Ngày tháng cứ lặng lẽ trôi, trôi
trên niềm đau, nỗi khổ, trôi trên thân phận, cuộc đời bất hạnh của người con
gái đương xuân. Rừng mai vàng bên bờ biển đang kết nụ đơm hoa, những cánh hoa
vàng tươi khoe sắc báo hiệu mùa xuân mới sắp trở về. Xuân của đất trời, xuân
của lòng người, nhưng với Quân mùa xuân sẽ không bao giờ đến nữa, chỉ còn là mùa
xuân kỷ niệm một thời bên An vui đùa trên sóng nước, mơ ước đến tương lai. Mùa
xuân xưa đã trở thành huyền thoại, để lại trong tâm tư nàng nỗi nhớ nhung đau
khổ dật dờ...
Hơn
hai tháng nay, sau ngày biết được An không còn nữa, Quân sống như kẻ mất hồn,
nàng thường trầm tư mặc tưởng, mắt nhìn vào cõi xa xăm, mông lung nào đó. Nàng
hụt hẫng, ngơ ngác kiếm tìm hình bóng An. Ánh mắt nhung huyền mơ mộng ngày nào
từ từ chuyển sang màu tím u buồn như màu hoa rau muống biển trên bãi vắng năm
xưa. Sự vắng mặt đột ngột của An, cái chết bất ngờ đã làm thương tổn nội tâm
nàng và cùng lúc sự phát triển của đứa con trong bụng ít nhiều cũng ảnh hưởng
đến sinh tâm lý, nên nàng thường có sự thay đổi bất thường. Buổi sáng tinh
sương, khi mặt trời hồng vừa ló dạng sau dãy đồi của Duyên Đoàn 42. Nàng ra
biển một mình, lặng ngắm đất trời, lặng ngắm biển khơi, trong nỗi quạnh quẽ, cô
đơn, để chiêm nghiệm cái đau, để nghiền nát cơn bi lụy, để hòa tan trong sự vi
diệu của đất trời, hầu tìm cho tâm hồn nàng một trạng thái tĩnh lặng, bình yên…
Nàng thơ thẩn đi lên đồi cát, cúi xuống nâng
niu, vuốt ve từng cánh hoa rau muống biển mới nở phơi phới dưới ánh nắng đầu
ngày. Rồi nàng ra biển buổi chiều, khi mây tím kéo về giăng kín không gian,
cánh hoa tím buồn cũng héo sầu khép lá. Trời đất biến chuyển không ngừng, chỉ
một ngày trôi qua mà đã làm thay đổi hình dạng sắc màu của cỏ cây, hoa lá! Như
cuộc tình của nàng với An, bắt đầu tốt đẹp, tươi vui, tràn đầy niềm phúc lạc.
Một kết thúc bi thương, chan hòa nước mắt. Nàng ngồi như tượng đá, hàng giờ,
hàng giờ, nhìn vào biển cả mênh mông, nhìn lên rừng cây bạt ngàn sương khói, để
mong tìm thấy lại hình bóng của An. Biển vẫn vô tình, gió vẫn vi vu qua từng kẽ
lá. Nàng ngước nhìn lên bầu trời, trăng sao xa quá, không chia xẻ nỗi đau cùng
nàng. Chỉ có cái bóng, cái bóng luôn luôn bên cạnh là thủy chung đến cùng. Rồi
nàng lại thấy An bước ra từ cái bóng ấy, khi mặt trời chìm sâu dưới vùng biển
rộng, nàng cũng thấy An chìm theo luôn. Nàng hớt hải kêu lên:
-
Anh An, anh An đừng bỏ em! Đừng bỏ em!
Đã
bao chiều nàng ngồi như thế, để tưởng nhớ, để khóc thương người yêu đã đi vào
cõi vĩnh hằng. Như lời nàng đã từng nói với An trong buổi hẹn hò đầu năm - “Nếu
ngày mai mất anh, em sẽ ngồi đây mà tưởng nhớ, mà khổ đau..”. Không ngờ lời nói
ấy đã trở thành sự thật.
Cái
chết của An quá bất ngờ, khiến tinh thần nàng bị suy sụp, lúc tỉnh, lúc mê. Đôi
khi nàng nghĩ - “An là kẻ bạc tình, chàng đã nghe lời bố mẹ về Đà Lạt cưới vợ
để bố mẹ vui lòng”. Những lúc nàng suy nghĩ như vậy, đầu óc nàng rất tỉnh táo,
rồi nàng lại vui lên không thèm nghĩ đến kẻ phụ rãy, thiếu trách nhiệm, không
xứng đáng trong tình yêu thương của nàng. Được năm ba ngày, nàng lại chìm đắm
trong nỗi nhớ thương u uất, tủi buồn. Nàng thả hồn trôi bập bềnh trên sóng
nước, mộng du tới cõi nào để mong tìm gặp lại An. Có lúc nàng thâm trầm dễ
thương, đôi lúc nàng hét hò dữ tợn. Tâm tính nàng thay đổi bất thường, càng
ngày càng hiện rõ hơn về chứng bệnh tâm thần.
Ông
Hai quả là người cha nhân hậu, hiền từ. Ông như cây cổ thụ, che nắng, che mưa
cho đứa con gái côi cút, tội tình. Dù miệng đời là cuồng phong, gió bão, ông
vẫn là ngàn nhánh rễ bám chặt, bám sâu vào lòng đất, giữ vững cho thân cây
không bị nghiêng đổ bởi thành kiến của người đời. Ông tự cho mình như con ngựa
già được che kín hai bên mắt. Lối đi, lối về, dù quanh co, khúc khuỷu, dù đường
thẳng, đường cong. Ông chỉ biết nhìn về phía trước, không bận tâm đến hai bên.
Dù rằng có những ánh mắt soi mói, dị nghị của hàng xóm, láng giềng.
Tình thương của ông quả là cao cả, vượt qua mọi khó
khăn, mọi định kiến của xã hội đương thời. Ngay lúc nầy, Quân cần ông săn sóc,
yêu thương, ủi an và khích lệ. Chớ nếu ông không muốn bị mang tai tiếng, hoặc
giả ông sợ dư luận gièm pha, thì ông đã gởi Quân vào Rạch Giá ở với người dì
như đã bao nhiêu năm trước Quân ở trọ học. Chờ sinh nở rồi đem con cho Cô Nhi
Viện là xong. Hoặc ông để Quân ở với một trong hai người chị đã lấy chồng xa,
điều ấy cũng giải quyết được vấn đề. Nhưng đằng nầy ông rất yêu thương Quân
bằng trái tim của một người cha, đối với đứa con gái dù đã trót nông nổi, lỗi
lầm. Ông đưa vai gồng gánh nỗi tai ương, họa kiếp của con, để bày tỏ tình yêu
thương đùm bọc, chở che khi con cái lâm vào cảnh khốn khó, ngặt nghèo.
Lúc
trước, ông còn để Quân ra trông coi tiệm sách, nhưng càng ngày thấy bệnh tình
con gái càng trầm trọng, nên ông không để Quân ra tiệm sách nữa. Có lần kia,
vừa thấy người khách bước vô tiệm, dáng vẻ cao ráo, lại mặc đồ sĩ quan hải
quân, Quân nhào tới ôm chầm rồi nắm tay kêu gào thảm thiết:
-
An, An, anh An, anh đi đâu mà bỏ em lâu thế? Anh đừng bỏ em nữa nghe anh An!
Người
khách lạ hoảng sợ, lúng túng nhưng có phần thương hại. Rồi tiếng đồn Quân điên
loạn vang xa. Lại một chiều kia, ông Hai đang ở tiệm sách, ông sai Khôi về nhà
dòm ngó Quân. Thằng nhỏ về tới nhà chẳng thấy Quân đâu, liền ra bờ biển tìm
kiếm.Giữa lúc ấy Quân đang chạy xuống biển, tay vẫy vẫy, miệng gọi lớn:
-
Anh An, anh An, anh chờ Quân với, anh đi đâu vậy? Anh đừng bỏ Quân, anh đừng bỏ
Quân anh An!
Thằng bé Khôi liền lao xuống biển, kéo tay Quân
lên, áo quần nàng ướt đẫm. Đó là vài hiện tượng khởi đầu cho bệnh loạn trí của
nàng. Ông Hai rất đau đớn, khổ tâm khi thấy con gái ra nông nổi nầy! Ông hy
vọng một ngày nào đó, thời gian sẽ làm Quân nguôi ngoai, rồi nàng sẽ tỉnh táo
trở lại. Ban ngày ông gởi Quân ở nhà mẹ của Khôi, không để cho nàng tự do ra
biển nữa, hầu tránh cho nàng khỏi nhìn thấy lại cảnh cũ mà chạnh nhớ tới người
xưa. Đầu óc nàng mơ mơ, hồ hồ như thế thì tai nạn chết đuối cũng có thể xảy ra
lắm! Rồi ông cũng không cho Quân ra tiệm sách nữa, sợ nàng nhìn thấy các anh
mặc đồ tím, quân phục của hải quân làm nàng lại tưởng là An, vết thương lòng dễ
gây cho nàng xúc cảm. Còn ngôi nhà của ông, Quân đã có nhiều kỷ niệm với An. Từ
khung cảnh, từ những chuyện vui, chuyện buồn. Từ những buổi tối hai người rù rì,
thủ thỉ với nhau. Họ ngồi ngay bộ bàn ăn nơi nhà bếp. Ông Hai đổi luôn bộ bàn
đó, mua lại bộ bàn mới, để Quân không còn nhận ra cảnh cũ, hầu tâm hồn nàng
quên hẳn bóng hình An.
Ngày
nào An hứa sẽ săn sóc ông, mà giờ đây ông phải săn sóc Quân, săn sóc đứa con
chưa sanh của chàng. Thật ra, ông rất thương quý An, đã coi chàng như con rể
của ông rồi. Dù hai người lỡ lầm có con với nhau trước ngày thành hôn. Điều nầy
ông không muốn, nhưng đã xảy ra rồi thì ông cũng cứ coi đứa bé kia là cháu
ngoan của ông, là món quà thiêng liêng An để lại cho ông vui trong tuổi già cô
quạnh.
Về
phần Quân, thời kỳ thai hành đã qua, hết tháng thứ tư thì nàng không còn ụa,
mửa nữa. Cái bụng bây giờ thấy lúp lúp, đã gần sáu tháng rồi. Lúc tỉnh táo,
Quân thường vuốt ve, vo tròn lên bụng, nói thầm, thỏ thẻ với con. Hoặc khi cái
thai mấp máy, gò lên liên hồi - “Đừng hư thế con! Đừng làm mẹ đau, mẹ sẽ đánh
đòn con đó”.
Cũng
có lúc thần trí nàng mơ hồ, khi em bé động đậy, nàng sợ quá, khóc mếu máo - “Ba
ơi, ba ơi, cái gì trong bụng con mà sao cứ nhúc nhích, đau quá, con sợ quá đi
thôi!”. Rồi nàng tiếp tục khóc than, sợ hãi.
Hôm nay mùng hai Tết, Quân không còn
ý niệm về thời gian hay ngày tháng, nàng mất luôn cái tri thức nhận diện người
thân hay bè bạn. Hai chị nàng biết được tin Quân lâm vào hoàn cảnh trớ trêu,
oan trái nên đã xin phép chồng về thăm cha và em trong những ngày đầu năm. Quỳ
và Quyên rất đau lòng, buồn bã lắm, khi thấy Quân cô em xinh đẹp thông minh
ngày nào trở nên khờ khạo, ngơ ngáo. Thần trí bất an, thân thể gầy nhom, tóc
tai lượt thượt, ít khi chịu chải gỡ. Cây kẹp của An vẫn nằm trên mái tóc ấy,
phủ dài xuống tận ngang eo. Quỳ cùng Quyên bàn tính - “Không nên cho Quân để
tóc dài nữa! Em bệnh hoạn, thần trí mông lung, cắt tóc ngắn cho Quân thì tiện
hơn”. Nghĩ thế hai nàng cố dụ ngọt Quân như ngày còn bé:
-
Để chị Hai cắt tóc đẹp cho em ăn Tết nghe? Tết tới rồi, cắt tóc mặt em sẽ xinh
đẹp hơn. Cắt tóc rồi em sẽ được mặc đồ mới nữa đó chịu hông? Ngày xưa em hay
đòi cắt tóc khi Tết đến lắm mà!
Quân
trở lại tâm tính của thời còn bé, luôn được hai chị cưng chìều, nàng ngoan
ngoãn ngồi yên. Lọn tóc cuối cùng vừa rơi xuống, Quân cảm thấy cái đầu nhẹ
tưng, khác lạ. Theo thói quen nàng đưa tay ngược ra phía sau túm lại mái tóc,
nhưng hỡi ơi, nàng hét lên:
-
Tóc của em đâu rồi? Tóc của em đâu rồi? Còn cái kẹp của An nữa! Cái kẹp của An
đâu?
Quân
nhìn xuống thấy mớ tóc đen dài nằm rời rạc trên nền nhà, nàng quắc mắt, sấn
tới, thụi vào người hai bà chị, giọng dữ dằn:
-
Trả tóc lại cho tao! Trả tóc lại cho tao! An không còn thương tao nữa nếu tao
không có mái tóc dài. Mầy là đồ quỷ, mầy là đồ quỷ mà...
Quân
khóc lóc, kể lể nỉ non.Từ trong tận cùng tri thức, nàng biết rằng An đã yêu mái
tóc dài mượt mà ấy. Cây kẹp kia An tặng nàng trong đêm giáng sinh. Lúc nào nàng
cũng kẹp lên mái tóc, để nghĩ rằng chàng luôn ở bên cạnh. Bây giờ mái tóc dài
không còn nữa, làm sao mà kẹp cây kẹp kia? khi nàng có cảm xúc mạnh thì thần
trí dễ dàng đi vào ảo tưởng. Vừa lúc ấy, ba chiếc xe gắn máy của bọn Dung,
Khảnh và thầy Hiền từ Dương Đông xuống An Thới thăm Quân, đã vào đậu trước sân
nhà. Trong năm, họ biết tin chẳng lành xảy đến cho An, khiến Quân phải bỏ
trường sư phạm về nhà sống trong mê loạn bất thường. Bọn Dung đi học tận Sài
gòn, chờ Tết đến, về Phú Quốc rồi mới xuống thăm Quân được. Nhưng Quân nào có
nhận ra ai đâu! Nhất là Dung, Dung rất xót xa, nghẹn ngào nhìn Quân lặng thinh,
hai giọt nước mắt thương cảm ứa ra. Ước gì Quân còn tỉnh táo để tiếp tục cãi cọ,
gây gổ, ganh đua với nàng như mọi khi. Mới mùng hai Tết năm trước, An và Quân
lên Dương Đông thăm nàng, thấy cuộc tình của hai người Dung hâm mộ, thèm lắm.
Quân vui tươi, hạnh phúc, bơi lội trong biển tình mát rượi. An lịch sự, tế nhị,
vui vẻ, thân thiện với tất cả bạn bè. An trở lại thời sinh viên, học sinh cùng
bọn Dung, chàng phiêu lưu, mạo hiểm theo bước chân người yêu thăm vùng đất
Dương Đông. Nhất là đoạn đường rừng dài gần ba mươi cây số từ An Thới đến Dương
Đông, rồi lại leo dốc núi chùa Sư Muôn. Bao nhiêu hiểm nguy rình rập mà chẳng
có chuyện gì xảy ra. Rồi đột nhiên chàng lại chết trong một chuyến bay về phép
sắm quà đính hôn. Bọn Dung nghe được tin nầy, bàng hoàng, xúc động lắm! Người
chết kể như yên ngủ một giấc ngủ dài. Hồn phơi phới nhẹ nhàng bay cao, làm bạn
với trăng sao mây nước. Có biết đâu người ở lại muôn vàn thống khổ, ngậm ngùi
tiếc thương. Quân sống như người chết chưa chôn, Dung đau lòng lắm khi thấy bạn
cứ mê mê, tỉnh tỉnh hoài.
Quân
khép nép, sợ sệt, đứng sát vào hai người chị khi nàng nghe tiếng máy nổ của xe
lớn quá. Dung là bạn lâu năm của Quân nên hai chị Quỳ và Quyên đều biết Dung và
Dung cũng nhận ra họ. Dung chạy tới chào hai chị và giới thiệu các bạn. Thầy
Hiền nắm tay vợ, cô giáo Nhung bước lên bực thềm nhà định chào hỏi chị Quỳ và
chị Quyên. Quân thình lình sấn tới, giật tay cô Nhung ra:
-
Anh An của Quân mà! Sao nắm tay anh?
Rồi nàng lại đẩy thầy Hiền ra, giành
đứng sát vào cô Nhung, đưa tay vo vo hai cái
bụng bầu, giọng vui vẻ tự nhiên:
-
Ồ, em bé của An hả? Quân cũng có em bé của An nè! Chị từ Đà Lạt ra hả? chị là
vợ của An phải không?
Rồi Quân quay sang thầy Hiền, nắm cánh tay
thầy lắc mạnh:
-
Anh là kẻ bạc tình, anh là tên sở khanh, anh đi ngay, đi ngay. Đi về với vợ anh
đi...
Dung
đứng gần đó liền chạy lại, giằng lấy tay Quân, kéo về phía mình:
- Quân, không phải anh An đâu, nhìn kỹ đi! Đây là
thầy Hiền, anh họ của Dung đó, nhớ hông? Chị kia là cô giáo Nhung, vợ ảnh. Tụi
mình có đi dự đám cưới ảnh đó! Nhớ hông? Ráng nhớ đi.
Rồi giọng Dung tha thiết van lơn:
-
Ráng nhớ đi, ráng tỉnh táo lại đi Quân ơi! Tỉnh táo để sinh con, để nuôi con
của mầy với An đó, biết không?
Quân
với đôi mắt lạc thần, nhìn qua người nầy, nhìn đến người kia, nhưng không biểu
lộ trạng thái buồn, vui nào trên gương mặt cả. Chợt nàng dừng lại nơi Khảnh,
trên vai Khảnh lủng lẳng chiếc máy chụp hình. Hình như nàng đã có ấn tượng,
Quân bước tới cười hồn nhiên:
-
Ồ, anh Khảnh, anh Khảnh chụp cho Quân một tấm hình nhé! Quân mới cắt tóc đó,
đẹp lắm mà!
Mọi
người đều mừng rỡ vì thấy Quân đã nhận ra Khảnh rồi, Khảnh mở máy chụp hình rồi
dỗ ngọt Quân:
-
Được, được! Chị Quân đứng đây nè, đứng ngay gốc dừa lửa nầy, để Khảnh chụp cho
một tấm.
Quân đi tới gốc
dừa, nhưng không quên kéo tay thầy Hiền:
-
Anh An, anh An, mình tới đây đứng chỗ nầy, để Khảnh chụp cho tụi mình một tấm
nhé anh An!
Dung
lắc đầu buồn bã, nói với thầy Hiền:
- Thôi thì anh ráng đóng vai An giây phút cho con
Quân nó vui. Rồi nàng kéo tay cô Nhung vô đứng chụp chung luôn. Cô giáo Nhung
đứng bên cạnh thầy Hiền và Quân đứng một bên. Tấm hình thật ngộ nghĩnh, kỳ
khôi. Một anh đứng giữa hai bà bầu...
Quân miệng cười tươi tắn, nắm lấy bàn tay thầy
Hiền, mà trong tận cùng tiềm thức, nàng cứ ngỡ là bàn tay của An. Bọn Dung,
Hiền, Khảnh, ngày xuân đến thăm bạn, đã mang theo hình bóng An sống lại trong
chiều sâu tâm thức của Quân. Để nàng thấy lại kỷ niệm xưa, chan hòa niềm vui
cùng các bạn nơi bến nước Dương Đông của mùa xuân năm trước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét