Thứ Hai, 29 tháng 1, 2018

Tự Truyện Kiếp Lục Bình - Chương 8: Tiền Mất Tật Mang


Chương Tám 

TIỀN MẤT TẬT MANG

          Như tôi đã từng nói, mỗi lần dọn nhà dời chỗ ở là chúng tôi tăng thêm nhân khẩu. Hai tháng sau tôi lại mang bầu, kỳ nầy Phật Bà thương tình ngài ban cho một đứa con gái, chị Hương bạn tôi là vợ của Bác sĩ Bùi Hữu Hồng đã nằm mơ thấy như vậy mà đúng thiệt, các bạn thấy có linh không? Sau khi sanh con được sáu tháng, nhìn gương mặt trắng trẻo, bầu bĩnh của con lòng tôi se lại. Dù lúc bấy giờ mắt trái của tôi đã như màn sương chấn ngang, tôi chỉ còn mắt phải để nhìn sự vật, tôi luôn phập phồng lo sợ, nếu rũi một ngày nào đó trước mặt chỉ còn là màu đen, không còn nhìn thấy được gương mặt ngây thơ của đứa con gái mới vừa ra đời là một điều đau khổ nhất, rồi đây ai lo chăm sóc cháu trong lúc tuổi quá còn ấu thơ. Vì thế khi nghe báo quảng cáo ông thầy dạy võ Bảo Truyền cũng có thể chữa được nhiều căn bệnh nan y, nên tôi tìm đến ông ta. Lúc bấy giờ tôi không còn lái xe được nữa, chàng của tôi ban ngày thì phải đi làm kiếm cơm, tôi chỉ còn biết nhờ chị Nguyễn Thị Ái vợ của cựu Đại úy Hải Quân Nguyễn Văn Sáu, là chị bạn rất hiền lành, dễ mến rất thân thiết với tôi suốt mấy chục năm nay. Anh Sáu cũng thế, con người hoạt bát, am tường nhiều thứ chuyện trên đời, có trí nhớ dai, dễ dãi, tốt với tất cả mọi người, nhưng lại khó khăn với vợ, con. Nhờ thế mà các con anh chị đã học thành tài như bác sĩ, nha sĩ, luật sư. Chị Sáu thấy hoàn cảnh của tôi nên tự nguyện giúp đỡ như làm “tài xế” và “babysit” cho con tôi trong thời gian đó.

          Lần đầu tiên gặp thầy Bảo Truyền và gặp luôn bà vợ trẻ, tôi nói rõ bệnh tình của mình là đã từng đi chữa trị nhiều nơi, bây giờ mới tới đây, ông nhắm có giúp được gì không? Ông suy nghĩ một lúc rồi đồng ý, ông chữa bằng “Nội Công Tâm Pháp” (Bài dạy về cách luyện tập thân thể cho khỏe mạnh, ăn được, ngủ được). Cách thứ nhì là bấm huyệt đạo để chữa bệnh. Ông đặt điều kiện phải đưa tiền mặt hai ngàn năm trăm Mỹ kim đóng liền cho hai mươi giờ chữa bệnh, mỗi tuần lễ tôi đến ba lần, mỗi lần bốn mươi lăm phút, cô vợ hướng dẫn bệnh nhân quơ tay, quơ chân, xoay qua, xoay lại và sau đó bệnh nhân tự tập. Tập như vậy cũng mất hơn ba mươi phút, phần ông chỉ dành cho bệnh nhân từ mười tới mười lăm phút để làm cái công việc: Rờ, xoa, nắn, bóp các huyệt đạo trong cơ thể của bệnh nhân. Thời đó ở dưới miền Nam cali có đăng báo cách “kiếm tiền” nầy của ông, nhưng tôi là người mang bệnh, chỉ tìm cơ hội may ra mình sẽ hết bệnh, nên cũng phải liều một phen. Đến nơi rồi mới biết, mới chứng kiến nhiều chuyện rất thương tâm, rất bất nhẫn! Có nhiều bệnh nhân đến với ông để tham khảo, hỏi xem coi bệnh nầy ông thầy có chữa lành được không? Bệnh nào theo tôi thấy thì ông cũng nhận tuốt luốt! Có cậu bé khoảng chín, mười tuổi hồi còn nhỏ bị té vào thùng nước sôi, tay chân bị rút hết đi đứng không được, xem qua ông có vẻ ngần ngừ, nhưng nghe bà vợ nói mấy câu ông cũng nhận chữa trị luôn. Ở đây tôi thấy họ làm việc rất kỹ lưỡng, không để lộ bất cứ cái gì để mình thưa kiện, nhất là chỉ nhận tiền mặt. Hơn nữa không được ghi chép bất cứ thứ gì ngay cả những bài tập luyện. Tôi có đề nghị xin ghi xuống giấy để tôi mang về nhà học cho dễ nhớ, họ lạnh lùng trả lời:“Không được!” Khi còn một ngày là đủ số tiền hai ngàn rưỡi, ông đề nghị đóng tiền thêm một đợt chữa trị nữa. Tôi vội từ chối ngay vì thấy rằng trong thời gian qua, lối chữa trị của ông không đem đến một kết quả nào, cho dù còn một giờ chữa trị nhưng tôi bỏ luôn, không đến với ông nữa vì chợt nhớ trong lần đầu gặp ông, ông nắm tay, rờ đầu. Ông phê một câu chắc nịch: “Trong vòng năm năm, tay chân của bà sẽ bị co rút lại hết, vì tôi thấy thịt, da bà chắc quá!” Từ câu nói đó, tôi đâm ra sợ, nếu mình không còn là “con gà đẻ trứng vàng” cho ông nữa, rũi mà ông giận thì nguy to, ai biết được chuyện gì xảy ra! Thế nên tôi chấm dứt từ đó. Tính đến nay hơn hai mươi năm mà câu chuyện “rút tay, rút chân” vẫn chưa xuất hiện, nên tôi còn ngồi đây viết bài để các bạn đọc, các thân hữu hiểu rõ thêm hoàn cảnh thân phận, cuộc đời của tôi. Sau khi mất hai ngàn năm trăm Mỹ kim cho thầy Bảo Truyền, tôi nghỉ xả hơi ba tháng.

          Phong trào chữa bệnh bằng nhân điện của thầy Lương Minh Đáng nổi lên, ai cũng ùn ùn tìm thầy chữa bệnh. Bệnh nhức đầu, chóng mặt, đau lưng, phong thấp, thứ nào cũng chữa. Tiền bạc thì ai muốn cho bao nhiêu cũng được! Làm phước mà. Tôi nhớ hình như thầy có thuê một văn phòng nhỏ để làm công việc nầy. Nhưng khi tôi biết được, thì cũng vừa lúc thấy đã quá trễ. Thầy vừa trở lại Orange County, tôi được trực tiếp nói chuyện qua điện thoại với thầy và kể bệnh tình của mình đã chạy chữa nhiều nơi nhưng vẫn không có kết quả. Thầy cười trấn an: “Cô đừng lo, gặp tôi là xong ngay! Chỉ cần ba hôm thôi là cô sẽ sáng mắt”. Tôi nghe thế trong lòng mừng lắm, thầm nghĩ: “Chắc phen nầy mình gặp đúng thầy, đúng thuốc rồi”.

           Tôi và cô em họ dắt theo đứa con gái của nó chưa đầy hai tuổi bay xuống Orange County. Tôi gọi taxi chạy thẳng về khách sạn Travel Lodge ở đường Brookhurst. Mỗi ngày thầy Lương Minh Đáng đến thẳng phòng trọ chữa cho tôi vào buổi sáng. Tôi hồi hộp và hồi hộp đợi chờ ngày thứ ba, vì ngày thứ hai đã qua, sáng ngày thứ ba lại tới, chẳng thấy động tĩnh gì. Cuối đường hầm vẫn còn tối đen chưa lóe lên một đốm sáng nào cả. Bảy ngày trôi qua, tôi có hơi thất vọng, mất niềm tin nhưng cố ở lại thêm bảy ngày nữa, mong thầy Đáng dốc toàn năng lực tung ra chiêu cuối cùng. Cách chữa trị của thầy cũng giống ông Bảo Truyền, ấn, xoa, nắn, bóp sau lưng và trước mặt, hai bên thái dương và vùng mắt. Trong lúc đó đã mười ngày trôi qua, tôi thấy tình hình chưa khả quan nên đánh bạo hỏi thầy: “Thưa thầy, thầy đã từng nói nội trong ba ngày mắt tôi sẽ được sáng lại, sao bây giờ vẫn chưa thấy gì?” Ông trả lời theo kiểu huề vốn: “Tôi nói để tạo niềm tin cho cô, chứ nếu ba ngày mà chữa sáng mắt, thì cặp mắt của cô có nước nổ tung”. Một ông thầy thuốc trả lời với bệnh nhân kiểu như vậy làm tôi quá đau lòng. Tuy nhiên vẫn cám ơn thầy đã bỏ công, bỏ thời giờ đến tận nơi, tận chỗ chữa trị cho tôi, hơn nữa bạn của ông là vợ chồng Luật sư Thanh rất tốt bụng. Trong thời gian tôi ở khách sạn, thỉnh thoảng chị Thanh có nấu món nầy, món kia mang đến tận nơi cho tôi ăn. Ngay cả ngày cuối, tôi mời họ tới tiệm phở 79 ăn một bữa để chia tay, anh chị cũng giành trả tiền và lái xe đưa chúng tôi ra phi trường. Một chuyến đi ăn, ở tốn mấy ngàn, tiền mất nhưng tật vẫn mang!

          Tuy nhiên có một chuyện khiến chị em tôi nhớ hoài trong chuyến đi đó. Còn mấy ngày là phải trở về San Jose, sau khi thầy Đáng đến chữa bệnh vào buổi sáng, thời giờ còn rảnh rỗi, chị em tôi rủ nhau đi ra khu Phước Lộc Thọ. Hỏi thăm người ở đó, họ chỉ đường, chúng tôi tà tà đi bộ, dắt theo con bé. Đi một chặp nó mỏi chân đòi ẵm. Tôi đi một chặp cũng đã mỏi chân, biết lấy ai ẵm đây? Phải chi có chàng, chắc chàng phải cõng tôi trên lưng rồi đó! Các bạn đừng cười nghe! Ngày xưa tôi gầy gò, ốm yếu lắm, chứ không giống như bây giờ đâu, chàng dư sức ẵm tôi lên lầu. Đi thêm một lúc nữa thì mới tới góc đường Bolsa. Giữa trưa trời nắng chang chang, hai chị em đi như hai mụ điên, đôi chân thì đã bị phồng, bởi vì mang đôi giầy mới mua mà lại cao gót nữa. Cởi giầy ra đi chân trần thì không chịu nổi sức nóng của nền xi-măng nên chúng tôi trong tình trạng “tiến thối lưỡng nan”. Cô em vì mê sắm đồ tại khu Phước Lộc Thọ nên nó nhất quyết phải tiến tới. Tôi lại phải “hành hạ” đôi chân của mình, ráng lết tới nơi, tới chỗ. Xa xa thấy tượng ba ông đứng ngay cổng vào tôi mừng quá, tự bản thân cũng tăng thêm sức lực, bước chân nhanh hơn, mạnh mẽ hơn. Chiếc ghế dài còn chỗ trống, hai chị em tôi xà tới ngồi thở dốc. Năm phút sau bớt mệt, cô em đi mua cho tôi một ly nước mía, tôi nốc một hơi gần phân nửa, cảm giác còn hơn người đi lạc trong sa mạc mấy ngày, bây giờ đã gặp được dòng nước mát. Ngoài cái mát ra tôi còn được thưởng thức hương vị ngọt lịm của ly nước mía quê hương ngày nào. Tôi bảo cô em: “Dì mày dắt cháu Hà đi vòng vòng, muốn mua sắm gì cứ mua, chị đi không nổi nữa phải ngồi ở đây đợi”. Hơn ba giờ chiều người qua lại, ra vô cũng thưa thớt, tôi ngồi nghỉ xả hơi một lúc và thiếp đi hồi nào không hay.

          Chợt nghe có tiếng gọi: “Chị Năm, đi với em vào trong tiệm vàng nầy coi”. Ở khu Phước Lộc Thọ nầy thì nhiều tiệm vàng lắm, nghe nói vàng thì tôi sáng mắt. Các bạn biết mà, ông bà mình có câu: “Lấy vàng thử đàn bà, lấy đàn bà thử đàn ông!” Thật ra tôi thích nữ trang chứ không phải thích vàng, nhất là có thêm cái hột lóng la, lóng lánh mới hấp dẫn được tôi. Hai chị em đi hết một vòng chữ U, ngắm nghía cho đã rồi ngồi trước tủ kính bán toàn cẩm thạch. Cô em tôi nó mê tít thò lò, nào là nhẫn, bông tai, mặt dây chuyền đồng điếu, yên ngựa, trái cà, trái tim, ôi thôi đủ thứ. Nhất là các vòng đeo tay màu xanh lý, xanh lục, xanh vỏ đậu v.v.. và v.v… Hai chị em tôi đang trầm trồ, chợt có người khách bước vào, ông ta tuổi độ trung niên, ăn mặc bảnh bao, lịch sự. Tướng tá ngon lành, mang giầy tennis trắng, quần jean trắng và áo Polo. Hình như khách quen của cô chủ, qua cách nói chuyện tôi đoán như vậy! Giữa lúc ấy có hai bà khách bước vào, nói chuyện với cô chủ thành ra ông ta lại tấp qua chị em tôi:

          - Sao, người đẹp lựa được món nào chưa?

          Cô em tôi trả lời:

          - Coi thôi chú ơi, tiền đâu mà mua, vòng nào vòng nấy tới mấy nghìn đô…

          Anh ta bắt đầu tán tỉnh:

          - Không sao, cứ mua đi sẽ có người trả tiền!

          Anh ta quay sang tôi rồi nói:    

          - Nhất là cô nầy! Hình như các cô không phải là người ở đây, đúng không?  

          Cô em tôi quá thật thà:                                

          - Sao chú biết?     

          Cô em định chụp lấy cơ hội, nói rõ hoàn cảnh để nhờ anh ta đưa về, nhưng tôi nháy mắt và lườm cô ấy bảo hãy ngưng ngay, đừng tiết lộ thêm điều gì nữa! Không nên tin tưởng người lạ xa nên tôi trả lời:                           

          - Vâng, chúng tôi ở tiểu bang khác về thăm người chị.

          Khi trả lời câu nầy tôi mới có dịp nhìn kỹ vào gương mặt người đàn ông kia, thấy có nét quen quen, hình như đã gặp ở đâu! Nhưng nhất thời thì không nhớ ra được. Thêm vài người khách bước vô tiệm, tiếng anh ta chào cô chủ:  

          - Thôi, anh Cường về nhé! Bữa khác anh ghé. Cô chủ nói vói theo:

          - Vâng, cám ơn anh.

          Lúc ấy tôi mới chợt nhớ ra:

          - Ồ, đúng rồi, đây là ca, nghệ sĩ Hùng Cường!

          Tôi cũng chưa chắc lắm liền quay qua hỏi cô chủ:

          - Cô ơi, cái anh vừa rồi có phải là ca sĩ Hùng Cường không?                               

          Cô gái gật đầu. Con em tôi cằn nhằn:

          - Đó chị thấy không, gặp người tốt mà lại là ca sĩ nữa, nói chuyện một chặp, mình nhờ thế nào chú cũng đưa mình về. 

          Tôi nói với cô em:

          - Chị bị một lần rồi, sợ lắm, Phải đề phòng thôi!

          Số là trước năm 1975, mùa hè chúng tôi thường lên Sàigòn chơi, thăm má và người cậu. Má tôi thường chở nước mắm từ Phú Quốc lên rồi phân phối cho các cửa tiệm bán lẻ, nên bà thường xuyên có mặt ở Sàigòn. Buổi tối đó, sau khi cơm nước xong, cậu tôi chở mẹ con tôi ra bến Bạch Đằng hóng gió. Nơi công viên có cái bùng binh nước, tôi thấy càng lúc người càng đông. Họ đến đây tìm phút giây thư dãn sau một ngày làm việc mệt nhọc, lăn lộn với cuộc sống trong một thành phố quá phức tạp, đông người, nóng bức. Cũng có nhiều người đến đây để hẹn hò, gặp gỡ, nói những lời yêu đương tình tứ. Chúng tôi đi một chặp, mỏi chân liền ngồi xuống băng ghế dài. Một lát sau có người thanh niên xuất hiện làm quen với má và cậu. Sau mấy phút nói chuyện, chàng ta vào đề ngay:

           - Hai cô nầy là con của bác phải không?

           Má tôi thật thà:

           - Ừ, các em từ Phú Quốc lên Sàigòn chơi trong mấy tuần nghỉ hè.

           Thế là suốt buổi tối chàng thanh niên cứ bám sát theo chúng tôi, lúc ấy tôi khoảng mười sáu, con em thì mười ba. Hơn mười giờ tối, cậu tôi đứng lên:

          - Thôi mình đi về!

          Chàng thanh niên nhanh miệng:

          - Bác đi xe gì, có đủ chỗ không?

           Cậu tôi mới chợt nhớ, hồi chiều hai đứa nhỏ nầy đi xích lô tới, bây giờ tính sao đây? Cậu tôi quay sang chàng thanh niên:

          - Nhà cháu ở khu nào?

          - Dạ, khu Trương Minh Giảng.

          - Thế thì nhờ cháu chở con bé nầy về.

           Ông chỉ qua tôi, rồi tiếp:

          - Còn tôi thì chở con em và bà chị. 

           Xe của cậu tôi là chiếc Vespa, xe của chàng thanh niên là chiếc Honda Dame. Sở dĩ cậu tôi tự tin dám giao tôi cho người xa lạ là bởi vì đường thành phố Sàigòn ông là thổ địa, hơn nữa ông là võ sư Không Thủ Đạo, có trường dạy võ gần xa lộ Biên Hòa, cũng là cận vệ một thời của ông Phó thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ. Tôi leo lên xe ngồi với chàng thanh niên, cậu tôi chạy sát một bên canh chừng. Qua khỏi chợ Tân Định, qua khỏi cầu Kiệu, cậu tôi quẹo vô chợ Phú Nhuận để vào hẽm Nguyễn Huỳnh Đức. Chàng thanh niên dọt luôn, cậu tôi ngó lại, chẳng thấy chiếc xe kia theo mình, ông cấp tốc quay đầu xe chạy đuổi theo. Chàng thanh niên tống hết ga, chiếc xe lao tới, hắn luồn, lách giữa dòng xe đông nghẹt trên đường Hai Bà Trưng, cậu tôi cũng luồn, lách, bóp kèn inh ỏi. Kẻ chạy, người đuổi giống như trong phim xi-nê. May sao đèn đỏ bật lên ngay góc ngã tư gần bệnh viện Cơ Đốc. Hắn ta phải ngừng xe lại, tôi phóng nhanh xuống đường, lúc đó cậu tôi cũng vừa trờ tới, ông nắm ngay ngực áo của chàng ta dộng cho mấy đấm:           

          - Đồ du côn, đồ lưu manh! Định giở trò hả?

           Má tôi vội can, sợ ông nóng tính xảy ra lớn chuyện:

          - Thôi, con Minh nó không có gì thì tha cho cậu ấy đi!

           Cậu tôi gằn giọng:

          - Mầy liệu hồn, tao gặp một lần nữa kể như mầy toi mạng, còn trẻ thế nầy mà đã làm chuyện xấu rồi, đồ cặn bã của xã hội.

           Chuyện xảy ra chưa đầy một phút, đèn xanh bật lên, hắn ta dọt lẹ… Lần đó là một bài học cho tôi sau nầy. 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét