Chương Mười Bốn
CHỊ
TÔI CHẾT THẢM
Sau khi đi Việt Nam về, tôi mới biết chi tiết hơn, rõ ràng hơn về cái chết của người chị thứ tư, tên Nguyễn Tuyết Hòa, là chị em sinh đôi với chị Nguyễn Kim Phụng, tôi đứng hàng thứ năm. Ngược thời gian trở về năm 1977 vào mùa Nô-en, chủ tàu móc nối với một số người chuẩn bị để vượt biên. Vợ chồng ông anh, vợ chồng chị Hòa và một đứa con trai bảy tuổi cùng người cậu là võ sư mà tôi đã từng đề cập ở trên. Mỗi nhóm ba người tự tìm xuồng nhỏ ra đến điểm hẹn sẽ gặp được tàu lớn. Nơi phát xuất là Rạch Sỏi, nhóm chị Hòa gồm có cậu tôi và hai vợ chồng chị dùng dỏ dọt đi trước. Nhóm ông anh và đứa cháu cùng một số người khác đi sau thì bị bể, mạnh ai nấy chạy. Vì thế chiếc tàu lớn kia không xuất hiện nơi điểm hẹn, chiếc xuồng nhỏ đưa ba người ra chạy lòng vòng trong khu vực đó hơn cả tiếng đồng hồ.
Cậu tôi biết chắc trong bờ đã xảy ra chuyện rồi nên ông ngoắc một ghe đánh cá lại, nói rõ ý mình là muốn vượt biên và ông đưa ra một số vàng để trả công, khi đến Thái Lan, nếu họ muốn quay về thì cứ tự nhiên. Chủ ghe là một người trung niên, hai cậu con trai độ tuổi trên, dưới hai mươi, thân hình lực lưỡng, khỏe mạnh. Ông chủ ghe gật đầu, nhóm cậu tôi rời dỏ dọt bước lên ghe, chiếc xuồng nhỏ quay mũi chạy vào bờ. Màn đêm kéo tới, biển cả mênh mông, gió thổi càng lúc càng nhiều, ba người trải tấm ny-lông xuống, ngả lưng dưới sàn ghe. Nhìn sao trời mà khấn nguyện, ai cũng hồi hộp, ai cũng lo sợ. Chẳng biết có đi tới bến bờ tự do bình yên hay không? Tiếng máy nổ đều đều và chiếc ghe chạy tới, chạy tới trong đêm mịt mùng vô định. Đúng vậy, cậu tôi là người thành phố, chưa lần nào đi biển, không rành về phương hướng. Ông chồng của chị tôi cũng thế, là dân ở tỉnh cũng bù trất, họ chỉ biết đường lộ chứ không biết thủy lộ, chị tôi là phụ nữ lại càng mù tịt hơn, cứ mặc tình để cho ông chủ ghe lái vận mạng mình đi đến đâu thì hay đến đó.
Trời chưa sáng đã nghe tiếng loa của công an biên phòng từ trên chiếc tàu kia phát ra đánh thức ba người. Thì ra ông chủ ghe biết ba người không rành về nghề đi biển, nên đã âm thầm cho ghe chạy lòng vòng gần Hòn Đất để cho thằng con trai bơi vô bờ báo cáo với công an để ra bắt người vượt biên. Có lẽ thằng nhỏ biết cậu tôi có súng nên nói trước với đám công an biên phòng. Vì vậy khi họ ra, họ đứng ở xa phóng loa kêu gọi cậu tôi đầu hàng. Cậu tôi quá tức giận vì sự lường gạt của ông chủ ghe nên đã bắn trả lại ngay. Ông nghĩ thà chết chung chớ để họ bắt cũng bị tử hình hoặc ở tù chung thân, vì thế ông “xả láng”. Nhất định không đầu hàng, tụi công an bắn trả, hỏa lực mạnh gấp mười. Bên ghe nầy chỉ có hai tay súng, còn bên kia khá đông. Họ bắn xối xả lên tàu, chị tôi bị trúng đạn đầu tiên, kế đến là chồng chị và một viên đạn bay xuyên qua cái lò nấu bằng dầu, bốc lửa, ngọn lửa theo dầu cháy tràn lan trong mui ghe. Cậu tôi cũng trúng thương sau đó ít phút, đứa con của ông chủ ghe cũng bị trúng đạn nằm la liệt. Bọn công an nhảy qua ghe và dập tắt ngọn lửa rồi kéo ghe vào bờ. Mặt biển vẫn im lìm như không có chuyện gì xảy ra. Tiếng sóng rì rào như lời mẹ ru ngọt ngào ngày con còn bé. Giờ đây tiếng sóng rì rào như ru người đi vào cõi tử sinh… Họ đặt ba người vượt biên đang bị thương trên bờ cát, còn người con trai của ông chủ ghe thì được đưa đi cứu cấp tại bệnh xá của xã. Tới giữa trưa thì giấy tờ hành chánh mới xong, chị tôi bị máu ra nhiều nên đã chết. Chị chết vào năm 28 tuổi, đúng như lời người thầy bói đã nói, mà lại chết dọc đường nữa, thật là quá đúng. Còn về phần cậu, và chồng của chị vẫn còn sống, họ đưa lên ghe chạy về tỉnh. Trên đường đi, hai người không cầm cự nổi nên cũng đã chết luôn.
Cái ác ôn của con người Cộng Sản, thật không thể nào tưởng tượng nổi. Thằng con bảy tuổi ngày đó may nhờ đi với ông anh tôi mới còn sống sót. Tết năm 2006, cậu bé bảy tuổi bây giờ là chàng thanh niên 36 tuổi đã có vợ và sanh được hai con. Bỏ một tuần buôn bán, tìm về nơi chốn đó để hỏi thăm cho ra cớ sự mẹ mình chết như thế nào? Chết trên Hòn Đất mà sao xác lại trôi về tận hải đảo Phú Quốc. May sao có một nhân chứng trong vụ việc nầy vẫn còn sống. Bà là người vợ của ông chủ ghe tên là bà Tám, bây giờ tuổi gần tám mươi, xin lỗi thằng cháu tôi thay cho ông chồng đã chết, bà dắt thằng nhỏ đi tới chỗ mẹ nó đã nằm lúc thở hơi thở cuối cùng ngay tại chỗ đó. Bà cho biết rằng, ngư dân trên Hòn ngày đó có xin phép chính quyền địa phương chôn chị tôi. Nhưng họ không bằng lòng. Họ nói rằng đây là tội phạm vượt biên phải đưa về tỉnh. Bọn họ dùng dây cột chân cột cổ rồi kéo xác theo tàu, như kéo một con cá to mắc lưới. Có lẽ vì mới chết, mà lại chết oan nên vong hồn của chị tôi hiển linh lắm. Trong sự huyền bí mầu nhiệm chị bứt bỏ cả ngần ấy dây thừng nhờ con sóng đẩy đưa thân xác của mình trôi về tận nơi chôn nhau, cắt rún. Xác chị tấp vô bãi Hàm Ninh, phía Đông của đảo Phú Quốc. Sau nầy nghe dân chài kể lại: “Chị mặc chiếc quần tây đen, áo bà ba xanh dương, và bên trong chiếc áo lót cũng màu đen luôn”. Thân thể chị không được toàn vẹn, bị cá rỉa nhiều nơi, dân chúng thương tình vì đoán rằng đây là người phụ nữ vượt biên, bị đắm tàu hay bị một tai nạn nào đó, người ta mới đem chôn chị trên một bờ cát sát mé biển. Mười ngày sau má tôi mới biết được tin, xác nhận rằng: “Đúng là chị rồi, trong buổi chia tay chị tôi mặc áo quần màu sắc như thế!”
Có lẽ vì chết trong lúc mang thai nên chị tôi rất linh thiêng, chị là thợ may có đem theo hộp đồ nghề, một gia đình nọ lấy hộp đồ nghề mang về cho con gái mình xử dụng. Chị tôi nhập vào cô con gái, xưng tên, xưng tuổi và đòi lại. Gia chủ sợ quá xin chị tha mạng cho đứa con và hứa lập miểu thờ chị và trả lại tất cả đồ nghề kia! Nhiều người vượt biên sau nầy khi qua vùng biển đó kể lại cho tôi nghe rằng, cũng thấy chị thường xuyên xuất hiện về trong đêm khuya. Có lúc thì thấy chị đứng trước mũi tàu, họ sợ quá, vô mui tàu thì cũng thấy chị ngồi trong đó. Đây là những câu chuyện tôi nghe người ta kể lại, thực hư như thế nào, chính xác bao nhiêu phần trăm tôi không biết! Nhưng có điều tôi tin chắc rằng chị rất linh. Chị hay về báo mộng những chuyện gì trọng đại sắp xảy ra! Chẳng hạn như chuyện động đất ở San Francisco, chị đã về báo mộng và nhiều chuyện khác nữa… Sau nầy từ từ tôi sẽ kể thêm. Còn về phần cậu tôi, ông là ai? Tại sao lại có súng? Xin thưa, trước năm 1975 ông là gián điệp nhị trùng, vừa làm việc cho CIA, vừa làm việc cho tình báo Việt Cộng hoạt động tại miền Nam. Khi Sàigòn thất thủ ông giả điên để tụi nó không trù dập, không điều tra, và không bị đi tù. Ông ráng điên trong vòng hai năm để tìm đường vượt biên, chẳng may gặp phải người chủ ghe bất nhân nên ông thà chết chớ không để lọt vào tay Việt Cộng, nhất quyết chống trả đến giây phút cuối cùng, nên mới sinh ra câu chuyện thương tâm như thế nầy làm liên lụy đến bao nhiêu người khác, trong đó có chị của tôi.
Một tuần sau biết chắc chắn chị mình đã chết, tôi có làm một mâm cơm cúng chị để tỏ lòng thương tiếc cho cái số kiếp quá bạc phần, ngắn ngủi của chị nơi cõi thế gian nầy! Đồng thời niềm cảm xúc dâng tràn qua các dòng thơ sau đây: Ngày Giỗ Chị:
Chị ạ, hôm nay ngày giỗ chị
Trên bàn nghi ngút khói hương bay
Cơm, canh những món chị ưa thích
Di ảnh mơ hồ nét nhạt phai!
Mười lăm năm trước lúc chia tay
Chị hẹn với em sẽ có ngày
Vui cảnh đoàn viên trên đất khách
Tâm tình ấm lại buổi ban mai
Hai năm sau đó chị ra đi
Đau lòng xót dạ phút chia ly
Mẹ già, em dại câu từ tạ
Dõi mắt trông theo nói được gì?
Con thuyền đưa chị xa rời bến
Mang cả buồn vui nửa cuộc đời
Góp nhặt ân tình nơi xứ mẹ
Trao người em nhỏ chốn xa xôi
Tàu không qua bến đời ô trọc
Tàu đã đi vào bể khổ đau
Thân xác trôi theo dòng nước lạnh
Rồi cũng tìm về nơi chôn nhau
Manh chiếu gói theo thân bạc mệnh
Hồn oan sống lại lúc đêm về
Lang thang phiêu bạc bên trời nước
Lưu luyến hư tình chốn biển mê…
Mười mấy năm rồi như chớp mắt
Mẹ giờ tóc bạc trắng màu sương
Riêng em đơn độc nơi trời lạ
Khóc chị, thương mình nhớ cố hương
Chị đã nằm yên dưới đáy mồ
Em lòng ở lại chít khăn sô
Ngậm ngùi năm tháng từng đêm vắng
Mơ chị về trong cõi hư vô
Tháng năm lạnh lẽo tiết đông sang
Nấm mộ hoang vu cát phủ vàng
Chị có nghe hồn xanh vạn cổ
Em sầu muôn thuở vẫn không tan!
![]() |
| Chị Nguyễn Tuyết Hòa và con trai Nguyễn Duy Lễ |
Vâng, không phải chỉ riêng tôi đau đớn, thảm sầu về cái chết của chị mình, mà còn rất nhiều gia đình Việt Nam là nạn nhân của bọn Việt Cộng vô nhân, giết người không gớm tay như trường hợp của cha mẹ chị Sương.
Chị Sương là bạn tôi lâu năm, tôi biết rõ về cuộc đời và hoàn cảnh bi thương của chị nên đã đem câu chuyện kể lại cho ba má tôi nghe: “Hai đấng sanh thành qua đời lúc chị mới hơn hai tuổi, một người anh vừa mới lên sáu, người chị lên bốn và cô em gái đúng mười tháng tuổi. Quê chị ở Mỏ Cày, Bến Tre, ba chị ngày xưa là thầy quản hương, lại rất mê cải lương. Ban đêm có tuồng nào hay ông thường một thân, một mình ra chợ quận coi hết tuồng rồi đạp xe đạp cộc cạch trở về trên con đường quê tối tăm, hẻo lánh. Có mấy lần ông bị du kích chận lại điều tra. Ông nói thật nhưng họ không tin, họ bảo rằng ông đi đêm như thế là về quận báo cáo những việc làm của bọn chúng ở địa phương. Ông đem câu chuyện nầy kể lại cho người vợ trẻ nghe, chị vợ khuyên ông không nên đi đêm như thế nữa. Cái đam mê sân khấu thích coi đào, kép diễn tuồng đã ăn sâu đậm tận xương tủy, ông vẫn tiếp tục. Mãi cho tới một đêm, đã quá khuya không thấy chồng về. Người vợ trẻ đâm ra lo, chợt nghe có tiếng gõ cửa dồn dập, chị mở ra thì thấy cậu bé khoảng mười bốn, mười lăm tuổi báo tin rằng đã thấy xác ông trên con đường làng. Người vợ trẻ lo tang ma cho chồng xong thì chị ấy nhất quyết trả thù cho chồng. Hơn tháng sau cúng bốn cái thất vừa xong, chị gởi đứa con nhỏ mới mười tháng cho bà mẹ chồng trông coi:
-Má coi giùm con Tuyết, con đi mua sữa sẽ về ngay!
Chị đi gần một tiếng, mua ba hộp sữa bò về, khui ngay một hộp, pha với nước sôi rồi bế con cho bú. Ẵm con trong tay chị dặn dò bà mẹ chồng:
- Má, nếu con có xảy ra chuyện gì thì xin má nuôi anh em tụi nó giùm cho chúng con!
Bà mẹ sợ quá run lên hỏi:
- Hả, con nói gì? Trời ơi… đã nói rồi, đừng trả thù, trả oán gì nữa hết! Mầy còn bốn đứa con nhỏ xíu mà! Phải rán mà nuôi cho tụi nó lớn khôn mới được! Má già rồi làm sao lo cho xuể đây?
Giọng người con dâu bỗng trở nên lạnh lùng, cương quyết:
- Con đã thề với ảnh rồi, con phải trả thù, chớ không thể nào để chồng con chết oan được! Cùng lắm là họ giết con, con sẽ đi theo anh ấy.
Bà mẹ chồng tặc lưỡi, lắc đầu buồn bả. Người con dâu đặt đứa con nhỏ đã ngủ say xuống giường, chị kéo chiếc mền đắp lên ngang ngực con rồi bước tới bàn thờ thắp ba nén nhang cho người chồng xấu số. Dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu leo lét, giọng chị mơ hồ qua làn khói nhang mờ ảo:
- Em đã trả thù cho anh rồi, chúng ta sắp đoàn tụ. Anh hãy đến đón em trong đêm nay. Giọng chị đanh lại khi nghe tiếng súng nổ liên hồi ở cuối thôn:
- Cho chúng bây chết, cho chúng bây chết hết!
Chị nghiến răng, môi cắn chặt, ánh mắt lộ vẻ căm hờn. Biết lính quốc gia đang chận lại bước chân của bọn nó. Hai bên đang giao chiến dữ dội, tiếng súng nổ càng lúc càng nhiều. Buổi chiều chị tình cờ nghe tin đêm nay bọn Việt Cộng sẽ lén băng qua con lộ để đánh úp một đồn lính bên cạnh. Chị đã lẹ làng chạy đi thông báo để lính quốc gia chuẩn bị phòng thủ cẩn mật và tăng viện khi cần. Bọn Việt Cộng sẽ không ngờ, chúng sẽ bị tổn thất nặng đúng như ý chị mong muốn. Chị bước vô buồng nhìn mặt bốn đứa con thơ đang nằm say giấc, chị đặt bốn nụ hôn thương yêu lên trán các con lần cuối cùng. Giọng chị chùng xuống:
- Mẹ xin lỗi các con, các con đừng trách mẹ.
Chị bước ra sau nhà múc gáo nước xối vào đôi chân, lấy tay vóc nước rửa cả khuôn mặt, chị cảm thấy khoan khoái và bình yên. Chị lấy cây lược vắt bên vách đưa lên chải lại mái tóc dài thậm thược, bình thường chị búi lên như cái bánh tiêu. Tiếng đập cửa ầm ầm, mặt bà mẹ chồng xanh dờn, tái nhợt. Chị bình tỉnh bước tới mở cửa, hai tên du kích mặt đồ đen cầm súng lao tới lôi nhanh chị ra ngoài. Bà mẹ chồng gào lên:
- Các ông kéo con dâu tôi đi đâu! Các ông làm gì nó?
Có tiếng trả lời:
- Con bà phản bội nhân dân, phản bội cách mạng, đáng tội chết!
Trong bóng đêm dầy đặc, họ kéo chị ra gần bờ mương, trói chặt hai tay chị lại. Chị giẫy giụa, kêu gào, chưởi mắng:
- Cái lũ ác ôn, côn đồ. Chúng mầy đáng chết! tao trả thù cho chồng tao, dẫu chết tao cũng vui.
Hai tên du kích thay nhau vả vào mồm chị, chị lồng lộn, kháng cự:
- Chúng mầy giỏi thì giết tao đi! Tao không sợ, tao không sợ…
Chúng cột mái tóc dài đen mượt của chị vào gốc cây chanh gần đó và cột quặp hai chân chị về phía sau. Giờ đây chị không thể nào nhúc nhích, cục cựa được nữa, nhưng miệng thì vẫn chửi, vẫn mắng bọn người kia. Ở nhà quê vườn tược khá rộng, cây lá xum xuê, nhà nầy cách nhà kia khoảng bốn, năm trăm thước nên bất cứ chuyện gì xảy ra cũng không ai hay biết. Tiếng con chim cú kêu lên ba hồi, bà mẹ chồng lâm râm khấn nguyện. Đoàng, đoàng, đoàng. Ba tiếng súng nổ vang rồi im bặt. Bà mẹ chồng quỵ xuống giữa tiếng khóc thét của đứa cháu nhỏ nhứt, bà chạy đến ôm nó vào lòng nước mắt ràn rụa. Trời mới vừa hừng đông, bà đi ra ngoài vườn tìm xác đứa con dâu mang vào nhà và nhờ hàng xóm lo tang ma, chôn cất. Thế là chị Sương, chị Tuyết, anh Hiệp và chị Nhung mồ côi cả cha lẫn mẹ kể từ ngày đó”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét