Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Tự Truyện Kiếp Lục Bình - Chương 3: Đời Sống Mới


 Chương Ba

 

                                                 ĐỜI SỐNG MỚI

 

        Chúng tôi quen với anh chị Phạm Quang Hiền trong dịp tết vừa qua, chị Hiền còn có tên rất đẹp là Lê Tích Tố, dáng người nho nhỏ, gương mặt xinh xắn cười rất tươi, lại vui tính, thích tiếu lâm nên thấy chị cứ mãi trẻ trung. Còn anh Hiền trông có vẻ đạo mạo, ít nói tính tình lại giống y hệt cái tên. Nghe đâu anh Hiền trước kia có một thời làm ở Phủ Tổng Thống, vai trò là Công Cán Ủy Viên. Sau nầy đổi về Bộ Thông Tin, chức vụ sau cùng là Tổng Giám Đốc. Anh chị đến đây dưới sự bảo trợ của một người Mỹ có chức cao trong ngành bảo hiểm, nên họ sắp xếp cho anh làm công việc ấy luôn. Chị Hiền là thợ may chính trong hãng may màn tại phố nhỏ Waverly. Sau thời gian quen biết, chị đã giới thiệu tôi đến đó làm chung cho vui. Nhà chỉ có một chiếc xe, tôi đề nghị chàng của tôi xin ông chủ đổi làm ca đêm, còn tôi thì đi làm ca ngày để thay nhau giữ thằng cu tí. Đường highway nằm ở ngoại ô nên ít xe qua lại, một mình tôi thênh thang trên con đường vắng, mặc tình thả hồn bay theo cái bao la, cao rộng của đất trời. Bên nầy là ruộng bắp bạt ngàn, bên kia cả cánh đồng toàn là hoa hướng dương, hoa nào hoa nấy to bằng ánh mắt trời. Có lẽ họ trồng để lấy hột, chứ bông bự như thế thì chưng sao cho nổi. Mỗi khi chiều về lái xe ngang qua, tôi bị lôi cuốn bởi ánh nắng cuối ngày nhuộm vàng lên mầu hoa sáng rực cả một góc trời. Và như thế tôi đã thưởng thức sự lãng mạn, hữu tình, nên thơ của màu hoa kiêu sa, sáng lạng  nầy.

        Cho tới một ngày chiếc xe tôi trở chứng, trước mặt không còn là màu vàng cam của buổi chiều tà, mà là màu khói lam bốc lên bởi chiếc xe đang bị hỏng máy. Tôi hoảng quá, vội ngừng xe ở giữa đường, tắt máy, mở cửa tông ra, lại nhớ sực mình còn kẹt cái bóp nên tôi chạy nhanh lại mở cánh cửa và kéo cái bóp rồi chạy ra thật xa vì sợ xe phát hỏa hay nổ bình xăng gì đó. Lần đầu tiên lái xe chưa được nhiều kinh nghiệm lại gặp sự việc như vậy tôi quýnh lắm. Đường lại vắng, chẳng biết nhờ ai! Chỉ đứng đó mà nhìn, khói vẫn bốc cao ngùn ngụt. May quá chỉ năm phút sau có chiếc xe trờ tới, một người Mỹ trắng bước xuống đến hỏi tôi việc gì xảy ra, tôi chỉ biết trả lời:

          - I don’t know, I don’t know! 

          Ông ấy bước lại gần nhìn sơ vào xe rồi nói:

          - Có lẽ ống nước bị bể!

          Ông hỏi tôi chìa khóa để ông dời chiếc xe vào sát lề. Ông trả chìa khóa cho tôi rồi hỏi bằng tiếng Mỹ:

          - Nhà bà ở đâu để tôi đưa về?

          Tôi trả lời:

          - Waterloo.

          Ông ấy nói:

          - Xa quá, tôi thì đang bận việc, bây giờ tôi chở bà đến tiệm Long Drugs gần đây thôi, bà có người nhà không? Gọi phôn cho họ tới chở bà về.

        Tôi ngần ngừ, nhưng trong tình cảnh nầy đành phải nhờ mà thôi. Khi ngồi vào xe, ông lấy cái cardvisit đưa cho tôi và tự giới thiệu: “I am a lawyer” Nghe thế tôi mới an tâm. Năm phút sau ông đậu xe trước cửa tiệm Long Drugs và giúp tôi gọi điện thoại về nhà, tôi kể sự việc cho chàng nghe và nói rõ ràng tôi đang ở trước cửa tiệm Long Drugs ngay chỗ đoạn đường đó và chiếc xe đang đậu bên lề ở đoạn đường kia. Chàng hãy mau mượn bạn chiếc xe và chạy lên đây chở tôi về. Còn chiếc xe hư nằm đường thì ngày mai sẽ tính. Tôi đợi hơn tiếng đồng hồ mà chẳng thấy chàng đến. Cuối cùng tôi phải làm phiền đến anh chị Hiền và nói sơ sự việc. Anh chị nghe qua lật đật lái xe chạy thẳng tới tiệm Long Drugs chở tôi về tận Waterloo. Về tới nhà tôi thấy ông chồng của tôi đang đứng đợi ngoài sân, tôi giận cành hông, chưa kịp lên tiếng thì chàng đã hỏi:

          - Em ở đâu mà anh tìm hoài không thấy?

           Tôi nổi cáu xẳng giọng:

          - Anh tìm ở đâu, đã nói em đang ở Long Drugs chờ anh mà!

          - Anh vô trong tiệm đâu thấy em.      

          - Em đứng bên ngoài chỗ gọi phôn công cộng đó! Thế thì anh có thấy chiếc xe trắng của mình đậu bên lề highway không?

          - Anh cũng không thấy chiếc xe luôn…

           Coi có tức không? Tôi không phải là con kiến, chiếc xe không phải là hạt cát, thế mà chàng chạy qua, chạy lại, kiếm tới, kiếm lui mà cũng không thấy xe và người đâu cả. Đáng giận không các bạn? Hai đứa chúng tôi nổ lốp bốp như bắp rang, anh chị Hiền cất giọng khuyên lơn, tôi ngưng cãi với chàng và cám ơn anh chị thật nhiều, đã chở tôi về nếu không tối nay tôi phải ngủ đường, ngủ chợ. Nhắc lại chuyện xưa mà bây giờ còn thấy tức! Sẵn đây thì méc luôn, sau nầy khi dọn về Cali, có một lần chàng chở tôi đi Bank of America, chàng đứng get line, bảo tôi ngồi đợi cạnh chậu cây kiểng sát tường. Kẻ ra, người vô, kẻ qua, người lại chờ mãi chẳng thấy chàng, nửa tiếng không thấy chàng đến, một tiếng cũng chẳng thấy chàng đến. Tôi đứng lên đi lòng vòng trong nhà bank để tìm, chẳng thấy bóng dáng chàng đâu cả. Gọi phôn về nhà thì cũng biền biệt tăm hơi. Hồi đó chưa có cell phone nên tôi phải gọi cô bạn tới chở tôi về. Mãi đến gần xế chiều, chàng của tôi mới tà tà vô cửa. Tôi giận quá hét lớn: “Ông đi đâu, sao bỏ tôi ngồi chờ cả mấy giờ đồng hồ? Chàng cười tỉnh bơ: “Tôi quên bà ơi!” Thưa các bạn, tôi hết ý kiến với chàng luôn!

        Mới đó tính ra mà đã hơn một năm. Mùa đông năm thứ hai lại bắt đầu xuất hiện khi thấy bầu trời giăng nhiều mây xám, buổi tối đến sớm hơn và hàng cây trụi lá cũng như mùa đông năm vừa qua. Trước khi những chiếc lá lìa cành đã cho chúng tôi thưởng thức những chiếc lá thu phong vàng, cam, đỏ ối rồi lặng lẽ rụng rơi chỉ sau một đêm gió lớn sẽ không còn thấy chiếc lá cuối cùng nào cả và hương thu cũng tan nhanh vào cõi không cùng. Giờ đây tuyết đổ xuống ào ào, đọng trắng trên nóc nhà, bám chặt lên hàng cây khẳng khiu. Bầu trời lạnh giá, khung cảnh ảm đạm, thê lương khiến lòng người cũng buồn lây theo cảnh vật. Mùa đông thật sự đã hiện hữu, mọi người lại ăn mặc như dân Eskimo. Quần trong áo ngoài, nón nỉ, áo len, chàng của tôi cũng phải thế, găng tay, giầy tuyết. Mọi sự di chuyển hình như chậm lại vì tuyết trên đường đã đóng thành băng, bánh xe phải gắn mắc xích kẻo không khi xe thắng gấp sẽ bị quay nhiều vòng dễ gây ra tai nạn. Buổi sáng thức dậy đi làm mới thấy cả cực hình, phải cào tuyết trên xe, phải xúc tuyết dưới đường. Có nhiều hôm thời tiết quá lạnh, nhiệt độ dưới mức âm. Xe đề máy hoài mà chẳng nổ, rồi bình điện lại hết hơi. Hôm đó đành phải ở nhà coi như mất một ngày lương. Tệ hơn nữa là khi bão tuyết về, tuyết đổ xuống như mưa, xe ủi tuyết làm việc không xuể, đường sá đóng băng, cơ quan hành chánh, trường học, công tư sở đều phải đóng cửa. Ở xứ lạnh nhưng tình người lại ấm áp, tôi còn nhớ mùa Thanksgiving kế tiếp, năm nào tôi cũng được bà con chòm xóm mang đến tặng thật nhiều quà. Họ cứ để trước cửa nhà, nào là ham hộp, trứng, sữa và một con gà tây to tổ bố còn đông đá. Nhất là các loại đồ hộp tha hồ mà ăn từ ngày Thanksgiving kéo qua Christmas.

        Tôi nhớ mùa Nô-En đầu tiên trên đất Mỹ chúng tôi nhận được rất nhiều thiệp chúc mừng từ các bạn bè thân hữu. Có một tấm thiệp đã làm cho chúng tôi nhớ mãi tới bây giờ. Đó là thiệp chúc mừng và cám ơn ông Mailman của anh chị Giàu gởi đến. Chúng tôi ôm bụng cười ngất về cái lẩm cẩm, dễ thương của ông bạn mình!

        Chúng tôi ở Waterloo quen biết khoảng hai mươi gia đình Việt Nam, nhưng tới lui, thân thiện chừng năm, bảy nhà. Bác Nguyễn Quang Tân là người Bắc, gia đình có tới mười đứa con. Bác trai có tài câu cá, mỗi khi đi câu thường mang về cả xe. Nào là cá mòi, cá chép, cá catfish, cá gì cũng phải ngoan ngoãn nạp mình. Câu được nhiều thế nên bác thường đem biếu cho tất cả mọi người, ăn riết rồi ai cũng ngán, sau nầy thì bác bớt đi câu hơn. Còn bác gái lại thích nấu nướng vì con đông, nên chúng tôi được dịp ăn ké nhiều món ngon của bác lắm, chẳng hạn như món bún mộc, bún riêu. Nhất là mùa đông trời giá lạnh mà ăn được các món nầy thì thấy ấm cả đời tị nạn, lưu vong.

        Bác Tân còn có cô con gái tên Dung rất hiền lành, dễ mến lại có tay nghề làm bánh rất khéo, rất ngon. Bánh cưới, bánh sinh nhật và bánh su, bánh nào Dung cũng biết làm. Khi chúng tôi rời Waterloo nghe đâu Dung sắp lên xe hoa. Chương là người thật thà, vui tính, gia đình đã dọn về Oregan nhưng Chương đã bỏ quên con tim ở Waterloo nên mùa đông năm ấy tuyết phủ đầy trời, giá rét căm căm. Chương với chiếc xe cũ kỹ, lúc chạy, lúc ngừng đã vượt ngàn dặm xa đến thăm Dung, nàng quá cảm động nên đã nhận lời cầu hôn của Chương. Ngày cưới của họ chúng tôi không về được nhưng cũng đã gởi quà tặng, một bức tranh trong đó có hình hai con chim uyên ương gắn bằng ốc xa cừ thật đẹp và một bài thơ chúc tụng hai người bền duyên giai ngẫu, trăm năm hạnh phúc. Lời chúc nầy thoáng nghe qua thật quá khách sáo, một đời người sống cao lắm là một trăm năm, nhưng ít ai được như vậy! Bây giờ cộng thêm một người nữa là hai người, thời gian sống chung làm sao có đủ một trăm năm được. Tuy nhiên ông bà ta cứ cho một con số nào đó để tượng trưng cho sự bền lâu, thủy chung để khích lệ tình nghĩa vợ chồng luôn luôn gắn bó, mãi mãi bên nhau. Sau nầy gia đình bác dọn về Cali, Dung mở tiệm bánh Việt Nam đầu tiên tại San Jose, đó là tiệm Linda Bakery trên đường Santa Clara.

        Mùa đông năm thứ hai chàng gặp phải một tai nạn cũng bởi vì chiếc áo len mua một đồng tại garage sale. Tay áo dài, thân rộng, chẳng phải là kích thước của mình nhưng chàng cũng phải mặc để chống lại cái lạnh. Trong giờ làm việc tay áo “phản động” đòi đình công bỗng dưng tuột xuống bất ngờ, lưỡi khoan cuốn nhanh đập mạnh vào bờ vai phát ra tiếng kêu “rắc’ thế là xương cánh tay chàng bị gãy. Chàng hét lớn một tiếng, ông chủ chạy nhanh lại tắt máy. Trong cái rủi lại có cái may, chàng băng bột cánh tay trọn một năm, ở nhà ăn tiền bệnh. Độ vài ba tháng dù chỉ còn cánh tay phải để xử dụng chàng cũng quậy quậy, lái xe tới Chicago thăm bạn bè, thăm Viện Bảo Tàng. Nơi đây có nhiều mummy (xác ướp Ai Cập) của nhiều ngàn năm trước. Những thây người quấn trong nhiều lớp vải nằm đó cứng đơ, khô đéc, lòi cả ngón tay, ngón chân ra. Già có, trẻ có, ngay cả một bào thai sanh non cũng đem ướp. Họ là những hoàng thân, quốc thích, công chúa và hoàng tử một thời sống trong nhung lụa với tột đỉnh vinh quang, uy quyền bất khả. Bây giờ thì nằm yên ở đây để người đời qua lại, ngắm nhìn. Có những ánh mắt sờ sợ, có những ánh mắt tò mò, thán phục vì công trình ướp xác thời đó quá tinh vi, quá hoàn hảo. Qua năm, bảy ngàn năm mà không mục rữa theo thời gian, cũng như Kim Tự Tháp đã dùng sức người hay máy móc mà nhấc lên nhiều tảng đá to nặng ngàn tấn, nằm chồng chất lên nhau gọn gàng, lớp lang, thứ tự. So với văn minh hiện đại, kỹ thuật bây giờ vẫn chưa cất lên nổi, thế nên đã làm đau đầu cho các nhà nghiên cứu.

        Những lần đi như vậy chúng tôi thường ghé phố Tàu mua vịt quay, heo quay ăn cho đã thèm. Một lần kia xe lạc vào khu da đen, cả đám vây quanh họ đập lên kính xe, chàng mở cửa đưa bản đồ chỉ vào chỗ muốn đến thế mà bọn họ cũng giúp. Có lẽ thấy trên xe có con nít và đàn bà. Sau nầy mới biết đó là khu vực thiếu an ninh rất nguy hiểm, rõ là “điếc không sợ súng”. Lần đi xa nhất là New York, cô Nhung, cô Xuân cũng là dân tị nạn, sống chung trong thành phố cùng anh sinh viên Thu và gia đình chúng tôi gồm bốn người. Tất cả chất lên xe, làm một chuyến viễn du qua Đông, ngược Bắc. Đi tới thành phố nào, tiểu bang nào có nhà người quen thì chúng tôi cứ chui vào ngủ tạm. Đêm đầu tiên là nhà anh chị Giàu, chúng tôi đến lúc mười giờ đêm, anh chị đã đi làm ca tối. Ở nhà chỉ còn ba đứa nhỏ, thằng cu Tèo mới tám tuổi trông coi hai đứa em. Anh chị ở chung cư lầu bốn, tôi thầm nghĩ:  Anh chị nầy gan thật! Để tụi nhỏ ở nhà một mình, nếu lỡ có hỏa hoạn thì chỉ còn nước kêu trời mà thôi!” Apartment nầy chỉ có hai phòng ngủ, ba người trong nhóm chúng tôi phải qua phòng tụi nhỏ, còn bốn người qua phòng anh chị. Hai giờ sáng anh chị đi làm về, vô phòng ngủ bật đèn lên. Tiếng ngáy khò khò của Nhung, Xuân, tiếng mớ ú ớ của con em đã làm anh chị thoáng giật mình, nhưng khi nhận ra có tôi nằm đó ông bà chủ nhà tắt đèn, lặng lẽ ôm gối, mền đi xuống phòng khách nhường cái “Long Sàng” cho chúng tôi. Sáng hôm sau gặp mặt nhau chào hỏi đôi câu và cám ơn rồi chúng tôi tiếp tục lên đường. Giữa đường mở radio thì mới biết được tin ca sĩ Rock and Roll Elvis Presley nổi danh thế giới vừa mới qua đời. Cái chết bất ngờ của anh khiến cho cả nước Mỹ xôn xao, thương tiếc. Nhất là trong giới yêu nhạc, những người ái mộ mang từng cành hoa đến, ngàn vòng hoa chất đống trước ngôi biệt thự của anh. Phen nầy các tiệm bán hoa tha hồ hốt bạc, nghe đâu phải nhập cảng khẩn cấp từ các nước lân cận.

        Xe đến thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts cũng vào ban đêm, chúng tôi cả đám lại phải ngủ tạm nhà anh Dõng, một sinh viên đã từng học ở trường Iowa University và cũng là bạn của anh Thu. Dõng thuê nhà ở chung với vài anh em khác, có người đi học, có người đi làm. Khi chúng tôi sắp đến đã liên lạc trước với Dõng và vào thời gian đó không có ai ở nhà nên Dõng để cửa trống, chúng tôi đến nơi, tìm đúng địa chỉ tự nhiên mở cửa chui vào. Nhà không có đàn bà nên tủ lạnh trống trơn, bếp núc lạnh tanh. Chúng tôi mệt quá, hơn nữa lại lười không ra phố mua thức ăn nên đành ngủ với cái bụng đói meo. Sáng ra, chúng tôi liên lạc được với anh chị Thái ở vùng Worcester. Anh Thái là Trung sĩ Hải Quân đóng ở An Thới, có ba người con. Đứa lớn nhất là em Nguyệt học trò của tôi ngày trước. Nguyệt rất thông minh học giỏi, mà hình như các con của anh chị Thái đứa nào cũng học giỏi cả. Chào vội vàng anh Dõng, chúng tôi kéo sang nhà anh chị Thái ở được hai ngày. Nơi đây anh chị Thái rất tốt bụng, lo chợ búa, nấu nướng cho chúng tôi ăn uống đầy đủ, no nê, còn dẫn chúng tôi đi thăm các thắng cảnh trong khu vực lân cận nữa. Viết tới đây tôi hình dung ra ánh mắt biết cười của anh và gương mặt hiền lành của chị. Em Nguyệt nay chắc đã có chồng, có con, vì sau lần thăm viếng đó chúng tôi đã mất liên lạc với nhau. Bây giờ chỉ còn là hồi ức đẹp về những chặng đường đã qua với những người có tấm lòng tử tế. Chẳng phải riêng gia đình anh chị Thái mà là với tất cả mọi người, thân hữu, bạn bè. Đó là những bông hoa đẹp nở dọc bên lề cuộc sống, cho ta cái hương thơm thoang thoảng, cái cảm giác êm đềm, làm nhẹ đi mớ hành trang mà mỗi con người phải cưu mang trong kiếp đời nhân thế.

        Rời nhà anh chị Thái, chúng tôi chạy thẳng tới New York . Lúc bấy giờ chàng đổi tay lái qua cho anh Thu, vì anh nầy có kinh nghiệm sống ở New York một thời gian. Đường cầu bắc ngang qua khu Brooklyn với dòng xe dầy đặc. Một bên là biển, một bên là cao ốc, buổi chiều hoàng hôn ánh mặt trời vừa lặn thì thành phố lại vừa chợt thức dậy sau một giấc ngủ trưa. Quang cảnh ồn ào, tấp nập, người và xe cứ nối đuôi nhau hòa nhập vào dòng chảy của sinh hoạt về đêm. Ánh đèn màu chớp, tắt, là mạch sống, là sinh lực về khuya của thành phố hoa lệ nầy. Thu lái xe vòng vòng tìm đến phố tàu, bảy người chúng tôi ăn một bữa cơm với các món hải sản thật ngon miệng. Ăn xong chúng tôi tản bộ ra vỉa hè ngắm người qua, lại, mua sắm. Thời gian còn hơn tiếng đồng hồ nữa thì vợ chồng bạn của anh Thu mới tan sở. Đi chán rồi chúng tôi vô xe chạy ngược về hướng Brooklyn, vì nhà anh chị  ở trong khu ấy. Khu nầy quá “nổi tiếng” trong thành phố New York , ngày đó chúng tôi không biết. Nhưng chỉ biết một điều là khi chủ nhà đón tiếp chúng tôi, đưa tất cả vào phòng ngủ. Khi ngọn đèn điện bật lên, trên giường cả trăm con gián chạy tán loạn, anh chị phân trần: “Building nầy cao quá, lớn quá khó mà diệt trừ hết các con gián, nên phải chịu vậy thôi!” Tôi khách sáo, xua tay: “Không sao, không sao! Có chỗ ngủ là tốt rồi, anh chị đừng bận tâm!” Bọn tôi cám ơn rồi tắt đèn leo lên giường. Năm, mười phút sau là cả một đạo quân gián kéo tới, chúng bò khắp thân thể, mặt mày, tay chân không tài nào ngủ được. Tôi ngồi bật dậy, tay ôm thằng con, tựa lưng vào tường ngủ gà, ngủ gật. Nhưng các chị gián cũng đâu có tha, chúng bò lên tường, leo qua tóc rồi chui vô lỗ tai. Thật là khiếp đảm! Con em tôi sợ gián bẩm sinh, vừa thấy gián là mặt mày tái mét, sợ muốn ngất đi được! Thế cho nên chúng tôi mở đèn sáng cả đêm, hễ có ánh sáng thì các nàng gián không dám bò ra. Qua một đêm sống chung với loài gián, ớn quá. Sáng hôm sau chúng tôi dọn đi liền.

        Khi xe chạy ngang qua hai tòa nhà chọc trời World Trade Center là biểu tượng sự phồn vinh, kinh tế giàu mạnh nhất của Hoa Kỳ. Tôi nhanh tay đưa máy ảnh lên chụp mấy “Pô”, ống kính không thu hết được chiều cao của hai tòa building. Hai tháp đôi sừng sững dưới bầu trời trong xanh, ngàn ô cửa kiếng lấp lánh dưới ánh nắng ban mai, chói lọi. Xe lướt nhanh hướng về thành phố Buffalo, bỏ lại sau lưng những tòa cao ốc, những vinh quang hay thành, bại của những con người tài hoa, khoa bảng khi đến New York mong tìm một cơ hội làm giàu hay nổi danh. Tư tưởng đó, ý nghĩ đó sẽ thức hoài với thành phố được mệnh danh “Không Ngủ Về Đêm”.

        Xe chúng tôi vào biên giới Canada, người đàn ông kiểm soát hỏi giấy, chúng tôi trình thẻ I-94 (căn cước tị nạn) ông ta lắc đầu nói: “Mấy tấm giấy nầy ông, bà qua bên Canada được, nhưng khi trở về Mỹ thì không được! Ông bà tính sao?” Chúng tôi muốn qua Canada để gặp em họ của chàng, Thiếu úy Hải Quân Lê Lộc Hiệp. Người đã đi HQ 229, khi đến Subic Bay tôi thấy chiếc tàu đó, vì thế tôi đã nhắn tin tìm Hiệp trên báo Văn Nghệ Tiền Phong nên liên lạc được với Hiệp từ đó, biết Hiệp ở Toronto, nhân cơ hội nầy chúng tôi muốn qua thăm Hiệp luôn. Nhưng khi nghe người kiểm soát bảo thế, chúng tôi đành quay đầu xe trở lại. Cứ tưởng giữa Canada và Mỹ qua, lại dễ dàng, vì thế chúng tôi cứ đi đại. Qua không được thì trở về thăm cảnh đẹp của thác nước Niagara falls. Đứng trên chiếc cầu dài cao mấy trăm feet nhìn lên thấy dòng thác chảy ầm ầm, bắn văng tứ phía, ngó xuống thấy nước xoáy sâu, bung lên trắng xóa. Gần đó có hai, ba chiếc tàu đưa du khách đi ngoạn cảnh, chạy tới chạy lui trong khu vực. Không biết nước từ đâu lênh láng, tràn đầy đổ xuống không phút giây ngừng nghỉ, cũng giống như đời sống, tiếp nối và tiếp nối. Chỉ trừ khi nào có sự biến thiên và dòng thác nầy sẽ ngưng chảy, điều ấy có thể xảy ra không nhỉ? Dĩ nhiên là sẽ có, nhưng phải tính bằng con số triệu, triệu năm!

        Chúng tôi đặt phòng tại khách sạn Holiday Inn, loại khách sạn cũng khá sang. Một phòng hai giường lớn, dồn tất cả bảy người vô. Tắm rửa, nghỉ ngơi, gọi phôn cho Hiệp. Anh em nói chuyện qua phôn, Hiệp muốn ngày mai gặp nhau bên cầu biên giới, điều nầy rất khó, nên chàng của tôi từ chối hẹn lại một dịp khác. Sáng hôm sau chúng tôi trở về thành phố New York lái xe thẳng tới bến phà để qua đảo Ellis chiêm ngưỡng tượng Nữ Thần Tự Do. Đến Buffalo mà không xem thác Niagara falls, đến New York mà không xem tượng Nữ Thần Tự Do là hai điều thiếu sót! Chúng tôi coi mình như dân nhà quê, lâu lâu lên tỉnh thì phải đi xem những cái gì hay ho nhất để có dịp kể lại cho bà con hàng xóm nghe cho vui. Tàu chưa cặp bến đã thấy Tượng Nữ Thần Tự Do đứng uy nghi giữa biển trời xanh ngát. Nhiều du khách từ khắp nơi đổ xô về chiêm ngưỡng biểu tượng tự do mà đất nước Hoa Kỳ đã hy sinh trăm ngàn quân nhân để giải cứu nước Pháp trong trận Đệ Nhị Thế Chiến vừa qua. Nước Pháp đúc tượng đồng cao mấy chục mét, chở từ Pháp qua từng phần, ráp lại rồi đặt bà trên hòn đảo nhỏ. Mặt hướng vào đại lục Hoa kỳ, tay cầm đuốc giơ cao trông đẹp đẽ vô cùng. Tuy nhiên tôi có điều thắc mắc, tại sao không đúc tượng đàn ông mà lại đúc tượng đàn bà? Tại sao chính phủ Hoa Kỳ không đặt tượng trong đất liền, nơi thành phố cạnh bờ biển để mọi du khách có thể đến chiêm ngưỡng thì tiện lợi hơn. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng mỗi việc làm của họ đều có ý nghĩa riêng,  có lý do riêng ai mà biết được! Ở New York thêm mấy hôm nữa, đi xem vài thắng cảnh khác, tiền sắp cạn túi, chúng tôi leo lên xe chạy về Iowa. Dọc đường chúng tôi ghé thành phố Cincinnati tiểu bang Ohio thăm gia đình bác Nhữ, hai bác là người miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 bằng "tàu há mồm" Bác trai là cảnh sát, có thời gian sống ở Vĩnh Điện, Điện Bàn, Quảng Nam. Hai bác có tới chín người con, đứa con trưởng là anh Vượng, kế đến là cô Ngát, cô Thơm, chú Mạnh, chú Tài và còn một số cô, chú khác nữa. Cô Thơm lấy chồng Mỹ nên cả nhà được bốc đi trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ kẹt lại một người con tên Trung.

        Anh Vượng là trung úy bộ binh bạn rất thân với chàng của tôi, hai người quen biết nhau khi còn học ở bậc trung học. Tôi nghe chàng kể có lần hai người đạp xe đạp đi học từ Vĩnh Điện đến Hội An, giữa đường gặp trận mưa thật lớn. Ngay lúc đó xe đang lên dốc, sức gió quá mạnh, anh Vượng là người nhỏ thó, ốm yếu nên không thể nào đạp nổi. Anh bật khóc, xuống dắt xe đi bộ, nhưng ngặt một nổi đường càng lúc càng dốc, mưa càng lúc càng lớn. Chiếc áo tơi tẩm đầy nước càng thêm nặng nề, anh té lên, té xuống năm lần, bảy lượt, chiếc xe đạp cũng té theo anh luôn. Anh Vượng là người anh cả, có tấm lòng rộng lượng, khiêm tốn, cái gì cũng nhường hết cho các em. Từ thể tạng luôn cả tính khôi hài. Tuy nhiên anh rất tốt với bạn bè, đời sống đạo đức, nặng phần tâm linh nhưng tính hay lo xa, dễ mũi lòng, dễ xúc động. Chị Vượng vợ anh cũng thế, tính tình hiền hậu, đẹp nết, đẹp người. Các em của anh cô nào cũng xinh, chú nào cũng đô, ngoài trừ chú Mạnh. Nói tóm lại, cả gia đình người nào người nấy rất dễ mến, tính tình tiếu lâm,vui vẻ. Các bạn đang có chuyện buồn mà gặp các cô, các chú nầy nỗi buồn không cánh cũng phải bay đi, chỉ còn lại tiếng cười mà thôi. Thời đó chàng của tôi có thêm hai người bạn nữa, đó là anh Đỗ Bá và anh Phạm Để học cùng trường với chàng, cùng lớp với anh Vũ Vượng nhà ta. Đặc biệt là Đỗ Bá rất thông minh lại giỏi toán, thường xuyên đến nhà anh Vượng chơi, Bá đã để ý đến cô Ngát. Lúc ấy cô Ngát tuổi mới đôi tám, con gái Bắc Kỳ mà, ăn nói duyên dáng, con người đẹp đẽ nên Bá đã đem lòng yêu thương Ngát. Khi đậu tú tài, Bá ghi danh học Võ Bị Đà Lạt, sau mấy năm thụ huấn vừa ra trường Bá xông vào cuộc chiến ngay. Một tháng sau “Anh trở về trên chiếc băng ca, anh trở về hòm gỗ cài hoa…” Bá đã tử trận giữa lúc tuổi đời còn quá trẻ và cô Ngát từ đó đã âm thầm sống với mối tình đầu thiên thu không đoạn kết.

        Về phần anh Để thì con người nầy “quậy” hơn, tính tình nghịch ngơm, phá phách, đã bị Chúa chê, Phật chạy nên đày ải trăm năm ở thế gian nầy, chứ về trên ấy ai mà chịu cho nổi! Anh là đại úy bộ binh, sau cuộc chiến anh bị đi tù, qua Mỹ theo diện H.O. Bây giờ anh ta siêng năng chở vợ đi chùa, đi tụng kinh hộ niệm vào những ngày cuối tuần hầu nhẹ phần nào cái tội “quậy” của mình ngày trước. Nhắc về thời đã qua, khiến ai cũng thấy nhớ, các anh bây giờ ai cũng có vợ có con, nhớ lại thời tuổi nhỏ, thuở hàn vi các anh đều xúc động. Là học sinh nghèo xa nhà, trọ học ở Đà Nẵng, số tiền cung cấp của gia đình chẳng đủ vào đâu. Bữa đói, bữa no, bữa dưa cà, rau cháo. Các anh phải đi dạy kèm ở các tư gia hầu có tiền xài vặt, ăn uống đầy đủ hơn và mua thêm sách, vở. Chàng của tôi cũng thế, chàng kèm cho một gia đình khá giả có hai cô con gái đang học bậc tiểu học. Đối diện bên kia là ngôi nhà lầu, có một người đẹp chiều chiều thường hay ngồi trên ban-công ngó sang. Mái tóc xõa dài, gương mặt trắng như bông, nàng ngồi dưới giàn hoa giấy màu hồng xác pháo như màu áo cô dâu. Chàng của tôi ngày xưa chắc đẹp trai lắm, vì bây giờ có nhiều người nói chàng trông giống như Tần Hán thường đóng phim với người đẹp Lưu Tuyết Hoa. Người con gái kia cứ “canh me”, chiều nào cũng ngồi trên lầu hoa nhìn xuống, nàng thả một sợi dây dài, cuối cùng nàng đã câu được anh học trò nghèo, chưa tương lai, sự nghiệp nhưng lại giầu tình cảm gái trai. Họ quen nhau suốt mấy năm, nhưng cuối cùng chàng đành để “con sáo sang sông”. Người ta đi lấy chồng, chàng không một lời ngăn cản. Đêm cuối cùng trước khi lên xe bông, nàng hẹn chàng nơi bến sông Hàn, Đà Nẵng. Nàng gục đầu vào vai chàng khóc mùi, khóc mẩn, chàng vội vàng lấy khăn lau nước mắt và hát ru nàng bằng bài “Sang Ngang” của Đỗ Lễ: “Thôi nín đi em, đừng khóc làm gì, buồn cũng thế thôi! Mai bước sang ngang lòng thêm nát tan, tình đã dở dang…” và chàng ngâm nốt bài thơ “Tiển Em” của Cung Trầm Tưởng: “Lên xe tiển em đi, chưa bao giờ buồn thế!..” Ngày đó tôi không biết chàng có để rớt giọt nước mắt nào không, nhưng tôi biết chắc chắn rằng lòng của chàng dù có lạnh cũng lạnh cỡ nước sông Hàn mà thôi phải không chàng của tôi?  Sự chia tay với người chàng yêu là một bí mật bao trùm. Sau nầy tôi có nhận hai lá thư đòi nợ tình với chàng. Bây giờ chàng phải tính sao đây? Nợ tiền thì tôi có thể thay chàng trả giùm, còn nợ tình thì đành chịu thua, tự chàng giải quyết phải không thưa các bạn? Tôi nghĩ chàng của tôi ngày xưa cũng “quậy” lắm, vì là lính hải quân mà  “Mỗi bến nước là một bến tình”. Tôi là người thứ mấy của chàng rồi chứ chẳng phải chơi đâu. Thôi thì cứ nghĩ: “Ở đời muôn sự của chung. Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi” Hoặc là “Hôm nay là của ta. Ngày mai biết của ai? Tình yêu trong thiên hạ. Nắm hoài cũng mỏi tay!”

        Sau chuyến đi chơi qua nhiều tiểu bang, thăm bạn bè, thân hữu. Chơi đã rồi chàng trở về ghi danh đi học Electronic Technician tại trường Hawkeye Institute of Technology ở Waterloo. Học thì đại khái, cuối tuần hễ bạn bè rủ đi đâu thì chàng đi đó, dĩ nhiên là phải có tôi nữa chứ. Chúng tôi làm một chuyến đi lên Milwaukee, tiểu bang Wisconsin ghé thăm nữ ca sĩ Phương Hồng Hạnh, vì bạn của tôi là anh Lý Mỹ Quang rất thân với vợ chồng ca sĩ. Ngủ qua một đêm sáng phải quay trở về, vì thằng con bị sốt cao. Vừa ra khỏi thành phố cháu bị làm kinh mắt trợn ngược, hai hàm răng nghiến thật chặt, tôi vội cho ba ngón tay vào miệng để cháu không bị cắn vào lưỡi. Tôi khấn Trời, khấn Phật, khấn Chúa loạn lên, chỉ sợ thằng nhỏ nó chết dọc đường. Chàng của tôi tống hết ga, quay đầu xe ngược lại giữa xa lộ, chàng thầm cầu nguyện Phật, Trời xin cứu mạng thằng con, chàng sẽ ăn chay một tháng. Phố lạ chúng tôi không biết nhà thương nằm ở đâu, đường nào, đành phải trở lại nhà Phương Hồng Hạnh nhờ anh Tâm, chồng của chị chỉ đường giùm.

        Đến nhà thương vào thẳng phòng cấp cứu, tôi giao thằng nhỏ cho y tá trực, cô ấy bồng con tôi đi mất. Một chặp sau có mấy người bác sĩ bước ra, hỏi chúng tôi tại sao trên lưng thằng nhỏ có nhiều vết bầm và dầu mà tôi xức lên người thằng bé nghe mùi lạ thế! Dầu đó mua từ đâu? Có được cơ quan FDA kiểm chứng chưa? Một đống câu hỏi cần phải được trả lời, kẻo không thì nhiều rắc rối. Lúc đó mới đến Mỹ, dù có học anh văn nhưng nói đâu được thạo. May nhờ có anh Quang, khi ở Việt Nam anh làm việc cho tòa đại sứ Mỹ tại Saigon. Anh Quang giải thích cặn kẽ: “Những vết bầm đó là do cạo gió mà ra, còn chai dầu kia là thứ dầu xanh Con Ó Sản xuất tại Singapor trị được nhiều thứ bệnh ngoài da, thời khí, phong hàn .v. v.. Đây là tập tục, văn hóa, đời sống của chúng tôi đó thưa các ngài!” Thế là chúng tôi thoát nạn, hú hồn, hú vía. Nước Mỹ thật là coi trọng mạng sống con người. Con tôi nằm nhà thương gần bốn ngày thì xuất viện. Trên đường về Iowa, tôi nhắc nhở chàng: “Phải nhớ ăn chay đó nghe!” Gần ba chục năm sau chàng mới trả xong cái nợ nần ấy. Nhưng không phải ăn một lèo đâu thưa các bạn, chàng cứ ăn chay góp, giống như người ta trả góp nợ nhà, nợ xe vậy mà. Thật ra tôi thấy ăn như vậy không đúng nên trách chàng, chàng cười bào chữa: “Thần, Thánh, Phật, Trời ai mà bắt tội, có trả là tốt lắm rồi…  Thật là khéo ngụy biện!Tôi không đồng ý như vậy.

        Thời gian sau nầy chàng vừa học, “vừa làm”, Nhưng không làm ở hãng tiện để sản xuất hàng nữa, mà chàng làm ở nhà để sản xuất baby. Cuối mùa đông năm ấy tôi sinh cho chàng đứa con trai thứ hai. Máy khoan chàng thấy nguy hiểm quá, bây giờ chàng dùng máy đúc, đúc ra một thằng con giống y hệt như chàng! Thằng nhỏ vừa ăn đầy tháng, chúng tôi lại nhận được tin vui, cô Hoa Thị Nhung sắp sửa lên xe bông về nhà chồng. Nhung là người con gái hoạt bát, hiền hòa, dễ thương, là người em kết nghĩa của tôi. Nhung có một cậu em trai và một người chị gái đã lập gia đình. Ba mẹ còn đầy đủ nhưng vì đã có tuổi nên việc trang trí bàn thờ gia tiên, lo lư hương, chân đèn phải nhờ đến chàng của tôi, vì anh ấy khéo tay. Nhất là hai câu liễn chúc mừng đám cưới phải cắt theo mẫu chữ in hoa nằm trong ô tròn trông thật đẹp mắt, trông thật điệu nghệ. Chú rể Lê Thiện Chín là người Quảng Nam, đang học ngành kỹ sư điện tại trường University Of Northern  Iowa.  Ra đi vào giờ thứ 25, lúc ấy vừa mới tốt nghiệp khóa Sĩ Quan Hải Quân thì miền Nam bị “đứt bóng”. Chàng ra đi một mình, đến đây gặp các anh em khác đã từng là lính trẻ nên họ dễ dàng kết thân với nhau. Họ ở nội trú trong trường, mỗi khi Tết nhất, lễ lạc dân tị nạn có tổ chức bất cứ cuộc vui nào thì các anh, em sinh viên đều tham dự. Thời đó gái thiếu, trai thừa nên các cô thật có giá. Chàng rể nầy quá nhanh tay, lẹ mắt, gặp cô em gái tôi thì đã chụp ngay, khiến các chàng khác phải ngẩn ngơ, tiếc hùi hụi… anh nào cũng là kỹ sư sắp ra trường, tương lai đầy hứa hẹn! “Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt; Xếp kiếm, cung theo việc bút nghiên.” Thời chiến nó khác, còn thời mất nước phải đổi câu trên là như thế! Đúng không các bạn? Chỉ còn một năm nữa chú rể sẽ ra trường với bằng cấp kỹ sư thì công việc cũng dễ tìm mà lương rất khá tha hồ nuôi vợ, nuôi con. Cô em kết nghĩa của tôi thật là khéo chọn.

        Một số bạn bè lăng xăng, háo hức chờ ngày cưới của người ta mà mình lại cảm thấy nôn. Kẻ may áo, người may quần, các chị phụ nữ tới thành phố Fort Dodge tìm thợ may người Việt, may cho bằng được chiếc áo dài để mặc lấy le, hay nói đúng hơn phải giữ truyền thống dù đang sống trên xứ người. Fort Dodge cách Waterloo cũng khá xa, lái xe gần hai tiếng đồng hồ. Người thì bỏ chồng ở nhà, kẻ thì bỏ con nên cả đám hối thúc chàng của tôi lái xe thật nhanh, nếu không sẽ bị con khóc, chồng rầy! Đêm tối như mực, chàng xả hết tốc độ trên freeway. Chợt có tiếng còi ré lên, một chiếc xe cảnh sát rượt theo, rồi hai chiếc xe cảnh sát rượt theo, ra hiệu cho chàng tấp vô lề. Chị cảnh sát bước tới gõ vào kiếng xe, chàng tôi quay kiếng xuống, chị ta nói: “You drive over speed limit, don’t you know?” Chàng của tôi xoa mặt, vuốt tóc rồi cười cầu tài: “I don’t know, i am so sorry!” Mấy chị cảnh sát cũng lịch sự lắm, nhìn vô xe thấy toàn đàn bà, ngoại trừ chàng. Sau khi nghe chúng tôi ca bài ca “Con cá” và trình bày cớ sự nên họ tha, không đưa giấy phạt, thật là may mắn quá chừng! Cám ơn Trời, Phật! Không phải, cám ơn mấy chị cảnh sát mới đúng chứ! Thân tị nạn ví như kiếp lục bình trôi, trôi tới đâu thì trổ bông tới đó. Chàng của tôi đã hoàn tất chương trình học, chuẩn bị kiếm việc làm, mới ra trường may sao lại có nơi thuê mướn. Chàng làm cho hãng bán và sửa TV Magnavox. Cứ tưởng sẽ sống ở nơi nầy thêm một thời gian nữa nhưng vì thời tiết quá giá buốt nên đã có một số gia đình dọn đi, tìm về vùng đất ấm hoặc những thành phố đông người Việt hơn. Chúng tôi là gia đình thứ năm nối gót theo bạn bè sau hơn ba năm chống chọi với cái lạnh cắt da. Trước khi rời Waterloo, chúng tôi làm một chuyến lên thăm hồ Michigan, đồng thời thăm luôn gia đình cô Huỳnh Thu Lan, chồng cô là dượng Lý Văn Hạnh cựu trung úy bộ binh, cô cũng là người cô họ của tôi. Vì được tin cô vừa bảo lãnh vợ chồng anh Trần Quang Hà cựu giáo sư trường trung học Phú Quốc cũng là anh em cô cậu với tôi từ trại tị nạn Thái Lan sang. Mấy năm trước khi còn ở trại, anh chị có viết thư thăm chúng tôi. Trong thư hồi âm, tôi có gởi thử hai mươi đô la kẹp giữa hai tấm hình dán kín lại, thế mà số tiền ấy anh chị đã nhận được. Thời ấy nhân viên bưu điện Thái Lan hay lục lạo thư từ của người tị nạn ở khắp nơi gởi về trại, nếu thấy có tiền mặt thì họ bóc ra lấy mất luôn. Thân nhân, bằng hữu của mình sẽ trở thành con hươu cao cổ, cứ đứng đó mà ngóng! Bụng dạ đói meo vì ít ai dám gởi tiền mặt nữa. Còn nếu gởi bằng ngân phiếu thì khi đi lãnh rất khó khăn, phức tạp. Tôi ngụy trang cách ấy mà lại thành công, sau nầy chỉ mánh cho một số bạn bè, vậy mà qua mặt hầu hết các ông bưu điện Thái Lan. Người Việt mình vốn có óc tính toán nên mới được sinh tồn cho tới ngày hôm nay.

        Giữa đường đi Michigan chúng tôi gặp một trận mưa lớn chưa từng thấy trong đời, tất cả xe cộ không di chuyển được phải đậu hết bên lề. Trước mặt là màn nước trắng xóa, dù xe có mở đèn nhưng chẳng thấy được gì. Mất gần hai tiếng đồng hồ, trận mưa lớn mới chấm dứt, chúng tôi đến nơi vừa đúng buổi cơm chiều. Sau phút giây cô cháu, anh em mừng nhau, chúng tôi ngồi vào bàn. Bữa ăn gia đình không thịnh soạn, nhưng rất hợp khẩu, chúng tôi ăn sạch sành sanh. Chắc có lẽ vì trận mưa to đã làm chúng tôi đói quá nên cứ bành bụng ra mà ăn cho đã. Sau khi ăn xong thì nói, ôi thôi đủ thứ chuyện để nhắc. Nào là chuyện quê nhà, ai đi, ai ở, rồi đến chuyện cực khổ trong trại tị nạn. Rồi đến chuyện quê người, cái gì cũng mới, cái gì cũng lạ…

        Sáng hôm sau cô dượng Thu Lan, vợ chồng anh Hà và chúng tôi đảo một vòng đến thăm bờ hồ Michigan. Gọi nó là Ngũ Đại Hồ quả thật không sai chút nào hết, có năm phần hồ lớn dính vào năm tiểu bang, tiểu bang Michigan được hồ lấn sâu vào nhiều nhất, vì thế người ta cũng gọi nó là hồ Michigan . Đứng trong bờ nhìn ra thấy như một đại dương mênh mông, nước liền nước, trời liền trời. Từng đoàn tàu, ghe ra vào tấp nập, có cả những chiếc du thuyền loại nhỏ màu sắc sặc sỡ. Cánh buồm no gió căng phồng chạy tới, chạy lui trên mặt nước cho ta cái cảm giác mát mẻ, thư dãn cả tâm hồn. Từng ngọn sóng nhấp nhô theo cơn gió lăn tăn chạy sát vào bờ, khiến cho tôi nhớ quê hương Phú Quốc của mình quá chừng. Một lần ra đi coi như là vĩnh biệt, biết đến bao giờ mới được trở về cố hương đây? Vài cánh chim hải âu là đà trên mặt nước để săn mồi. Đôi lúc chúng lại bay theo sau các tàu, ghe, tiếng kêu quang quác, cánh đập vào nhau. Con nầy vừa gắp được miếng mồi bay lên thì con khác lại sấn tới, như muốn giành giật miếng ăn. Hai con mổ nhau, miếng mồi rớt xuống, con khác lao nhanh đớp được bay về một hướng. Có lẽ nó đang cười thầm cho cái dại của hai con kia. Loài người cũng thế, vì miếng ăn mà hay tranh, giành, cuối cùng kẻ thứ ba luôn luôn đắc lợi.

        Cuối tháng mười năm 1978 trước đó mấy ngày chúng tôi gom tất cả đồ đạc trong nhà ra trước sân đề bảng “Moving sale” to tổ bố. Từ những chậu cây indoor plants cùng với các máy móc tivi, stereo, son nồi, chén chảo, dao, kéo, áo quần, giá nào cũng bán. Cuối cùng cũng thâu lượm được ba, bốn trăm đô đủ tiền ăn, ngủ, xăng nhớt dọc đường. Hành trình dài hơn hai ngàn dặm, sau buổi tiệc chia tay của tối hôm trước, ai cũng buồn buồn, ai cũng rơm rớm nước mắt. Dù sống với nhau mới hơn ba năm mà hình như tình cảm thật thân thiết, đậm đà, gắn bó vì chúng tôi có chung một hoạn nạn, tai ương, một kiếp đời lưu lạc, tha hương, viễn xứ.

                                                Hình ảnh kỷ niệm khó quên


      G.Đ Tg. và các bạn tại Niagara Fall.  Tg.và cô Thu Lan tại hồ Michigan
                                                                                            

                     
Anh Phạm Bá Để và chàng của tôi.    Tg.và tượng sư tử ở Chicago

Tg.HHD-cô Thu Lan- anh chị Phụng Hà.          Anh Vũ Văn Vương




Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét