Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Tự Truyện Kiếp Lục Bình - Chương 10: Tìm Lại Mùa Xuân

Chương Mười

 TÌM LẠI MÙA XUÂN


          Hồi ức như một dòng thác, chảy xuyên qua ghềnh đá, sườn đồi. Có khi bị chận lại bởi một khúc quanh, hay một chướng ngại nào đó. Hoàn cảnh của mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều có sự khác biệt, dù thế nào đi nữa thì đời sống vẫn phải tiếp tục. Tôi trở lại công việc hàng ngày của người vợ, người mẹ và chàng cũng trở lại nhiệm sở đi làm để kiếm cơm nuôi vợ, nuôi con. Trong những ngày cuối tuần chàng và tôi ra sức chăm sóc, vun quén khu vườn của mình tạo cho hoa cỏ, cây trái có thêm màu sắc tươi thắm, nồng nàn. Mùa hè thì kêu thợ tới đổ xi-măng làm thêm phần đá rửa và dựng lên một cây cột bóng rổ để anh em chúng nó chơi banh với nhau tại nhà, không la cà nơi khác. Lo xong cho ba trự con trai, chàng của tôi cũng phải lo cho cô con gái út. Chàng mua gỗ về đóng một khung cũng khá rộng, rồi hì hục mua cát về đẩy từng xe đổ vô, kế tiếp là mua cầu tuột và ghế xích đu đặt vào coi như xong. Thế là cô công chúa của tôi có nơi chơi đùa thoải mái, lỡ té trên cát thì cũng chẳng hề hấn gì.

          Trước sân có hoa, sau vườn có trái và cạnh góc nhà tôi trồng đủ loại rau, bí, bầu. Chúng tôi hạnh phúc trong mái gia đình êm ấm, nhưng vẫn cánh cánh bên lòng nỗi nhớ quê, nhớ nước, nhớ nhà. Trong tâm tình đó, tôi trải mấy vần thơ Ngôi Nhà Tị Nạn như sau:

 

 Ngôi nhà tị nạn có gì hay?

Ngõ trúc đong đưa chiếc lá gầy

Bụi chuối sau hè phe phẩy gọi

Ngỡ hồn dân tộc ở quanh đây

 

Nầy đào, nầy mận, nầy lê, lựu

Nào cúc, nào hồng, nào thủy tiên

Buổi sáng thong dong ra dạo cảnh

Xanh, vàng, tím, đỏ đủ làm duyên

 

Lung lay đáy nước bóng sen hồng

Cây bưởi đang hồi sung mãn bông

Ong, bướm chập chờn khoe cánh mộng

Ngất ngây, hương thoảng kết hoa lòng.

 

Bước tới vườn rau thời lạc xứ

Quê hương hiện diện ở nơi nầy

Tía tô, vấp cá, hành, ngò, ớt

Húng nhũi, tần ô, quế mọc đầy.

 

Bầu, bí chung giàn vẫn tốt tươi

Bạc hà, rau muống, giậu mồng tơi

Vươn vai thức dậy cười trong nắng

Đâu biết mình đang lạc bến đời!

        Có bao nhiêu bến đời đã lạc mất? Có bao nhiêu mùa xuân đã không còn? Đối với họ tôi vẫn còn phân nửa mùa xuân. Chung quanh tôi vẫn còn chồng, còn con, còn một phần ánh sáng của cuộc đời. Dù vậy tôi vẫn kiên trì, tiếp tục đi tìm phân nửa mùa xuân đã mất của mình. Tôi đã chạy sáng nhà, sáng cửa, nhưng ánh sáng của cặp mắt mình thì vẫn mù mờ, tối tăm. Kỳ nầy được một người quen mách: “Ở dưới Stockton có một ông thầy dạy võ, thuộc phái Thất Sơn Phật Quyền chữa bằng phương pháp huyền bí, đã có nhiều người được hết bệnh.” Tôi nghe thế nên tìm đến ngay, nhân dịp cháu Bảo đang nghỉ hè, tôi đem cháu đi với tôi. Ở dưới đó suốt hai tuần, hằng ngày vợ anh Hiệp người quen của bạn tôi chở tôi đến nhà thầy để chữa bệnh. Ông dùng vuông khăn trắng có vẽ lên nhiều hình tượng, đắp lên mặt tôi và đọc thần chú. Ông quơ quơ ngón tay nhiều vòng và xoa nắn nhẹ nhẹ lên mắt tôi qua lớp khăn trắng kia. Trước khi làm công việc nầy, ông đã thắp nhang khấn Phật, khấn Tổ và đặt trên bàn một ly nước lạnh. Sau khi niệm chú xong, tôi phải uống ly nước kia. Ngày cuối tuần, chiều thứ sáu chàng chở các con xuống thăm tôi. Chúng tôi ra khách sạn thuê phòng, ăn cơm hàng, cháo chợ, đi sông, đi công viên cũng vui lắm! Sau hai tuần bệnh tình không khá, chúng tôi “nhổ neo” về lại San Jose, kể như một cuộc đi chơi trong mùa hè để các con nghỉ ngơi, thoải mái tinh thần chuẩn bị cho niên học mới.         

          Mùa hè năm sau giữa lúc biến cố Thiên An Môn, đoàn xe tăng của Hồng Quân tiến vào thành phố Bắc kinh, thì lúc ấy đoàn xe của chúng tôi rời San Jose làm một chuyến du hành đi qua Mễ, ghé Disneyland, Sea World và xuống sở thú San Diego. Chàng của tôi thương vợ, thấy ánh sáng của bà xã mình càng ngày như nắng ngả về tây, như ánh mặt trời chiều từ từ lặn mất và màn đêm sẽ lan tràn hiện hữu. Vì vậy nếu có cơ hội thì chàng đưa tôi đi đó, đi đây, để ngắm cảnh, ngắm người. Ngắm cảnh kỳ diệu của đất trời qua các cảnh quang thiên nhiên, ngoạn mục đã tồn tại hằng triệu năm qua và sự kiến tạo từ các công trình qui mô, hiện đại của quốc gia văn minh, giàu mạnh nhất thế giới. Trong chuyến đi nầy có gia đình anh chị Mến, Hà, một thân hữu đã gắn bó nhiều năm với chúng tôi và gia đình người em rễ Hạnh Lý mà tôi đã bảo lãnh từ xứ “Mặt Trời Mọc ” (Nhật Bổn) đến Mỹ đúng mười năm về trước.

          Đoàn xe vừa qua khỏi Bakersfield, con ngựa sắc của chàng hờn mát, không chịu cất cao bốn vó, lại nằm ì một chỗ, thấy sức nóng mùa hè chưa đủ, nó hùa theo phà thêm hơi nóng hòa vào không gian. Thế là chiếc xe đã bị “over heat”, chàng ráng lết tới khu Rest area gần đó nghỉ xả hơi hai tiếng mới tiếp tục lên đường. Suốt cuộc hành trình phải chạy chậm để dưỡng sức cho con ngựa già. Chiếc Oldsmobile Station Wagon đời 1982 mới hơn bảy năm mà sao tệ quá, giống như ông già hom hem, bệnh hoạn. Thế mà nó cũng làm xong nhiệm vụ của mình. Qua tới Mễ càng thấy nhớ quê hương mình hơn, cũng có những mái nhà giữa đồng không mông quạnh, chỉ thiếu những con trâu với những luống cày. Con nít, người lớn trong bộ áo quần thô sơ bạc phết. Cái nghèo thì ở đâu cũng giống nhau, có những giấc mơ từ bên nầy biên giới ban đêm tràn về làm thao thức người dân xứ Mễ. Họ mơ một cuộc sống sung túc, nhà lầu, xe hơi, dư ăn, dư để, chỉ cần băng thật nhanh qua bên kia lằn ranh thì là giấc mơ sẽ trở thành hiện thực. Vì thế trên đường đi thỉnh thoảng chúng tôi thấy có nhiều bảng ghi chú bằng hình tượng: “Người nắm tay người, mẹ nắm tay con dắt chạy nhanh qua đường”. Nhìn thấy hình ảnh ấy các tài xế phải lưu ý, nhất là ban đêm họ trốn qua biên giới bằng phương cách nầy.

          Gần tới thành phố Ensenada, xe đang đổ dốc, từ trên cao nhìn xuống thấy khung cảnh thật đẹp, thật nên thơ. Bãi cát trắng trải dài, biển sóng nhấp nhô, làn nước xanh biên biếc kéo tận chân trời. Xa hơn nữa là hàng dừa nghiêng bóng xõa tóc đong đưa, lả lơi cười đùa với ngọn gió trùng khơi. Bến cảng Ensenada cũng lớn, tàu bè tấp nập, các loại hải sản quá rẻ, càng cua chỉ có ba đô la một ký, tôm, sò cũng rẻ mạt. Em rể tôi Hạnh Lý thấy thế nên mua cả chục ký mang về. Vì lần đầu tiên đi Mễ nên chúng tôi nhát lắm! Không dám đi xa, không dám đi nhiều nơi, nhiều chỗ. Đậu xe thì sợ bị họ phá, đập bể cửa kính nên chỉ đi lòng vòng qua mấy con đường lớn ở phố. Giầy dép, áo quần và các món hàng linh tinh khác bày bán la liệt trên các vỉa hè. Đi chơi cho biết, chứ chẳng mua được gì, nghe nói thuốc tây và sữa đặc cũng rẻ lắm, nhưng chúng tôi không cần những thứ ấy. Đi một lúc ai nấy cũng đều đói bụng, chúng tôi thấy có một tiệm ăn bảng hiệu viết chữ Mỹ: “Seafood Restaurant” chúng tôi tấp vào, mạnh ai nấy kêu những món mình ưa thích. Tôi thì gọi món cháo cua, các ông đực rựa thì gọi món hàu sống, mấy trự con nít thì cứ taco, burrito, enchilada và tamale. Tô cháo bưng ra lợn cợn vài hạt thịt bầm, một càng cua không lớn lắm, để nguyên vỏ chặt làm bốn khúc. Màu đỏ cam của vỏ cua nằm chen lẫn giữa các hạt gạo trắng vừa mới nở búp búp cọng thêm vài nhánh hành, ngò xanh xanh cũng bắt mắt lắm, hấp dẫn các thực khách đang đói bụng. Nhưng khi ăn vào thì mới biết, nước cháo nhạt như nước ốc, thiếu chất ngọt của ống xương hầm. Tôi thông cảm, ở đây là xứ nghèo, không thừa mứa như ở Mỹ nên có thể bỏ qua được. Đang ngồi suy nghĩ về tô cháo, về cái nghèo, giàu của người dân trong mỗi quốc gia. Chợt nghe tiếng đàn, tiếng hát của nhóm nghệ sĩ lưu động xuất hiện. Các anh nhạc công thổi trumpet, thổi saxophone nghe sướng tai, lại có thêm lời nhạc vui tươi yêu đời của bài dân ca bản địa. Chàng của tôi bước tới thưởng mấy đồng đô vào trong chiếc nón rộng vành, để khích lệ họ, những người có tinh thần văn nghệ.

          Trên đường về chúng tôi ghé vô chổ bán đồ gốm, trước sân có đặt một tượng hình người con gái Mễ. Miệng cười ngả ngớn, bô ngực no tròn, cái bụng thon thon, cái mông thì vảnh. Chàng của tôi dừng xe, tắt máy nhào vô ôm liền để biết thân thể của người phụ nữ Mễ ra sao, cho dù đó chỉ là một pho tượng. Mã Mến, Hạnh Lý ông nào cũng tựa lưng, rờ má, nựng nịu cô nàng rồi chụp vài “Pô” để làm kỷ niệm. Chẳng hiểu có phải vì cái tượng “Ma Nữ Đa Tình” kia mà ba ông tài xế bị hớp hồn, chạy lạng quạng thế nào mà lạc tùm lum đến gần mười giờ đêm mới tới San Diego. Tất cả khách sạn hạng trung bình đều hết phòng, chỉ còn Best Western là trống. Chịu khó trả tiền mắc một chút nhưng phòng ốc đẹp đẽ hơn, rộng rãi và sạch sẽ hơn nhiều. Bởi lẽ đó nên chúng tôi phải bỏ cả 10 ký lô càng cua  của Hạnh Lý mua từ bên Mễ, thoạt đầu định lôi cái nồi cơm điện ra luộc nhưng rồi đành bỏ ý định đó vì  thấy khách sạn  khá sang nên chúng tôi đâu dám làm ẩu.

          Sáng hôm sau chúng tôi có chương trình đi Sea World (Thế giới Biển Cả), thật ra Sea World chúng tôi đã đi vài lần rồi, nên cũng chẳng còn háo hức nữa. Tuy nhiên cũng phải dắt mấy đứa con nít đi xem lại cảnh cũ, trò xưa. Tôi thích nhất là môn trợt nước, một chiếc ca-nô máy kéo theo năm cô gái có thân hình thật đẹp, thật hấp dẫn mặc đồ tắm bikini. Chân các nàng đứng trên tấm ván, tay nắm sợi dây cột sau đuôi ca-nô. Ca-nô chạy tới, các nàng tiên lướt nhẹ trên mặt nước, Qua một vòng cua khuất tầm mắt, khi họ trở lại chất trên vai thêm ba cô nàng và như thế ca-nô kéo chạy thêm một vòng nữa khi họ xuất hiện, trên vai có thêm hai người nữa. Tiếng vỗ tay khen ngợi vang dội của khách đứng xem. Một cù lao nhỏ nằm giữa sông, chiếc ca-nô lách qua, số người nầy buông dây té nhào xuống nước. Tất cả lội vào cúi đầu chào khán giả, lại thêm tràng pháo tay tán thưởng nồng nhiệt.

          Hết show nầy lại tới show khác, chúng tôi tụ lại coi các chú cá heo nhảy vòng. Hàng loạt ba con, năm con mình tròn trùng trục, da trơn mướt chui tọt qua cái vòng rồi rớt ùm xuống nước văng tung tóe. Những người ngồi ở hàng ghế đầu lãnh đủ, con nít vỗ tay cưới khoái chí. Các chú cá heo vừa diễn trò xong, bơi sát vào bờ, miệng há thật to, chờ người nài thưởng cho vài con cá nhỏ để rồi chúng vui vẻ bơi đi… Những bồn nước thật lớn, làm bằng nhựa cứng, dầy gần cả tấc được xây ngầm dưới đất là nơi nuôi các loại cá biển và các sinh vật hải dương. Từ những con cá to nhất là cá voi, dữ nhất là cá mập, và hiền lành, thư thái nhất là cá đuối. Hai mắt ti hí, đầu, mình dẹp lép, bơi lội nhởn nhơ, hai cánh quạt lên, quạt xuống như hai cánh chim đại bàng. Còn nhiều giống cá khác lớn, nhỏ sắc màu cũng khác nhau. Tôi đang đi dưới hầm, nhìn chúng nó cảm giác như đang lặn dưới biển sâu. Trong lúc ấy, đầu óc lại nghĩ bậy, lỡ mà động đất lớn, các hồ nước nầy vỡ ra, nước tràn như biển làm sao thoát thân cho kịp! Xứ Cali là xứ động đất, có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tôi đang lo lắng chuyện ấy nên nói nho nhỏ vào tai chàng, bảo chàng kêu mấy đứa con rời khỏi chỗ nầy ngay. Có phải tôi thỏ đế lắm không các bạn?

          Rời Sea World chúng tôi tìm đến tiệm ăn Việt Nam. Đi mấy ngày rồi ai cũng nhớ cơm, canh chua, cá kho tộ quá trời. Ăn no nê chúng tôi đảo một vòng thành phố San Diego, phố biển về đêm không ồn ào, náo nhiệt, không kiêu sa, hoa lệ như thành phố New York. Tuy nhiên nơi đây có sự yên bình nhàn nhã, thích hợp cho những người: “Qui ẩn, gác kiếm giang hồ, tìm nơi thế ngoại đào viên”, xa lìa chốn thị phi, gió tanh, mưa máu để hưởng thụ đến hết kiếp người chẳng phải là điều tốt lắm sao? Tuy nhiên  phải tránh xa khu gần biên giới vì khu nầy quá xô bồ, phức tạp, mất an ninh. Dân Mễ từ biên giới trốn qua khá nhiều nên đưa đến tình trạng trộm, cướp, bạo động và xì ke, ma túy. Người dân nơi đó dần dần bỏ đi, thành ra nhà cửa rẻ mạc, có nhiều căn bỏ hoang, sau một thời gian người tị nạn Việt Nam đến, kéo về ở càng ngày càng đông, nhất là người Mỹ tới tuổi về hưu thường về đây sinh sống. Thứ nhất là khí hậu ấm áp, thứ nhì là giá cả không quá mắc, vừa với túi tiền của người lãnh lương hưu.

          San Diego còn có một Căn Cứ Hải Quân Mỹ thật lớn là nơi tàu chiến, tàu ngầm và Đệ Thất Hạm Đội thỉnh thoảng ghé vào. Những lúc như vậy du khách được phép mua vé lên tàu xem qua cho biết từ phòng ngủ, qua phòng ăn, dẫn tới phòng lái rồi lên đài chỉ huy… Những con tàu ra khơi ba tháng, sáu tháng hoặc một năm mới về bến một lần. Đời sống của những người lính biển gắn liền với trời nước bao la, trăng, sao vời vợi nên tâm hồn của họ rất phóng khoáng, rất lãng mạn, giống như chàng của tôi vậy. Ở đây có núi, có đồi, có sông, có đảo. Có cả trường đại học UC San Diego nổi tiếng vì mấy lần lãnh giải Nobel qua các công trình nguyên cứu. Lại có cây cầu bất hủ Carnado, hình cong như trăng lưỡi liềm. Bởi đây là sự đấu trí lẫn đấu lý của người dân đối với chính quyền. Cầu xây ngắn, không đủ tiêu chuẩn để được ngân sách, họ mới kéo cầu dài ra thêm bằng độ cong như thế, nên mới đủ tiêu chuẩn lấy tiền của nhà nước. Tôi quay cửa xuống, đưa mũi hít, hít không khí của đại dương, gió mát từ biển khơi thổi vào làm dịu đi cái oi nồng của buổi ban trưa. Chúng tôi lái xe chầm chậm sát bờ, ở xa nhìn thấy thành phố quá thấp, quá gần với mặt biển, nhưng khi đến gần thì lại khác. San Diego có nhiều đồi đẹp, nhiều danh lam, di tích lịch sử. Chẳng hạn như Balboa Park, cảnh trí rất thơ mộng, đồi cao, hồ nước, nhà thủy tạ, cầu vòng, khu vườn hồng và vực thẳm. Thảm cỏ xanh tươi trải dài ngút mắt điểm tô những cánh hồng khoe sắc thơm ngát mùa xuân. Lại có thêm một viện Bảo Tàng Khoa Học, tôi chưa vào nên không biết bên trong có những gì, tôi nghĩ cũng hay lắm vì vé vào phải tốn mười lăm Mỹ kim. Thú thật tôi đã đi thăm công viên nầy, một ngày đi vẫn chưa hết, nó mênh mông lắm có lẽ phải mất đến ba ngày, vừa đi vừa dưỡng sức họa hoằn mới xem đến cùng tận. Danh lam thì đã nói qua, bây giờ tôi xin đề cập đến di tích lịch sử, Old Town là thành phố Mễ đầu tiên được dựng lên tại tiểu bang California. Nơi đây ngày xưa người Mễ đến lập nghiệp lần đầu vào năm 1864. Nghe đâu Old Town có một ngôi nhà ma, cũng là viện bảo tàng lưu trữ tất cả những đồ đạc, vật dụng của mấy trăm năm về trước. Đôi khi giữa ban ngày, khách bước vô đi sâu vào phía trong, chợt gặp người đàn ông Mễ, ngậm ống vố, đầu đội nón rộng vành rồi nhiều lúc lại thấy người đàn bà mặc đồ, trang sức theo cổ xưa, đi tới đi lui. Khách hỏi gì cũng không trả lời, thoáng một cái thì biến đâu mất. Du khách trở ra hỏi nhân viên làm việc thì đều được trả lời: “Ở đây nhân viên chúng tôi không ai ăn mặc như thế, có lẽ người xưa trở về!” Họ không gọi là ma vì các người ấy là tổ tiên của họ, đã đi tìm đất sống cả mấy trăm năm về trước.

          Sáng hôm sau ăn điểm tâm xong, chúng tôi đến sở thú San Diego sắp hàng, chỉ nửa giờ sau là chúng tôi qua khỏi cổng. Sở thú nầy chia ra nhiều khu vục, các giống thú lớn, hung dữ thì nhốt chung một khu, còn các loại nhỏ hơn, hiền lành hơn để chúng tự do dạo bước, lập hàng rào đơn sơ, thấp thấp để các em nhỏ nhìn, ngắm, rờ rẫm. Đi một chặp người lớn chúng tôi mỏi chân quá ngồi nghỉ, giao đám nhỏ cho thằng lớn dắt các em đi vòng vòng. Thật ra sở thú nào cũng giống nhau, cũng nuôi giữ các con thú trong rừng: Từ sư tử, cọp, beo, tê giác, ngựa, voi, chồn khỉ, trăn, rắn, cá sấu, chim muông .v.v… và v.v... Ở dưới thung lũng sâu kia tận cùng của sở thú, không biết người ta nuôi, giữ con gì mà hình như tôi thấy có một số người đi xuống dưới bằng dây cáp. Thôi thì hẹn lần sau xuống tận nơi rồi sẽ biết!

          Năm ngày, bốn đêm chúng tôi ở San Diego coi như tạm đủ. Sáng hôm sau chúng tôi quay về khu “Little Sàigòn”, ghé qua Disneyland thả tụi con nít xuống cho chúng đi chơi trong đó. Còn người lớn thì đi dạo phố Bolsa, ghé khu Phước Lộc Thọ, thăm viếng chợ thực phẩm Á Đông. Thấy cái gì cũng ham, cũng muốn ôm về, nhưng xe đã không còn chỗ chứa vì chở các con voi, cọp, ngựa, không phải là con thật đánh cắp từ sở thú San Diego đâu. Mà mua chúng từ bên Mễ, làm toàn bằng đất nung khoác lên một lớp men, màu sắc trông cũng mỹ thuật lắm. Chúng tôi đi ba gia đình ba xe, xe nào cũng chở các con thú nặng ký. Sống hoài trong rừng cũng chán, thôi thì dẫn chúng về thành phố sống với loài người cho vui.

          Ba giờ chiều đoàn xe chúng tôi trở về San Jose, mười giờ đêm đã tới. Mạnh ai về nhà nấy, chuẩn bị ngày mai đến sở làm, hẹn sẽ có cuộc vui khác cho năm sau.

 

Đời còn vui, ta cứ vui

Cam chi mà phải ngậm ngùi biển dâu!

Cho dù sống đến bạc đầu

Xuôi tay, nhắm mắt cũng vào áo quan…



San Diego









Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét