưa chúng tao qua bên đó chơi nhé" - "Được chứ, nhưng làm sao mà đi? Mùa nầy là mùa biển động ít có ghe lên xuống Dương Đông lắm! Hồng nói: "Mầy khỏi lo để tao nói với anh Hải xem sao" Hải là trung úy phi công lái Cessna từ phi trường Cần Thơ thỉnh thoảng đi công tác ra đây, anh Hải hình như đang bỏ mòi cua Hồng nhưng không biết đã thành công chưa? Nghe Hồng nói thế chúng tôi đều đồng ý, sáng thứ bảy bay qua đó rồi sáng thứ hai về cũng chẳng sao. Thế là chúng tôi làm một chuyến về Dương Đông có thêm cô vợ sắp cưới của ông Đại úy Hưng thuộc căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận An Thới. Cô Linh từ Sàigòn ra hơn nửa năm và đã dạy chung trường với chúng tôi nên cả bộ tứ chúng tôi về đất nhà để quậy. Chiếc Cessna vừa đáp xuống phi trường, Trung úy Hải nhận được tin khẩn cấp phải trở về An Thới ngay vì có công tác mới. Trung úy Hải hứa sáng thứ hai sẽ trở lên để đón chúng tôi về. Chúng tôi bốn đứa tà tà đi về nhà, con đường cũng khá xa. Qua cầu ngang, chúng tôi đi dọc xuống mé sông khoảng gần một tiếng đồng hồ mới tới nhà tôi. Lúc ấy nhà tôi chỉ có cô em gái ở, còn ba má tôi thì làm ăn xa nên bọn chúng tôi vô nhà làm loạn, nói cười, gây gổ, chọc ghẹo ầm cả lên. Nói hết hơi, cười hết sức rồi mới cảm thấy đói bụng, tôi đưa tiền nhờ cô em đi vào xóm trong mua một con gà mái tơ về nấu cháo. Cả đám xuống bếp và làm gần một tiếng đồng hồ cũng xong, gà luộc sẵn chặt ra thành từng miếng vừa gắp, rau răm, bắp cải, củ hành sẵn sàng để trộn gỏi. Bốn đứa chúng tôi thay phiên nhau tắm, dự định tắm xong sẽ ngồi vào bàn rồi sau đó ra Dinh Cậu chơi. Nhưng thật không ngờ khi tôi xuống bếp thì thấy cái dĩa đựng thịt gà trống trơn, tôi nhìn ra ngoài hè thấy hai con chó đang nhai ngấu nghiến những miếng gà cuối cùng còn sót lại. Tôi hỏi con em, té ra là hai con chó của nhà hàng xóm. Tôi giận và tức cành hông, nhà mình không nuôi chó, ấy thế mà chó hàng xóm ngang nhiên xông vào bếp mình đớp ráo trọi nguyên cả một con gà. Thế là chiều hôm đó chúng tôi ăn cháo với rau coi như một bữa ăn chay cũng giảm được một ít tội tình. Ăn xong chúng tôi lên chùa Cao Đài, xem hoa lá khoe hương, khoe sắc, kế tiếp chúng tôi mới đi Dinh Cậu hóng mát nhìn mây vân cẩu tạo hình trong cảnh chiều tà, nhìn sóng bạc đầu tận ngoài biển xa đẩy tới, nhìn hoàng hôn lúc mặt trời từ từ lặn mất, mây tím giăng mắc khắp nơi quang cảnh đẹp lạ lùng. Tám giờ tối chúng tôi kéo đến quán kem Sóng Biển, ngồi uống sinh tố và nghe nhạc. Sáng hôm sau nhờ cô em mượn hai chiếc xe Honda Đam của hai đứa bạn nó để chở chúng tôi đi Suối Đá hái sim, nhưng thật đáng tiếc, một chiếc xe đã bị hư nên chúng tôi đành hủy bỏ chương trình đó. Sáng thứ hai mười giờ chúng tôi đã có mặt tại phi trường để chờ Trung úy Hải lên đón về. Chờ mãi hơn mười hai giờ trưa mà vẫn chưa thấy anh tới, chúng tôi đành trở về nhà đợi nữa. Hồi đó chưa có phôn nên không cách nào liên lạc được. Đến chiều thứ ba thì được Đại úy Hưng nhờ một chiếc PCF đi công tác qua Dương Đông đón chúng tôi về luôn một thể. Khi về tới nơi mới hay Trung úy Hải có một công tác khẩn cấp đã bay về phi trường Cần Thơ rồi. Thế là lần thứ nhất các cô giáo bỏ lớp hai buổi, ông hiệu trưởng kêu bốn cô vô cảnh cáo nếu có lần thứ nhì xảy ra coi như giải nghệ luôn, đừng làm cô giáo nữa!... Chúng tôi xin lỗi ông rồi vâng vâng, dạ dạ hứa sẽ không bao giờ tái phạm. Nơi "cá ho, sò gáy" nầy khi thấy người đẹp xuất hiện nên các chàng từ lính tới sĩ quan ưu ái vô cùng. Khi thì mời vào quán uống nước, lúc thì lên rừng hái trái, săn nai, ngày cuối tuần thì đi chơi biển.. Thời giờ của các cô giáo quá nhàn rỗi, vì ngày đó đi dạy chỉ có nửa buổi mà thôi, hơn nữa các cô là dân từ đất liền đến thấy cảnh hải đảo quá đẹp, quá thơ mộng nên các cô thích lắm, duy chỉ có tôi là người bản xứ lớn lên từ nơi chốn nầy, là thổ địa ở đây nên thỉnh thoảng rủ các cô đi đây, đi đó khoe cái đẹp của quê hương mình. Có lần cậu Trương Công Trận người cậu họ cũng cùng trang lứa đang dạy học ở Hòn Thơm cách An Thới khoảng nửa giờ lái ghe. Cậu Trận qua An Thới mua sắm một ít đồ nhân tiện ghé thăm tôi vào buổi chiều thứ sáu. Hồng và Chức muốn đi Hòn Thơm chơi nên cho phép học trò tan trường sớm hơn thường lệ. Ba cô giáo nhanh tay, lẹ chân soạn một ít đồ cần thiết rồi nhảy xuống ghe ngay cùng chàng của tôi đi qua Hòn Thơm. Chúng tôi đi chơi khắp nơi, trên hòn từ người già tới trẻ em ai cũng đon đả mời chào. Ban ngày chúng tôi đi xuống bãi ngắm cảnh, lên gành đá ngồi đùa với sóng, chung quanh hòn nước ở đâu cũng trong veo thấy tận đáy sâu, nhiều con cá "Hippy" sắc màu sặc sỡ bơi lội nhởn nhơ trông đẹp mắt vô cùng. Tối đến cậu Trận mua gà về nấu cháo ăn khuya, gà xé phay trộn với chuối non ngon lạ, ngon lùng. Cậu mời một số bạn trẻ tới ca hát rình rang. Chơi chán chúng tôi kéo nhau lên ghe chạy xa bờ một đổi rồi bỏ neo câu cá, thẻ mực, mực tươi roi rói, bắt lên được con nào liền cho vào lò than nướng liền, chín rồi thì chấm muối ớt ngon tuyệt cú mè không chê vào đâu được. Ăn chán rồi chúng tôi đóng tuồng, chàng làm Trụ Vương, Hồng làm Đắc Kỷ ho khụ khụ mấy tiếng rồi cất giọng nhõng nha, nhõng nhẽo bằng sáu câu vọng cổ xanh dờn, cậu Trận thì đóng vai Tỷ Cang còn tôi và Chức cùng một số người khác ngồi làm khán giả. Chúng tôi cười muốn bể bụng vì Hồng diễn xuất quá hay, quá tiếu lâm, dí dõm. Chiều chủ nhật chúng tôi định trở về An Thới nhưng không ngờ gió bảo nổi lên, biển động ầm ầm làm chúng tôi không cách nào trở về được, đành ở lại tới mấy hôm sau, đành bỏ trường, bỏ lớp, bỏ luôn đám học trò bơ vơ không người coi sóc. Thầy giám thị Tống Phước Tường phải đứng lớp giùm cho các cô nhưng trong lòng đầy hoang mang, thắc mắc. Chuyện gì đã xảy ra mà ba cô giáo vắng mặt cùng một lúc? Đến khi chúng tôi trở về nói rõ sự việc và khẩn khoản xin thầy đừng trình lên cấp trên, vì lỗi không phải nơi chúng tôi mà tại ông Trời nầy kỳ quá. Thời tiết đang tốt đẹp bỗng nổi cơn mưa gió bất ngờ nên chúng tôi không về kịp đó thôi. Thời tuổi trẻ không biết có mấy người gống như chúng tôi làm việc thiếu suy nghĩ, liều lĩnh, táo bạo, bây giờ nghĩ lại thấy thật là kỳ, thật là không phải nhưng đó là dấu ấn đẹp nhất của một thời còn con gái, của một thời gõ đầu trẻ. Rất nhiều kỷ niệm đẹp đẽ, êm đềm của thời gian đó mãi mãi sẽ không xóa nhòa trong ký ức của chúng tôi. Sau mấy mươi năm ở hải ngoại, tôi mới nhận được lá thư đầu tiên của Kim Hồng. Bao nhiêu kỷ niệm tràn về, tôi hồi tưởng nhớ lại thời vàng son, hoa bướm của 3 đứa chúng tôi, nên đã gởi gắm lòng mình qua bài thơ dưới đây:
Lá Thơ Hồi Âm
Ngại ngần chưa muốn viết hồi âm
Vì qua cảnh sống đời lưu xứ
Sợ kể bạn nghe sẽ mủi lòng
Hồng xinh màu má nét kiêu sa
Của thời con gái mình ba đứa
Hai buổi dạy về khoe áo hoa
Khắng khít bên nhau suốt một thời
Có gã Hương khờ dâng ý thắm
Gọi mời ai đó bỏ cuộc chơi….
Từ dạo theo chàng qua bến lạ
Bỏ trò, bỏ bạn, bỏ mùa hoa
Kẻ đi người ở chung hoài niệm
Cái thuở tuyệt vời của chúng ta
Ngọn gió oan khiên bỗng thổi về
Bàng hoàng như sống giữa cơ mê
Phần tư thế kỷ xanh xao mộng
Giông bão đời nhau lỗi ước thề
Thôi nhắc làm chi chuyện đã rồi
Cứ coi tiền kiếp rất xa xôi
Những ngày hoa bướm thần tiên ấy
Liệm kín hồn tôi một góc trời
Hãy giữ cho nhau một chút tình
Dù rằng cuộc sống lắm điêu linh
Nhân sanh tự cổ giai lưu thảo
Trôi giạt về đâu kiếp lục bình?
Người ở bên kia, ta ở đây
Tiếc thương quá khứ, khóc lưu đày
Hai phương ly cách tình xao xác
Tiếng vạc lưng trời khuất nẻo mây…
Ta chẳng còn gì để tặng nhau
Ngoài ân tình cũ một lòng đau
Hằn lên ánh mắt niềm mơ ưóc
Bước xuống thơ ngây tóc đổi màu…
Tôi nhớ lại trước mùa hè năm 1972 tôi tình cờ quen chàng trên chuyến tàu đò An Thới-Rạch Giá. Chiều hôm ấy tôi đi phép về Sàigòn, còn chàng thì đi công tác. Hai đứa gặp nhau trên chuyến đò định mệnh đông đúc người, trong mui, trong khoang đều chật ních, tôi tìm một chỗ ngồi dựa lưng phía bên ngoài ca-bin, tay cầm quyển sách "Bò Sữa Gặm Cỏ Cháy" của Thiền sư Nhất Hạnh lên đọc, chàng bước xuống tàu hồi nào tôi không hay biết. Chắc chắn chàng đã để ý tôi rồi, một cô gái da trắng, tóc dài, mặc áo xanh màu nước biển đang chăm chú đọc từng dòng chữ, lật từng trang sách, không cần để ý tới người chung quanh. Mặt trời lặn sâu, bóng tối bao trùm, tôi xếp sách lại, nhắm mắt cố dỗ giấc ngủ, cho dù ngủ ngồi cũng phải ngủ mà thôi. Bất thình lình một cơn mưa đổ ầm xuống, những người ngồi bên ngoài đành chịu trận, trong đó có tôi. Miền duyên hải là vậy, mưa nắng bất thường không ai biết trước được. Tuy vậy vẫn có một số người thừa kinh nghiệm, họ mang theo áo đi mưa, mang theo tấm trải bằng ni-lông, họ mặc vào người, họ trùm lên đầu cũng đỡ bớt phần nào ướt át, lạnh lẽo… Còn tôi đành chịu "Lạnh Trọn Đêm Mưa" nhưng may quá có một chàng hải quân đưa cho tôi chiếc áo ba-đờ-xuy, tôi không khách sáo cầm lấy và mặc vào ngay, ngồi đó bó gối nhìn bóng đêm, con tàu trồi lên, hụp xuống theo từng đợt sóng nhồi. Tiếng máy tàu đều đều, cơn mưa tiếp tục lúc nặng, lúc nhẹ, chàng ngồi cách xa tôi khoảng hơn thước, hai chúng tôi chưa trao đổi được câu nào, đến khi trời gần sáng tàu mới cập bến Rạch Giá, mọi người bước lên bờ, tôi cũng theo lớp người đó, tay xách hành lý, tay xách quà cáp, chàng tiến tới phía tôi ngần ngừ hỏi: "sao, cô có khỏe không? Có lạnh lắm không?" Chàng mời tôi vào tiệm nước uống một ly sữa nóng rồi hẳn về nhà. Tôi từ chối, rồi trả lại chàng chiếc áo ba-đờ-suy. Chàng gọi xích lô và tôi lên xe về nhà người dì. Hơn một tháng sau tôi gặp lại người đàn ông ấy gần cổng Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên Hải đang lái một chiếc xe Jeep chạy ngang qua dãy phố trên con đường chính của thị xã An Thới, chàng nhìn tôi từ xa và giảm tốc độ chạy sát chỗ tôi đang đứng, chàng thắng xe mỉm cười rồi hỏi: "Cô còn nhớ tôi không?" Tôi cười mỉm rồi lắc đầu, chàng hỏi thêm một lần nữa nhưng tôi cũng lại lắc đầu, chàng quê quá nhấn ga cho xe dọt nhanh về phía chợ. Thật ra tôi biết chàng là ai nhưng bởi vì cái lối ngồi trên xe, tán tỉnh, tìm cách làm quen với một người con gái kiểu ấy nên tôi không ưa. Gần non tiếng đồng hồ sau chàng trở lại, đậu xe xeo xéo dưới bóng cây dừa cách nhà chị tôi khoảng mười mét. Chàng tà tà đi tới, vì là ngày chủ nhật nên xe cộ qua lại, lính tráng xuống phố mua sắm tấp nập. Tiệm may của chị Hòa nằm ngay giữa phố, cuối tuần tôi thường hay ghé chơi với chị. Hôm nay gặp lại người đàn ông đã cho tôi mượn chiếc áo đi mưa trên chuyến đò xuôi về Rạch Giá tháng trước, hai lần hỏi tôi còn nhớ chàng không, tôi đều trả lời là không, chắc chàng ấm ức lắm cho rằng tôi là kẻ mau quên, vong ân lẹ quá nên chàng phải xuống xe thân chinh tới gặp để hỏi cho ra lẽ mới được. Quả đúng như thế, chàng trong bộ đồ nhà binh thẳng nếp, lon lá đàng hoàng, đầu đội cát-két cấp bậc thiếu úy trông cũng bảnh trai lắm. Chàng cười nửa miệng chào tôi rồi hỏi: "Có phải cô là cô giáo Minh dạy trường Mai Chí không?" Tôi gật đầu: "Vâng, thưa ông đúng đấy!" - Thế cô còn nhớ tôi không?" Tôi lại lắc đầu, tôi như "Phê-Rô" chối Chúa ba lần. Chàng ta vẫn kiên nhẫn: "Thật tình cô không nhớ tôi sao?" Tôi cười ỡm ờ trả lời lấp lửng: "Nhớ gì? Nhớ sao?" - Tôi là người cho cô mượn chiếc áo đi mưa trong đêm mưa gió ấy" Tôi làm bộ ngạc nhiên: "Hình như tôi nhớ đã trả chiếc áo cho ông rồi mà!" - "Nhưng cô đã quên nói lời cám ơn!" - "vậy sao, thế thì hôm nay tôi xin trân trọng nói với ông rằng tôi rất cám ơn, cám ơn ông được chưa?" Anh ta lại tiếp tục làm khó tôi: "Cô đã nói lời cám ơn nhưng cô vẫn phải trả ơn tôi mới được!" - "Sao khó khăn vậy. Thế thì ông muốn tôi trả ơn bằng cách nào đây?" - "Tuần sau tôi mời cô lên đài kiểm báo của chúng tôi chơi cho biết" Tôi đẩy đưa: "Thì để coi..sao đã!" - "Mười giờ sáng tôi đem xe Jeep xuống đón cô, à mà quên tôi xin tự giới thiệu, tôi là Hương, Trương Hương xin được hân hạnh quen biết cô" Nói xong chàng ta chào rồi bước đi leo lên xe nổ máy. Trước khi xe lăn bánh chàng còn quay lại mỉm cười và chào tôi thêm một lần nữa rồi phóng đi thật nhanh. Tôi chợt nhớ trong tấm thiệp Noel tôi nhận ba tuần lễ trước của ai đó gởi tặng mà chữ ký rất là bay bướm, lã lướt không thể nhận ra được tên gì, đoán chừng như Trương Hướng hay Trương Hường gì đó. Bây giờ mới biết rõ tên chàng không phải Hướng, Hường mà chính là Hương! Là tên của một nàng con gái, còn tên của tôi lại giống như tên của một người con trai. Thật là lạ đời cho hai cái tên cha mẹ đặt cũng thật là ngộ nghĩnh!
Chủ nhật tuần sau một mình tôi đâu dám mò lên đài kiểm báo nên rủ thêm Hồng và Chức cùng đi. Đài Kiểm báo 403 cách Bộ Tư Lệnh Hải Quân chừng năm cây số, nằm trên ngọn đồi cao gần hai trăm mét, là một công sự phòng thủ kiên cố, có trang bị hệ thống ra-đa để kiểm soát và theo dõi tàu bè luân lưu trên biển chung quanh khu vực. Trên đài có thêm vài ông sĩ quan nữa, chúng tôi được một ngày ăn cơm lính no nê, vui vẻ. Đi chơi thoải mái, bắn chim hái quả dại trong rừng rất thú vị. Từ đó ba đứa chúng tôi thân thiết, gần gũi với chàng hơn và tôn vinh chàng là đại sư huynh thuộc nhóm "feta" . feta 1 là chàng, feta 2 là Kim Chức, Feta 3 là Kim Hồng và Feta 4 là tôi cũng là feta út vì tôi nhỏ tuổi nhất. Ngoài biệt danh nầy chúng tôi phải sắp theo thứ tự, tuổi tác để xưng hô, feta1 thứ sáu nên chúng tôi phải gọi là anh Sáu. Ba cô em nhỏng nhẽo hết nói, mỗi khi ông anh từ núi xuống chợ thì ba cô nàng vòi vĩnh, đòi ăn kem, đòi ăn dao-ua, đòi đi tiệm, đi quán. Một tháng lương của chàng mà xuống chơi phố mấy ngày thì coi như đã mất hết phân nửa.
Thời gian trôi qua, ngày tháng đó anh em chúng tôi sinh hoạt với nhau rất vui vẻ, bình đẳng trong tình yêu. Chàng chưa biết chọn ai và ba đứa chúng tôi cũng chưa biết ai, đứa nào sẽ lọt vào mắt nâu của chàng. Ngày ấy tôi rất ít nói lại có tâm hồn thơ văn có lẽ hòa hợp với nội tâm của chàng. Chàng cũng là người thích văn thơ nên hai chúng tôi thường xướng họa với nhau, gởi gấm tâm tình, tâm sự mình vào trong những vần thơ:
Trời tím cho lòng tôi nhớ thương
Non xanh, nước biếc bỗng dưng buồn
Trong tôi chừ đã đầy tâm sự
Mượn gió trao người một chút hương…
Một chút hương thơm của ái tình
Dệt từ thuở ấy mộng ba sinh
Trải đầy mộng thắm trên đồi núi
Rồi ngẩn ngơ theo chỉ một mình…
Và chàng đáp lại bằng lời lẽ như sau:
Ta đọc thơ người ta thấy thương
Hồn đang phơi phới bỗng dưng buồn
Trong ta chừ cũng đầy tâm sự
Có phải em thầm mơ đến Hương!
Thôi giấu làm chi một chuyện tình
Trọn đời hương lửa, mộng ba sinh
Nếu xưa chẳng chịu lên chơi núí
Thì đã không nên chuyện chúng mình!...
Anh chỉ là người của bơ vơ
Xin em một thoáng mộng đơn sơ
Ở đây núi thẳm, rừng hiu hắt
Chỉ có em và một giấc mơ…
Tiếp theo là một bài thơ khác của chàng nữa, tình ơi là tình! Chàng yêu tôi ngất ngây, chàng yêu tôi say đắm, chàng yêu tôi âm thầm…qua bài thơ "Đông An Thới"
Trời đã vào đông em có hay!
Ta trên đỉnh núi nhìn mưa bay
Hỡi em yêu dấu miền An Thới
Có mộng mơ gì trong đêm nay
Hãy mộng một miền biển cát xanh
Có rừng hoa tìm lối đi quanh
Để ta được hái đôi cánh nhỏ
Cài tóc em và hôn thật nhanh
Em có hay gì khi đông sang
Gió reo trên cỏ gió lang thang
Như ta từ thuở thương em đó
Trong nỗi buồn rêu tình võ vàng
Trời lạnh vô cùng em biết không?
Đã nghe nỗi nhớ dậy trong lòng
Tóc xưa còn phủ bờ vai ấm
Hỗi em kiều diễm miền Dương Đông!
Thơ bay lên đỉnh núi, thơ rớt về phố chợ. Ở giữa hai đầu nỗi nhớ còn rất nhiều kỷ niệm thuở mà tôi với chàng hai đứa bắt đầu cắn câu nhau.
Những ngày tương tư, những đêm trống vắng, chợt thấy nhớ ai, biết nào ai nhớ! Tình còn trong tay hay tình ngoài chân mây? Ai mà biết được! Chúng tôi vẫn đi chơi chung với Hồng và Chức, có lúc đi chơi riêng với chàng ở Bãi xếp gần Duyên Đoàn 42, bãi Ông Đội nằm cạnh Giếng Gia Long, Bãi Kem nằm trong khu quân sự phía đông của trại giam tù binh, bãi nầy đẹp và sạch sẽ nhất chỉ dành riêng cho các ông chỉ huy trưởng, Tiểu đoàn trưởng Quân Cảnh hoặc quý vị tai to, măt lớn từ Sàigòn ra công tác hoặc thanh tra, dẫn theo các em ra hả hê đùa sóng. Những buổi chiều tà tôi cùng chàng ra bãi Ông Đội ngắm mặt trời lặn, rồi lên đồi cát hái hoa rau muống biển, màu hoa tim tím gợi buồn đang xếp cánh sầu giữa buổi hoàng hôn. Những đêm trăng sáng chúng tôi đi chân trần trên cát từ đầu gành cho đến cuối bãi. Đi một lúc mỏi chân chúng tôi nằm dài trên cát, ngửa mặt đếm sao trời, nghe tiếng sóng vang đều đều như lời thì thầm của hai kẻ yêu nhau. Chúng tôi ngồi bật dậy để ngắm biển, biển bây giờ không còn là màu xanh mà là màu bạc sáng lấp lánh cả đại dương. Ngồi lâu thế nào cũng bị muỗi đốt, chúng tôi có thừa kinh nghiệm đó nên lúc nào cũng mang theo hờ chiếc mùng nhà binh. Nếu ngày nào gió lớn thì chúng tôi thoải mái lắm, vì các nàng muỗi không ra hành hạ chúng tôi. Ngày nào lặng gió thì các nàng tha hồ tới xin tí huyết, thế là chúng tôi phải chui vào mùng, mùng được treo hờ hững trên các cành dương, vừa ăn bánh ăn kẹo, vừa nói chuyện tâm tình. Ngồi chán rồi chúng tôi đi về ghé ngang câu lạc bộ trong khu gia binh, mỗi đứa gọi một tô mì khuya ăn cũng rất đã.
Mùa sim trà chín chàng chở chúng tôi lên rừng gần đài kiểm báo, tất cả trèo lên cây hái trái, lắm lúc cũng phải chặt luôn cả nhánh mang về tặng một ít cho người quen, số còn lại mang ra chợ bán được bao nhiêu chúng tôi mua hết nguyên liệu, gia vị để làm món mì xào dòn thập cẩm, ăn thật là ngon, bọn tôi rất thích. Mấy năm sau đó hình như các cây sim trà đã không ra trái kịp, tới mùa sim trà muốn hái trái thì phải đi khá sâu vào núi, chàng là lính đành phải chịu thua vì sợ mấy ông trong rừng bắt…
\ Còn rất nhiều kỷ niệm của tôi với chàng, thuở mà hai đứa bắt đầu "cắn câu nhau" tôi nhớ có lần chàng rủ rê tôi đi với chàng lên mũi đất đỏ. Nơi hoang vu, vắng vẻ nhưng cảnh trí lãng mạng, hữu tình. Hàng dừa nghiêng nghiêng soi bóng, sóng biển nhấp nhô, gió hiu hiu mát rượi khiến tôi muốn nằm bật ra trên tấm trải ngủ một giấc cho tới chiều. Nhưng bất chợt mắt tôi vừa trông thấy một rừng hoa phía trước, hoa gì mà đẹp thế, nở từng chùm, cánh thật lớn màu hồng tim tím rất ngọt ngào thi vị. Tôi đang trầm trồ ôm cả lùm hoa hôn phơn phớt lên trên ấy, chàng cũng lẹ tay ngắt nhanh hai đóa hoa cài lên tóc tôi rồi bất thình lình chàng đặt lên trán tôi một nụ hôn. Tôi giật mình toan chống đỡ nhưng không kịp nữa rồi, tôi phụng phịu, dỗi hờn: "Anh sáu làm kỳ quá, em không chịu đâu!" Chàng nắm lấy tay tôi nhìn sâu vào mắt: " Anh yêu em, anh yêu thật mà feta 4!...".
Tôi nhớ hoài mùa hè năm 1973, ba đứa chúng tôi đi tu nghiệp khóa sư phạm tại Rạch Giá, lúc ấy tôi đã quen chàng hơn một năm, tội nghiệp chàng ở lại đong đầy bao niềm thương nỗi nhớ. Đêm ngày tương tư, lặn ngụp trong nỗi đau xé lòng. Vì chiều hôm ấy chàng bận lên ca trực nên không thể xuống phố để đưa tiễn tôi đi. Trong cơn mê sảng chàng dệt nên những dòng chữ nghĩa mơ hồ huyền hoặc"Thơ Điên của người điên viết cho tình điên trong những ngày điên…"
Đêm 3 tháng 6
Đêm huyền dịu, đêm ghi nhớ suốt đời
Đêm của nàng, đêm của tuổi hai mươi
Đêm của tình yêu, tình yêu tuyệt vời!
Đêm sáng tợ ban ngày
Ta nhìn rõ mặt nhau và tình yêu hai đứa..
\ Ngày 4 tháng 6
Ngày cuối cùng, ngày chia tay
Tóc em bay, khung trời nhớ
Còn đêm nay anh một mình
Trên đỉnh núi nhìn mưa bay
Hồn ngất ngây, từng cơn nhớ!
Đêm 5 tháng 6
Đêm thật sâu, lòng thật buồn
Nhìn mênh mông, vầng trăng nhỏ
Đêm bây giờ
Em lênh đênh vùng biển đó
Trong giấc mơ từng cơn sóng
Đưa em xa ngàn hải lý
Em thức giấc ngắm nhìn sao
Ngắm nhìn em bờ tóc rối
Em đã đi, đã đi rồi
Đi thật sao?
\ Trời An Thới không còn gì…
Ngày bơ vơ, đêm thương nhớ
Ta bước đi, buồn chân khóc
Ta nhớ em, người yêu nhỏ
Ta trở về như chiếc bóng!
Nghe không em anh đang nói
Bên cụm hoa ngàn câu nhớ
Nghe không em con dốc buồn
Anh thẩn thơ khi chiều xuống
Nhớ không em một chiều nào
Hai cánh hoa cài lên tóc
Nhớ không em
Một nụ hôn cho tình đầu
Nhớ nghe em
Một ngày yêu trăm ngày sầu…
Trong buổi chia tay chàng không đưa tiễn nên âm thầm sám hối, tự trách qua bài thơ như sau:
Rã rời từng mảnh hồn xưa
Ta nghe thật nhớ mộng vừa thoáng qua
Thấy em một thoáng nhạt nhòa
Em buông tóc giữa trời xa não nùng
Mắt trông bốn phía mịt mùng
Ta làm thân ốc giữa vùng biển xanh
Người ơi một chuyến kinh thành
Ta không đưa tiễn, không đành lòng ta!
Cuộc tình qua, một người xa
Sầu lên nhấp chén quan hà đỉnh cao
Từng đêm chợt tỉnh chiêm bao
Tay run những tưởng mặt ai tựa kề
Còn bao lâu nữa người về
Cho ta khỏi thấy bốn bề quạnh hiu
Gió mưa trên đỉnh tiêu điều
Ta nghe mục rã những chiều vắng em
Nhớ ai dưới ngọn đèn đêm
Nghe buồn chăn gối nghe sầu hồn thơ
Sao ta vẫn cách đôi bờ?
Sao ta vẫn đứng, ta chờ đợi ta
Và bài thơ "Hồi Tưởng" diễn tả lại tâm trạng của chàng trong những ngày xa vắng:
Chiều lên con dốc gợi buồn
Nhìn hoa xưa tím dưới truông cỏ vàng
Mây bay chợt nhớ thu tàn
Gió reo đỉnh gió mơ màng hồn say
Ta về lòng đã héo gầy
Nên lang thang để đọa đày kiếp thân
Ta lên dốc đứng tần ngần
Nơi ta đã biết một lần yêu em
Hái hoa cài tóc xanh mềm
Du hồn ta đến một miền nào xa
\ Ngẩn ngơ giây phút ngọc ngà
Trên vuông trán nhỏ thịt da em hồng
Gần 3 tháng tu nghiệp chàng ở lại mòn mõi trông chờ, niềm thương nỗi nhớ đã chín mùi, chàng thể hiện qua bài thơ dưới đây:
Vàng nhớ
Buổi sáng trên cao nghe hồn rời rã
Nhìn biển mưa mù chợt nhớ em xa
Nhớ tóc em thơm một trời An Thới
Thương vô cùng sắc tím một loài hoa
Con đường anh qua vàng lên nỗi nhớ
Đất bụi âm thầm khóc ngất trong mưa
Cây cỏ bơ vơ gục đầu nức nở
Đau xót vô vàn ta nhớ ta xưa
Em đã đi rồi, em hỡi em
Phút giây gần gũi đã xa vời
Em đi biển nhớ gào tha thiết
Nát cả hồn anh tắt nụ cười...
Trên đỉnh sầu mây mưa phất phơ
Nghìn con sóng vỗ réo quanh bờ
Cuốn đi từng dấu chân trên cát
Cuốn cả người thơ chốn mịt mờ
Buổi sáng trên cao nhìn khung trời rộng
Ôi nhớ vô cùng, nỗi nhớ rưng rưng
Nhớ mắt em xanh một trời Phú Quốc
Nhớ môi em nồng trong suốt mùa đông…
Đọc xong mấy bài thơ, tôi đưa cho các bạn cùng khóa đọc chơi. Ai cũng phì cười và trêu tôi "Yêu mầy quá cỡ coi chừng hắn điên thật nhá" .
Sau khi đi tu nghiệp về, tôi với chàng tiếp tục yêu đương, tiếp tục hò hẹn, tiếp tục đi chơi khắp nơi trên đảo. Có nhiều ngày chàng xuống phố mãi miết la cà, ham vui nên quên mất giờ về, xe dodge đã trở lên đài, nếu chẳng may đêm ấy đúng ca chàng phải trực nên dù đêm khuya khoắc, đường rừng tối tăm, một mình chàng cũng phải ráng cuốc bộ lên đài vừa sợ ma, vừa sợ mấy ông VC ra chận đường. Có một lần kia giữa đêm đen thui thủi một thân, một mình với cây đèn pin lê từng bước nặng nề lên con dốc ngược, nơi đây nhiều năm trước, một chiếc xe bị đứt thắng rớt xuống hố làm mấy người chết tại chỗ nầy. Ý nghĩ vừa thoáng qua trong đầu chợt chàng trông thấy phía xa có một bóng đen chập chờn lúc ẩn, lúc hiện giữa đêm đen tịch mịch, lá rừng lao xao gọi gió, tiếng cú kêu đêm nghe rợn người… Chàng nghĩ thầm: "Phen nầy chắc chắn gặp ma rồi!" Chàng bấm bụng liều mạng đi tới, và bóng người kia cũng đi tới, cách nhau gần mười thước chàng đưa đèn pin rọi thẳng vào gương mặt người ấy, thì ôi thôi .. té ra đây là một anh lính trên đài hai tay xách hai can dầu, gặp chàng giữa đêm khuya anh ta để hai can dầu xuống, cười cầu tài: "Dạ, thiếu uy thông cảm cho em nghe, vợ em mới sanh, thành ra em xin hai can dầu nầy để bán lấy tiền lo cơm cho vợ, lo sữa cho con!". Chàng vỗ vai anh ta cười thông cảm: "Không sao, chút ít thì ok, nhưng nhiều thì không được đâu nhé!" Chàng là Sĩ quan Tiếp liệu nhưng chưa lần nào dám bán dầu dù tháng đó nhà máy đèn hay xe cộ trên đài chạy xăng dầu không hết chàng cũng chỉ có nước đổ xuống bìa rừng để diệt cây cỏ chung quanh trại. Thời gian sau chàng đi về phép mang ra đảo một chiếc xe vespa để làm phương tiện chạy lên, chạy xuống phố cho đỡ mất thời giờ và cũng đỡ sợ nữa. Nhờ có chiếc xe ấy mà chàng chở tôi lên đài thường xuyên hơn, ngồi sau lưng xe chàng mà tâm trạng thật hồi hộp, lo sợ, hãi hùng. Vì khi lên tới đỉnh cao của dốc có cảm giác như chiếc xe sắp sữa tuột dốc và cả thân người như bật về phía sau. Cảnh trí trên đài thì đẹp lắm, nhìn xa xa biển nước chập chùng, mây trời lãng đãng, gió thổi hiu hiu không khí trong lành, mát rượi. Hai bên sườn núi toàn là hoa sim tím mọc um tùm, nở từng chùm thật đẹp, tô tím cả triền đồi. Còn hoa bằng lăng nữa, ngày mới quen mỗi khi xuống phố chàng đều ghé nhà, đôi lúc thì bẻ cả bó hoa rừng, có lúc thì bẻ mấy nhánh hoa bằng lăng mang xuống tặng tôi. Nào là trái bứa, trái cù lần màu đỏ cam, nào là trái thanh trà vàng óng, còn có cả trái trâm rừng nữa. Mùa nào thì hoa ấy, trái ấy. Chàng o bế tôi cũng tận tình lắm, có lúc thì vui chơi cùng các bạn, có lúc thì riêng rẻ chỉ hai đứa chúng tôi để tận hưởng thứ tình yêu cuồng nhiệt giữa núi rừng hoang dã, giữa biển trời bao la chập chùng sóng nước. Tình yêu thật là lạ thường, là sức mạnh cho ta can đảm để vượt qua sự khó khăn hay sợ hãi. Nói vậy chứ thật ra tình yêu đâu phải lúc nào cũng êm ấm, hạnh phúc, chúng tôi cũng có những cơn cãi cọ, gây gổ kinh hoàng. Chàng nóng tính lắm, bực tức điều gì thì bày tỏ bằng hành động ngay. Tôi nhớ lần đó hai đứa lời qua tiếng lại, chiếc radio bé nhỏ chàng mua tặng tôi đang léo nhéo trên bàn gần đó, chàng tung xuống nền xi măng bể tan tành. Chưa hết, chàng vói tay lên tủ cao chụp lấy tấm gương soi mặt của tôi đấm mạnh mấy cái vào gương, gương vỡ ra từng mảnh nhỏ ghim vào bàn tay chàng, máu chảy dầm dề. Cái nóng tính hay đập đồ đã theo chàng mãi cho tới bây giờ. Sau ngày đó tôi đoạn giao với chàng, không cho gặp gỡ, không thèm nói chuyện, không thèm tiếp xúc cho dù chàng năn nỉ, ỉ ôi hết hơi. Những lá thư tình chàng viết cho tôi hồi tôi đi tu nghiệp ở Rạch Giá và những bài thơ chàng làm tặng tôi, tôi mang ra xé nát và đốt sạch! Nhất định không cho chàng cơ hội nào nữa cả! Chàng xuống phố kiếm cách gặp tôi, nhưng không, cửa nhà tôi lúc nào cũng khóa kín, ngay cả cửa lòng cũng thế. Chàng lên xuống rồi lại xuống lên. Cuối cùng đành phải than thở qua bài thơ "Sầu":
Đốt cho tan cuộc tình nầy
Cho môi rực đỏ, cho đời lãng quên
Thuốc tàn thôi dễ gì quên
Ta nuôi sầu nhớ một bên hững hờ
Uống vô cho mắt ta mờ
Chân ta nhảy múa trên bờ vực sâu
Ước gì ta uống được sầu
Cho ta quên lãng những ngày bên em
Từng đêm, từng đêm, từng đêm!
\ Ta mơ hương tóc nhung mềm của ai?
Ngón tay mười ngón trang đài
Đưa ta vào tận một đời khổ đau…
Nỗi đau chưa chấm dứt, nỗi đau vẫn còn tiếp tục để đọa đày chàng cho tới bến. Bài thơ dưới đây sẽ nói lên điều đó:
Về Rừng
Ta lên rừng đốt nỗi buồn
Thôi em đã chết trong hồn từ đây
Nâng niu từng cánh hoa gầy
Hỏi hoa còn nhớ tình nầy hay không?
Bởi tôi là kiếp phiêu bồng?
Nên em xem nhẹ tình nồng của tôi
Bây giờ tôi đã về tôi
Lên rừng tôi sống đơn côi với rừng
Em về hát khúc nhạc mừng
\ Đốt tan thư cũ, xé từng bài thơ
Đớn đau dù bến bao giờ
Tôi xin sống trọn một đời nổi trôi
Lên rừng tôi đốt tình tôi
Rừng thiêng cháy hết tình tôi vẫn còn!
Vâng, rừng thiêng đã cháy nhưng tình chàng vẫn còn qua hành động táo bạo, liều lĩnh bẻ ổ khóa cửa nhà tôi rồi núp trong đó. Khi tôi đi dạy về thấy cửa không khóa tưởng Hồng và Chức về trước mình nên tôi đẩy cửa bước vô. Chàng nhào tới ôm cứng tôi làm tôi giật bắn cả người, tưởng ăn trộm đã vào nhà, tôi định la lên chợt một bàn tay bịt miệng tôi lại: "Anh đây, anh Sáu đây, feta 1 đây xin Feta 4 đừng giận anh nữa cho anh xin lỗi nghe!... Tôi mềm nhũng trong vòng tay của chàng, tôi lạc lối bởi nụ hôn táo bạo kia, thế là chúng tôi tiếp tục yêu nhau, tiếp tục hẹn hò. Chẳng biết có phải là duyên là nợ hay không mà chàng kết tôi, chọn tôi làm người yêu của chàng, trong khi đó Hồng cũng xinh xắn dễ thương, cũng nũng nịu duyên dáng lắm! còn Chức thì có cặp mắt bồ câu, dáng người thong dong nhưng tính tình hơi đanh đá khi chàng tuyên bố : "feta 4 là người yêu của anh Sáu, của feta 1,chúng tôi sẽ thành hôn … Hồng và Chức chưng hửng, ngạc nhiên hết sức: "Cô giáo Minh ít ăn, ít nói mà sao chiếm được trái tim chàng?" đã nói là duyên nợ mà lị, làm sao giải thích được đây? Thôi thì hai đứa nhỏ đừng buồn, đừng trách chúng tôi, chuẩn bị tiền và sẵn sàng tham dự đám cưới nghe hai em! Tôi lúc nầy mới lên chân, lên chức. Từ vị trí Feta 4 bây giờ nhảy lên là bà xã của feta1 nghĩa là chị dâu của hai nàng… Đám cưới chúng tôi nhằm vào mùa hè nên cô giáo Chức rời khỏi đảo trở về quê Vĩnh Long, còn Kim Hồng ở lại làm phụ dâu cho tôi. Trước ngày cưới ba tuần chúng tôi vô Rạch Giá mua sắm một ít lễ vật, nữ trang, áo quần cô dâu, rượu bia, bánh trái để chuẩn bị cho hôn lễ. Đám cưới nhà binh đơn giản nhưng ấm cúng, thân tình. Một tuần nghỉ phép chúng tôi về Dương Đông gởi thiệp mời đến một số bạn học cũ và một số họ hàng thân quyến có cả hàng xóm láng giềng nữa. Ba má, chị em, dì cháu ở Sài gòn, Rạch Giá đều đáp chuyến bay về tham dự. Chị Phụng lo sắp xếp công việc chợ búa, nấu ăn đãi đằng. Các em tôi cùng vài đứa bạn vô rừng hái lá mật cật, chặt vài chục nhánh dừa để lợp giàn che nắng trước sân. Nơi cổng vào có hai chữ "Vu Quy" kết bằng giấy thắm cũng rất đẹp mắt. Nhưng một đám cưới giữa hai đám ma ngày đó làm tôi rất lo. Điềm gì đây bỗng dưng họ lại ngã lăng ra chết giữa lúc tôi lấy chồng. Chú năm Nghĩa nhà sát bên đã bị bệnh tê liệt nhiều năm, chú không nín thở ngày khác mà lại nín thở vào ngày cuới của tôi. Cách đó mấy căn cũng một bác nữa, không biết bị bệnh gì cũng qua đời vào lúc ấy nên tiếng trống, tiếng kèn đám ma ò e, ò e vang lên inh ỏi, át cả tiếng chúc tụng, chúc mừng trong ngày cưới của tôi. Chưa hết, chiều hôm đó tiệc cưới đãi vừa xong thì một trận mưa thật lớn đổ xuống ào ào như thể rửa trôi hết, tẩy sạch hết những gì không hay. Nhờ cơn mưa đó nên đã mang lại đời sống của chúng tôi "mưa thuận, gió hòa" đến mấy chục năm sau. Tình cảm vợ chồng không gãy đổ, bốn đứa con khôn lớn thành người, còn chàng của tôi tuổi thọ xấp xỉ bảy mươi. Như thế thì ông bà mình có câu: "Ra đường gặp đám ma hên hơn gặp đám cưới" Thật đúng lắm…
Một năm sau tôi sanh đứa con trai
đầu lòng, má tôi bảo vô Rạch Giá sanh vì trong ấy có nhà bảo sanh tốt và có nhà
người dì của tôi. Nhưng tôi lì lợm nhất định không xa chàng ở lại đảo để
"Đi biển có đôi" chàng tìm được cô bé con ông thượng sĩ lính địa phương
quân xuống phụ lo việc săn sóc, cơm nước cho tôi được hơn hai tuần lễ thì nghỉ.
Chàng làm việc trên đài, tôi đi dạy dưới phố, hoàn cảnh thật đơn chiếc, chúng tôi
chưa tìm được người để trông coi em bé nhưng thời gian nghỉ phép đã hết rồi,
tôi phải trở lại trường dạy học sau một tháng. Người chưa tìm được nhưng tôi cũng phải giao con cho chàng giữ nhưng lúc nào chàng cũng
xuống trễ một, hai giờ đồng hồ. Trước khi đi dạy tôi phải cho con bú no nê rồi
lấy chiếc lồng lưới đậy lên để thằng nhỏ tránh bị muỗi cắn. Có lúc thì cháu ngủ khò, có lúc thì ngọ ngoậy
khóc khan, mồ hôi ra ướt đẫm, chàng xuống gặp cảnh nầy thì đau lòng hết sức. Thế
nên tôi phải đem thằng con gởi nhờ bà chị dâu trông chừng ba hôm để chúng tôi
đi vô Rạch Giá xin dì dượng tôi cho một đứa con của ông bà ra giữ hộ. Nhờ thế
mà hơn hai tháng sau con bé đó mới có cơ hội đi Mỹ
Tôi nhớ thật rõ, tối ngày 29
tháng 04 năm 1975 tôi nghe tiếng nói, tiếng ồn ào của ông Đại tá Hoà Đặc Khu Trưởng
Đặc Khu Phú Quốc đang chỉ huy anh em bên kia hàng rào vọng sang "Tôi còn ở
đây anh em hãy tin tưởng!", ngoài đường thì xe nhà binh chạy rần rần lên,
xuống. Ấy thế mà sáng hôm sau bừng mắt dậy tất cả đều thay đổi, nhóm người đêm
qua đã đi hết rồi.
Xin trở lại chuyện Kim Hồng, tháng 03 năm 1975 tình hình chiến sự rất căng thẳng, mất Vùng 1, Vùng 2, lính và dân cùng nhau chạy về Vùng 3 và Vùng 4, nhiều giới chức cao cấp trong chính phủ chạy ra Phú Quốc để tìm đường thoát thân. Chính quyền sở tại trưng dụng các phòng ốc của trường để họ tạm trú. Thế là nhà trường đóng cửa, Kim Chức thì trở về nguyên quán và đã mất liên lạc từ đó cho tới nay. Còn Kim Hồng thì ở lại sống với người anh, khoảng ba tuần lễ trước tôi có gặp Hồng. Hồng thấy tình hình khá lộn xộn, có người đã chạy ra ngoại quốc rồi, có người ra tàu buôn Mỹ neo nằm chờ, Hồng hỏi tôi: "Mầy định thế nào? Có đi không?" Tôi đâu biết đi đâu nên trả lời Hồng: "Làm sao đi được? Con cái nhỏ thế nầy,còn feta 1 nữa biết anh có muốn đi không?" Hồng nhắc lại chuyện xưa: "Mầy nhớ không, anh Trung úy Tân có bói: 'Mầy có số đi nước ngoại, còn tao thì không có..' Tôi gạt ngang: -" Thôi mầy, mình đâu có tiền, đâu có quyền, có thể làm gì mà đi được!" Vậy là chúng tôi chia tay nhau từ đó, mãi đến 25 năm sau, một phần tư thế kỷ tôi mới nhận được lá thư đầu tiên của Hồng, những năm trước lúc ba tôi còn sống, Hồng ra Phú Quốc may mắn gặp được ba tôi, Hồng xin địa chỉ và gởi thư liền cho tôi. Trong thư có số phôn, tôi liền gọi thăm Hồng, Hồng mừng lắm, tôi hỏi thăm đời sống, gia cảnh của Hồng suốt thời gian qua ra sao, Hồng cho biết đã có năm con, một ông chồng thuộc thành phần ba mươi tháng tư y sĩ trưởng của một bệnh viện tại Long Xuyên. Nghe ông xã của Hồng thuộc thành phần đó chúng tôi đều không vui, không mấy hài lòng. Hồng kể tiếp: "Thời gian đó buồn lắm, mấy năm liên tiếp bạn bè, người quen, thân nhân họ hàng ai cũng tìm cách ra đi. Nào đi vùng kinh tế mới, nào vượt biên, nào vô tù cải tạo, tao thì không còn được đi dạy học nữa, quá buồn nên bệnh tim lại tái phát, nằm nhà thương suốt mấy tháng trời… Ông y sĩ trưởng nầy chữa bệnh cho tao rồi sau đó cứ theo tán tỉnh tao riết. Cuối cùng tao lấy phứt đi cho rồi để tìm chỗ nương thân" Lúc tôi gọi phôn nói chuyện với Hồng, Hồng đang làm chủ một quán giải khát bên đường lộ liên lục tỉnh Cần Thơ, kinh tế thì cũng đủ ăn vì đã mất khá nhiều cho việc mua xác lính Mỹ rồi lại mua vụ con lai. Nhưng lần nào cũng bị trật duột , không bị người khác gạt thì cũng bị người kia lừa nên chán quá cuối cùng Hồng bỏ ý định không đi đâu hết, ở lại chịu chết trên quê hương mình. Hồng nói qua đầu giây điện thoại: "Mầy nhớ không, anh Trung úy Tân đó nói đúng lắm. Mầy có số đi ngoại quốc thì bây giờ mầy đã đi được rồi đó. Còn tao đã bao nhiêu lần rồi, cuối cùng vẫn đi không được đành chịu với cái số mầy ơi!" Tết năm đó tôi gời về lì sì Hồng 300 mỹ kim gọi là một chút quà mọn, một chút tấm lòng của người bạn cũ gởi về giúp Hồng trong những ngày đầu xuân, sau một phần tư thế kỷ cách mặt nhưng không xa lòng.
Thỉnh thoảng tôi có gọi phôn thăm Hồng, Hồng cho biết ông chồng của nàng bỏ nhà đi biệt gần cả năm, có lẽ theo duyên tình mới, bỏ lại mẹ con Hồng sống trong cảnh cơ cực, lầm than, thiếu trước, hụt sau. Cậu con trai thứ nhì đang bị bệnh gan, đứa con gái út Thảo Nguyên sắp thi vào cấp ba nay phải nghỉ học vì không có tiền đóng học phí. Hồng xin tôi giúp ba trăm mỹ kim để cháu học nghề. "Ừ, con gái học nghề săn sóc da mặt, tóc tai cũng tốt lắm!" Tôi đồng ý với một điều kiện, khi tốt nghiệp Thảo Nguyên phải gởi cho tôi bản copy của mảnh bằng ấy. Tôi sợ tuổi trẻ thường ham chơi, hay nông nổi khi thấy có tiền rồi chẳng chịu học hành, tôi phải đề phòng nên đặt điều kiện như thế. Kim Hồng than thở thêm: "Trường dạy nghề cách nhà xa quá, cháu đi tới, đi lui cũng bất tiện, lại tốn tiền xe mỗi chuyến đi, về… tính ra cả năm như vậy là một số tiền lớn uổng lắm! Xin bạn giúp cho Thảo Nguyên năm trăm mỹ kim nữa để cháu mua một chiếc Honda đam cũ tự lái đi học thì tiện hơn…" Tôi cũng chiều bạn, mấy ngày sau nhờ chàng gởi về liền cho Hồng tám trăm Mỹ kim. Như vậy là tôi đã an tâm làm một điều tốt, thiết thực, giúp cho con gái Hồng có nghề nghiệp và sẽ có công ăn, việc làm mai sau để nuôi mẹ, nuôi thân. Hôm nay nhận được lá thư nầy Hồng cho biết Thảo Nguyên đã ra trường, trong thư Hồng cũng có gởi kèm theo bản copy của chứng chỉ tốt nghiệp. Chuyện không may lại tiếp tục xảy ra, ngày con bé đi xin việc lần đầu cũng là ngày mất chiếc Honda đam. Hồng cho biết như thế.. Tôi chỉ biết chia buồn cùng Hồng và nói mấy lời an ủi chứ chẳng giúp được gì hơn. Nghe nói chị Tư và anh Sáu của Hồng đang sống ở Mỹ nhưng ít khi gởi tiền bạc về giúp Hồng. Có lẽ họ giận Hồng bởi vì Hồng cãi lời lấy anh chồng thuộc thành phần như thế và sau nầy lại nghe anh ta bỏ rơi mẹ con Hồng nên họ càng giận hơn, càng trách Hồng hơn. Những đứa con đã trưởng thành tự kiếm sống nuôi thân, riêng thằng con đang mang bệnh Hồng lo cũng không nổi. Hằng ngày vô phòng thuốc Phước Thiện xin một ít thuốc Nam về sắc cho thằng con uống, sống chết đành phó mặc cho trời. Mỗi tháng vào ngày mười bốn, rằm, ba mươi, mùng một Hồng phụ bán cơm chay cho một tiệm cơm chay gần nhà, chủ cho bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, đời sống thật vất vả, cực nhọc. Ngày xưa thời con gái Hồng cũng đẹp đẽ, xinh xắn lắm, ong bướm dập dìu, kẻ đón, người đưa. Tại sao số kiếp bạc đãi nàng đến như thế! Thật là đáng thương, đáng tội nghiệp.
Giữa tháng 05 năm 2009 tôi nhận một cú phôn từ Việt Nam gọi sang, giọng của người thanh niên trẻ bên đầu dây: "Dạ, xin cho cháu gặp dì Ngọc Minh" Tôi lên tiếng: " Dì Ngọc Minh đây, cháu là ai, gọi có việc gì không?" - "Dạ, dạ, thưa dì mẹ cháu là cô giáo Hồng.." Tôi nghe thế liền hỏi: " Ồ, cháu là con của Hồng hả? Mẹ Hồng khỏe không con?" Thằng nhỏ trả lời: "dạ, mẹ khỏe" nhưng liền đó thằng nhỏ lại nói: "Da thưa mẹ Hồng cháu mất rồi!." Lúc đó tôi nghe tiếng trống, tiếng kèn đám ma vang lên trong phôn, tôi giật mình hỏi lại: - "Hả, cháu nói mẹ cháu mất rồi hả? - "dạ!" - "Mất lúc nào?" - "Da, dạ thưa hai ngày trước" - "Mẹ cháu bị bệnh gì mà mất?" - "Dạ, bị bệnh tim" Tôi lặng người một lúc rồi nói: "Dì Ngọc Minh chia buồn cùng các cháu, à mà nè để dì gởi một ít tiền về để phụ đám tang cho mẹ cháu được không?" Giọng thằng nhỏ bên đầu giây: "Da, dạ, con cám ơn dì nhiều, tụi con có đủ tiền để lo đám tang cho mẹ rồi" - "Vậy thì tụi con ráng lo cho tốt nghe - "dạ" Tôi nói thêm: "Sau nầy các con có cần gì thì gọi dì Ngọc Minh, dì Ngọc Minh sẽ giúp cho, nhớ nhe"- "Dạ, tụi cháu rất cám ơn dì, dạ kính chào dì!" Tôi gác máy ngồi tư lự nhớ những kỷ niệm đã qua buồn cho số kiếp và cuộc đời của Hồng gian truân, khổ đau và nhiều bất hạnh. Hồng đã trả xong nợ trần ai và đang thảnh thơi, yên nghỉ. Một chứng nhân trong chuyện tình của chúng tôi đã về bên kia thế giới. Nguyện cầu Kim Hồng sẽ có hạnh phúc đích thực nơi cõi thiên đường.
Sau hai năm tôi đã hoàn thành thêm tác phẩm mới, đó là Tự truyên "Kiếp Lục Bình" hay "Lục Bình Vừa Trôi Vừa Trổ Bông" nói lên thân phận, cuộc đời của chính tôi và gia đình cũng như của hàng triệu người Việt Nam bỏ nước ra đi để tìm đất sống. Bao nhiêu nỗi gian truân, khó khăn, thành bại đã gói ghém trong quyển sách nầy. Tôi chọn ngày 31 tháng 05 là ngày tôi ra mắt sách tại nhà hàng Grand Fortune thuộc thành phố San Jose. Cũng như hai lần ra mắt trước, tôi chọn tháng 5 vì thời tiết tốt, khí hậu trong lành. Tháng 5 cũng là tháng hoa, tháng của mùa xuân bừng dậy mang lại nguồn sinh lực mới cho muôn người, muôn loài. Chim chóc líu lo trên cành, hoa cỏ trở mình thức giấc sau những ngày đông lạnh lẽo thê lương. Kỳ nầy diễn giả vẫn là nhà văn Diệu Tần, tôi phải bám chặt vào cánh tay ông để ông dẫn dắt trên con đường văn học. Một người mới là thi sĩ Mạc Phương Đình và nhà thơ Trúc Giang, dù mới nhưng đã làm tròn vai trò diễn giả thật xuất sắc. Về phần ban tổ chức tôi hân hạnh mời nhà biên khảo Đào Đức Chương, nhà văn Nguyễn Trung Dũng và nhà báo Đặng Thiên Sơn. Anh Sơn đảm nhận vai trò làm trưởng ban tổ chức phụ giúp tôi khá nhiều trong khi đang hình thành quyển sách. MC chính vẫn là thi hữu Võ Thạnh Văn, còn về phần văn nghệ thì do xướng ngôn viên Hạ Vân phụ trách. Sự bất đồng chính trị trong sinh hoạt địa phương đã khiến một số người cũ ra đi, đi về một phía nhưng bù lại tôi đón nhận thêm một số người mới. Số còn lại cũng những gương mặt thân thương, sắt son nghĩa tình, cũng những bằng hữu chí thiết, những nhân sĩ của Cộng Đồng, những cô, chú, bác bên khu hội và các vị lãnh đạo, chủ tịch của các tổ chức, hội đoàn, lực lượng đấu tranh và những cây tùng, cây bách những cây viết mới, cũ những bông hoa biết nói trong làng văn nghệ địa phương đã cùng tôi mỉm miệng cười trong ngày vui hôm ấy. Tôi sung sướng, hạnh phúc khi sinh ra đứa con tinh thần lần thứ tư được trắng trẻo, đẹp đẽ. Thêm nữa hai đứa con ruột của mình cũng đã tốt nghiệp bằng Tiến sĩ và Cử nhân của hai trường nổi tiếng là UC Irvine và UC San Diego. Ngay lúc đó chúng tôi xin phép quan khách và giới truyền thông, báo chí cho cháu Trương Quốc Bảo và Trương Nguyễn Trà Mi lên sân khấu để chào quý bà con cô bác. Và vợ chồng chúng tôi chia xẻ niềm vui thành đạt nầy đến với tất cả mọi người. Đây là nỗi lòng của bậc cha mẹ khi nhìn thấy con có sự thành tựu đều rạng rỡ trong lòng. Cũng như người làm vườn năm qua, tháng lại gieo trồng hạt lúa, cây bông hàng ngày vun phân, tưới nước, tháng rộng, năm dài rồi cây bông, cây lúa trổ hoa, kết trái cho ta niềm khấn khởi , vui vừng khôn xiết. Đứng trên sân khấu tôi chân thành cảm tạ và tri ân toàn thể quan khách, bà con, bằng hữu xa gần nhất là giới truyền thông báo chí xin hãy nhẹ tay cho. Đừng ghi lại những điều tiêu cục cho rằng tôi đem con lên sân khấu để khoe khoan, thực chất thì chỉ muốn chứng tỏ rằng đây là những cánh lục bình con vừa trôi vừa nở hoa. Thế hệ thứ nhất của chúng ta tựa "Kiếp Lục Bình" theo vận nước không may nổi trôi khắp năm châu, bốn biển, dù thời gian qua có héo úa, điêu tàn, nhưng vẫn sản sinh ra những khóm lục bình con mơn mởn, những khóm lục bình nầy sẽ nối tiếp truyền thống cha ông làm rạng danh con Hồng, cháu Lạc dù đang trôi giạt xứ người. Để khen thưởng thành quả công lao của hai cháu, dượng tôi là ông Từ Văn Nghĩa thay mặt họ nội lên sân khấu tặng cho cháu Bảo và cháu Trà Mi hai món quà đặc biệt để kỷ niệm về sau. Đó là tấm "plaque" có khắc tên hai cháu, tên trường và ngày tháng tốt nghiệp. Tôi rất hãnh diện và sung sướng, thay mặt hai con cảm ơn cô dượng cùng toàn thể thân quyến.
Trước khi bước xuống sân khấu tôi nói lời cảm tạ và đọc luôn bốn câu thơ:
Gặp hôm nay xin thưa cùng bằng hữu
Ngày mai nầy tôi gác bút gió trăng
Một đời người mộng bướm hoa đã đủ
\ Nghiệp văn chương tôi đã hết nợ nần….
Ba lần ra mắt sách, thơ đã thành công tốt đẹp, tôi phải biết dừng lại đúng lúc, kịp thời và giữ mãi trong tâm hồn những ngày tháng đẹp đẽ, đầy ắp tình người chung quanh tôi. Kết thúc buổi ra mắt Mc Hạ Vân cầm mirophone đứng trên sân khấu hát bài "Ngày Tạm Biệt" đồng ca cùng với hơn ba mươi anh chị em nghệ sĩ, thi, văn hữu, bằng hữu và một số người ái mộ ở lại đến giờ phút sau cùng. Mấy ngày sau nhiều tờ báo địa phương ghi lại với các ký giả như: Trường Kỳ, Trần Nghĩa Sĩ và Lê bình .v. v . . . "Buổi ra mắt Tự truyện "Kiếp Lục Bình" của tác giả Hoa Hướng Dương đã thành công mỹ mãn, gần hai trăm năm mươi quan khách tham dự, tám món ăn linh đình như tiệc cưới, quy tụ nhiều thành phần tên tuổi sinh hoạt trong cộng đồng cũng như trong sinh hoạt văn học, hầu hết đã đến tham dự. Quả là niềm vui lớn cho tác giả Hoa Hướng Dương cũng như gia đình, đồng thời cũng là niềm vui của cộng đồng. Vì thế hệ thứ nhất đã vượt qua bao sự khó khăn trong kiếp đời tị nạn, nhất là trong hoàn cảnh đặc biệt như bà và thế hệ thứ hai tiếp nối với các thành quả đỗ đạt thật đáng khen ngợi ".
Tôi hân hoan bơi lội trong dòng chữ nghĩa ấy, quả thật có "luật bù trừ" ông trời lấy mất đi ánh sáng của đời tôi nhưng bù lại cho tôi những niềm vui lớn lao khác. Đó là thành công trong ba lần ra mắt sách, thơ và sự đỗ đạt của các con mình, còn chàng thì lúc nào cũng đứng bên cạnh tôi như "Chim liền cánh, như cây liền cành". Một lần nữa xin chân thành cảm tạ và tri ân những tấm lòng đẹp như lụa, xinh như hoa và bao la như mây trời, biển nước.
Phần Kết
Thoáng một cái đã 36 năm, đoạn đường tị nạn ai đi qua cũng để lại nhiều kỷ niệm khó quên. Mỗi người mỗi cảnh, riêng tôi thì cuộc đời đưa đẩy khiến tôi phải ghi lại tâm tư, cảm xúc và hoàn cảnh đăc biệt của mình sau biến cố đen tối của lịch sử nước nhà. Với bao sự thăng trầm, được mất đã trở thành chất men bốc hơi theo dòng thời gian cuồn cuộn chảy. Cái còn lại là tấm lòng, là tình người, là mái ấm gia đình bên chồng, bên con. Các con của chúng tôi giờ đây đã khôn lớn, đã đỗ đạt giống như con cháu của quý vị, của nhiều gia đình Việt Nam tị nạn khác, đã ra trường, đã thành công trên nhiều lãnh vực như kinh tế, giáo dục, chính trị, văn hóa, xã hội .v.v… Còn chúng ta khi nhìn lại mái tóc đã điểm màu hoa lê, hoa mận nhưng thân phận vẫn mang "kiếp lục bình" . Hình ảnh "Lục bình vừa trôi vừa trổ bông" nói lên thành quả của các bậc phụ huynh đã vượt qua bao điều khó khăn, vất vả đóng góp vào sự thành đạt của các con, các cháu như ngày hôm nay. Riêng các con chúng tôi dù đã đỗ đạt nhưng chúng tôi muốn các cháu sống cho đàng hoàng, đĩnh đạt, sống có ý nghĩa để nêu cao tinh thần nhân bản của người Việt quốc gia mà ông cha ta đã gieo trồng, vun đắp và giữ gìn suốt bao thế kỷ qua.
Bài thơ "Đĩnh Đạt" dưới đây sẽ nhắc nhở con cháu điều đó:
Bỏ công đèn sách bao năm
Hôm nay con lãnh được bằng cấp cao
Có cao cho dẫu là bao!
Phải kính cha mẹ, phải hào anh em
Phải yêu đất nước Việt Nam
Yêu luôn trái mít, trái cam quê nhà
Yêu thôn xóm, yêu ông bà
Yêu đồng lúa chín - khúc ca ngày mùa
Yêu đình miếu, yêu chợ, chùa
Yêu hồn dân tộc - líp dừa, líp tre
Yêu thêm ngọn gió trưa hè
Có con gà trống te te gáy hoài
Yêu bầy trâu ốm ban mai
Đứng trên đồng vắng, mơ ngày quang vinh
Yêu luôn câu hát tự tình
Tiếng hò sông nước đưa mình gặp ta
Yêu dòng lưu thủy phù sa
Yêu thuyền nhỏ bé, vượt qua xứ người
Yêu từng ngọn sóng trùng khơi
Công ai lèo lái tới trời tự do
Bây giờ cuộc sống ấm no
Thành công, đỗ đạt phải lo giúp đời..
Tôi hy vọng đây là di sản tinh thần để chúng ta trao truyền lại các thế hệ mai sau, mong rằng các cháu sẽ đi đúng đường, đúng lối, sẽ là những khóm lục bình con rồi cũng tiếp tục trổ bông. Dù đường đời có nhiều gian nan, nguy khốn, cũng phải ráng sức vượt qua để làm rạng danh dòng giống Tiên Rồng.
Trong kiếp sống lạc loài, viễn xứ chỉ mong một ngày nào đó thể chế chính trị Việt Nam sẽ được thay đổi, thì các khóm lục bình của nhiều thế hệ sẽ trở về quê hương, bến cũ sống yên vui hợp đàn trên sông nước Việt Nam, hy vọng ngày ấy sẽ không còn xa…
Trăm năm sau biết ai còn nhớ!
Những kiếp hoa trôi dạt xứ người
Nước mất, nhà tan ngày quốc hận
Trông về quê Mẹ, lệ càng rơi…
Hoa Hướng Dương
Viết xong ngày 30 tháng 4 mùa Quốc Hận năm 2011
San Jose, California, Hoa Kỳ.