Trùng dương dậy
sóng, phố nhỏ buồn thiu. Ông Hai rời đảo chưa đầy tuần lễ, khi trở về nghe được
cái tin quá kinh hoàng, tưởng chừng như sét đánh ngang tai. Ông ngồi lặng người
sau khi nghe thằng bé Khôi kể lại câu chuyện. Chiếc Ca-ri-bu từ phi trường An
Thới mới vừa cất cánh, bị trục trặc kỹ thuật, đã đâm nhào xuống biển, mang theo
mấy chục mạng người, vừa quân đội, vừa thường dân (Gần phân nửa đã tử nạn).
Bên quân đội là những quân nhân đi
công tác hay đi phép, còn thường dân là những người địa phương hay thân nhân
của các anh lính, thỉnh thoảng ra vào thăm chồng, thăm con rồi trở về. Họ
thường quá giang máy bay quân sự cho đỡ tốn kém và đỡ mất thời gian một đêm
lênh đênh trên biển. Tai nạn xảy ra quá hiếm hoi, quá bất ngờ, khiến mọi người
xôn xao, bàn tán, đau buồn, thương cảm, vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử
hàng không quân sự mới xảy ra một vụ như vậy tại An Thới, Phú Quốc. Liền sau
tai nạn đã có đội cứu cấp từ trong bờ dùng ca-nô, tàu máy ra tiếp cứu. Một số
người bị thương nặng đã được trực thăng chở thẳng tới quân y viện Cần Thơ (Rất
may hôm đó có chuyến trực thăng đi công tác Phú Quốc). Một số người bị thương
nhẹ thì đưa ngay vào bệnh xá tại đây và bệnh viện quân cảnh. Thật không may cho
Hải Quân đã có mấy người chết, trong ngành nha, y có đại úy Dư, trung úy Thứ.v.v…Cũng có hai người pilot nữa!
Bên bộ binh ngành tiếp vận, ban tài chánh có đại úy Hòe, đúng kỳ phát lương,
mang theo một rương đầy giấy bạc, máy bay rớt, tiền trôi lềnh bềnh trên mặt nước.
Trong số người may mắn sống sót có cô con gái ông chủ tiệm phở Bò Vàng. Còn ông
Hai và Quân, trời dành cho nỗi oan khiên, bất hạnh, mất đi người chồng, người
con rể tương lai. An đã tử nạn trong chuyến bay oan nghiệt nầy. Thật ra số
chàng chưa chết như vậy đâu, nếu không có sự trao đổi tuần lễ đi phép với người
bạn cùng phòng. Anh Thảng, tháng sau vợ ở cữ, anh cần về phép để săn sóc vợ
con. Hai người đã thỏa thuận và An đồng ý lấy phép trước về sắm quà đính hôn.
Nào ngờ chuyến đi nầy là đi vào thiên thu, để lại lắm nỗi đớn đau, thương nhớ
cho bao nhiêu người thân. Mộng ước của Quân đã vỡ tan, mộng ước của An cũng
theo cánh chim sắt nằm lạnh lẽo dưới vùng biển mặn ngàn năm.
Ông
Hai ngó xuống con đường, lối về Bộ Tư Lệnh. Buổi chiều ảm đạm thê lương, bầu trời
chớm đông toàn là mây xám. Ông thấy gương mặt An nhạt nhòa dưới vùng biển nước
ngoài kia. Vài cánh chim hải âu bay qua, bay lại, lúc bay thấp thấp, đôi cánh
chập chờn, là đà trên mặt nước, rồi lại bay vút lên cao. Ông Hai bất giác chợt
nghĩ - “Nếu chiếc máy bay nọ cũng bay vút lên nhẹ nhàng như những cánh chim kia
thì đời con gái ông và còn nhiều cuộc đời khác đâu phải khổ sở, ly tan, nhớ
thương muôn đời, muôn kiếp!”. Ông ngước mắt nhìn lên trời cao - “Trời già ơi,
ông bày chi cay nghiệt, ông rẽ thúy, chia uyên cho đôi đường âm dương cách
biệt!”. Ông Hai đau cho ông thì ít nhưng ông đau cho con gái ông thì nhiều lắm!
Ông hồi tưởng, hình dung toàn diện con người của An, một chàng thanh niên đẹp
trai khỏe mạnh và chân tình, nhất là yêu thương Quân thắm thiết mà cũng quý mến
ông nữa. Ông Hai nhớ lại mấy tuần lễ trước, An có ghé nhà thăm, hỏi ông cần mua
sắm gì khi chàng đi phép, và An gợi ý sẽ mua cho ông bộ vét-tông mới để ông mặc
trong ngày đính hôn của chàng với Quân. Rồi An lại nói nhiều về những ngày tháng
tương lai... Sau khi Quân học xong sẽ làm đám cưới, ông sẽ có những đứa cháu
thật kháu khỉnh, bụ bẫm, dễ thương, chúng nó sẽ là niềm vui của ông trong lúc
tuổi già. Bây giờ thì đâu còn gì nữa? Tất cả đã hết rồi! An đã thật sự rời xa
thế giới hiện hữu nầy, chàng không còn biết khổ đau, sầu muộn. Chỉ có Quân, con
gái ông là người phải hứng chịu nỗi cay đắng, bẽ bàng, khi tình đầu một sớm
bỗng ly tan. Tự nhiên, hai dòng nước mắt ông ứa ra, ông thương cảm cho An và
thương cảm cho Quân con gái ông. Ông khẽ gọi:
-
Quân, Quân ơi... con khổ rồi con ơi!
Câu chuyện rớt máy bay sau ba tuần lễ dần dần cũng
chìm vào quên lãng. Mọi người không còn bàn tán ồn ào như trước nữa. Nhưng ông
Hai trong lòng lúc nào cũng thấp thỏm, lo âu. Từng ngày, từng ngày, ông mâu
thuẫn với chính mình. Một đàng ông muốn gặp mặt con, đằng khác ông lo sợ gặp
lại Quân là thấy cả sự bất hạnh, đau đớn hiện ra rõ nét hơn - “ Biết nói làm
sao với nó đây về câu chuyện An đã tử nạn!”.
Chuyện
gì đến rồi cũng phải đến. Một buổi sáng nọ, cũng vào giờ giấc thường nhật,
chuyến tàu đò An thới - Rạch Giá đã cập bến. Ông nghe giọng Quân từ bên ngoài
cánh cửa, cũng một giọng nói quen thuộc như trước:
-
Ba ơi, con về rồi ba ơi! Ra mở cửa cho con đi ba!
Ông
Hai trong nhà đã thức dậy từ lâu, nằm suy nghĩ lung tung - “ Rõ ràng tiếng của
con Quân, nhưng chưa tới lễ Giáng sinh sao nó về sớm vậy? Hay là nó đã biết sự
việc An không còn nữa!”. Ông Hai bỏ chân xuống giường tìm đôi dép kẹp, đôi chân
ông nặng nề, kéo lê, không nhanh nhẹn, hấp tấp như mọi khi. Tiếng ông vọng ra:
-
Ờ, ờ, từ từ con, ba nghe rồi để ba mở!
Quân
vừa nghe tiếng chốt cửa kéo qua một bên, nàng đẩy cánh cửa bước vào, tay bụm
miệng chạy ngay ra phía sau nhà, nàng nôn mửa dữ dội. Ông Hai nhìn gương mặt
con gái tái xanh, nhợt nhạt, dáng vẻ tiều tụy bơ phờ. Ông nhủ thầm - “Chắc nó
bị say sóng? Không lẽ nào, nó đi biển quen quá rồi! hơn nữa mùa nầy là mùa biển
êm. Hay là nó bị bệnh bao tử trở lại? Mấy năm trước đã chữa khỏi rồi mà!”. Ông
Hai tự hỏi rồi cũng tự trả lời. Điều ông lo lắng nhất là cái chết của An, biết
nói sao với Quân đây? Ông xách túi hành lý
của Quân đi vào nhà, tay gài chốt cửa lại.
Quân,
sau cơn nôn ọe, nàng rửa mặt, rửa tay, trở lên nhà gặp ông Hai. Nàng quỳ sụp
xuống chân ông, ôm chặt chân cha, khóc ngất. Ông Hai khom người xuống, vuốt lên
mái tóc của con, nói lời thương cảm, ủi an, mong xoa dịu nỗi đau của đứa con
gái:
-
Thôi con, số kiếp trời định như vậy, biết làm sao hơn! Ba thông cảm con mà...
Ba thương con lắm Quân ơi!
Ông
Hai tưởng con gái khóc vì lẽ biết tin An từ trần, chớ đâu hiểu rằng Quân khóc
vì một nguyên cớ thầm kín… Còn Quân thì lại
nghĩ khác! Nàng về đây có nỗi niềm riêng, đâu đã biết tin gì? Khi nghe ông Hai
nói lời an ủi, cảm thông, nàng lại càng khóc lớn hơn... Giọt nước mắt mang theo
niềm tủi hổ, lỡ lầm.
Gần
ba tháng nay, sau khi rời đảo, nàng vào trường sư phạm Vĩnh Long. Ban ngày lên
giảng đường, chiều tối về nhà nội trú, sinh hoạt chung với các bạn cùng khóa.
Nàng rất nhớ An và cũng nhớ thương cha già lắm. Quân cứ mong chóng đến ngày
Giáng sinh, nàng có cơ hội về nhà được mấy hôm.
Hơn ba tuần nay, nàng cảm thấy trong người có điều
gì khác lạ, thường hay bị mệt. Hai tháng qua nàng cũng không thấy dấu hiệu
nguyệt kỳ của người phụ nữ nữa! Chuyện nầy cũng thường xảy ra cho nàng lắm, nên
nàng chẳng lấy làm để ý. Mãi đến khi nghe thèm chua, nghe tanh hôi mùi cá, nhất
là mỗi buổi sáng nàng cảm thấy nhờn nhợn nơi cổ họng, như muốn nôn ọe ra. Lúc
bây giờ nàng mới bắt đầu lo... “Chuyện riêng tư, thầm kín, biết hỏi ai bây giờ?
Chỉ một lần mà cũng dính bầu sao? Cái đêm mưa gió giữa đường nơi ngôi nhà hoang
ấy, nàng đã hiến dâng đời con gái cho An. Sau lần đó nàng xấu hổ, không làm
chuyện ấy nữa, và nàng vào nội trú đến nay”.
Quân hồi hộp, lo lắng chờ mãi kinh kỳ xuất hiện,
nhưng không còn kiên nhẫn được nữa. Nàng ra phố tìm mua quyển sách nói về người
đàn bà trong thời kỳ thai nghén. Đọc mới phân nửa, nàng quả quyết mình có mang
rồi! Tinh thần bấn loạn, nàng sợ hãi vô cùng. Viễn ảnh tốt nghiệp trường sư phạm hoàn toàn sụp đổ. Nàng nghĩ ngay đến An, An là
cái phao để nàng bám vào, An cũng là người chịu trách nhiệm, là người giải đáp
bài toán khó nầy đây! Nghĩ thế, nàng liền bỏ giảng đường, bỏ bạn bè, bỏ nhà nội
trú, cấp tốc qua phà, lên xe đò về Rạch giá, rồi một đêm lênh đênh trên biển.
Tàu cặp bến, nàng trở về nhà trong tâm trạng vô cùng khổ sở. Biết nói với cha
như thế nào đây! Nàng chỉ muốn quỳ sụp dưới chân cha rồi xin cha tha tội, tha
lỗi cho đứa con gái hư hỏng như nàng!
Khi
ông Hai nói những lời trên, Quân cảm thấy cha mình như một ông Tiên, hiền từ,
nhân hậu quá! Nàng lại mủi lòng khóc lớn
hơn, nói qua giọng thống hối, nghẹn ngào:
-
Xin ba tha tội cho con, xin ba tha lỗi cho con... Nàng lặp đi, lặp lại hai, ba
lần cùng một câu nói đó. Ông Hai chợt nhận ra, có điều gì khác lạ hơn, không
như điều ông đang suy nghĩ .Tay run run, đỡ con gái đứng lên:
-
Quân! Chuyện gì vậy? Con bình tĩnh đi, nói cho ba biết chuyện gì đã xảy ra?
Quân
ngập ngừng, ấp úng, đưa tay quẹt nước mắt, đôi mắt rướm lệ nhìn ông Hai như cầu
xin một sự tha thứ:
- Thưa ba, thưa ba... con, con, con đã có mang với
anh An rồi!
Ông
Hai lảo đảo ngồi bệt xuống chiếc ghế bên cạnh, hai tay nắm chặt cạnh bàn, đôi
mắt ông nhắm lại. Không biết ông nghĩ gì? Không biết ông hình dung gì? Quân chờ
đợi một cơn thịnh nộ hay một bạt tai nẩy lửa, nhưng bất chợt ông Hai lặp lại
câu nói mà buổi chiều kia, sau khi nghe tin An tử nạn:
- Quân, Quân ơi... đời con khổ rồi
con ơi!
Quân
bước tới gục đầu vào lòng cha nức nở:
-
Ba, ba! Xin ba tha tội cho con, xin ba tha lỗi cho con! Con là đứa con bất hiếu, hư đốn đã làm cho ba đau lòng...
Rồi nàng nói như để trấn an ông Hai,
như để giải quyết vấn đề:
-Thưa
ba, chúng con sẽ làm đám cưới, chúng con sẽ săn
sóc ba, ở cận kề ba mãi mãi... An đã hứa với con điều đó!
Bây giờ đến lượt ông Hai ấp a, ấp úng...không biết
mở miệng nói với con như thế nào về cái chết của An. Đột nhiên Quân nói:
-
Trưa nay con ra tiệm sách, thế nào cũng gặp được An, con sẽ nói rõ sự việc.
Tim
ông như thắt lại, hơi thở nặng nề, đứt quãng, ông nhìn Quân thương hại, đớn đau
- “Trước sau, sớm muộn gì khi ra phố nó cũng biết! thôi thì mình phải nói”. Ông
bảo Quân đứng dậy, ngồi vào chiếc ghế đối diện, thu hết can đảm, ông nói rõ
từng tiếng:
-
Con bình tĩnh nghe ba nói. Cậu An đã chết rồi!
Ông
mếu máo nói tiếp:
-
Ba tuần lễ trước, chiếc ca-ri-bu rớt xuống biển, nó chết rồi con ơi!
Quân
tưởng như mình nghe lầm hoặc giả ông Hai giận quá nói gở. Nàng trố mắt, kinh
ngạc hỏi lại:
- Ba, ba nói gì? Hay là ba không muốn gả con cho
An?
Ông
Hai lẩm bẩm, như chia xẻ nỗi tuyệt vọng tột cùng của đứa con gái, ngay cả với
ông nữa:
- Còn đâu nữa mà gả với xin Quân ơi!
Cậu An đã chết rồi, chết thiệt rồi con à!.. Ông Hai đau đớn gào lên ở câu cuối
để nhấn mạnh cho Quân biết rằng lời nói của ông là sự thật. Rồi ông lấy tờ Sông Kiên nằm trên bàn đưa cho Quân:
-
Đây, mọi sự ở trong nầy. Con bình tĩnh mà đọc!
Tin
tức nằm ở trang đầu, đôi mắt Quân mở to, như hai ống kính hiển vi, cố rọi, soi
từng chữ. Nàng lặng người buông rơi tờ báo xuống, rồi ôm mặt khóc ngất:
- Hết rồi An ơi! Sao anh đành bỏ em,
sao anh đành bỏ em? Sao anh đành bỏ em?
Nàng cứ lặp đi,
lặp lại câu nói ấy. Đôi mắt vô hồn nhìn vào khoảng không như tìm kiếm bóng hình
An từ bên kia thế giới...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét