Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Qua Biển - Chương 17: Đám Cưới Nhà Ai


An ngừng xe lại, chưa kịp tắt máy thì Quân bước ra, nàng tươi tắn, rực rỡ trong chiếc áo dài màu hoa cúc, An rối rít khen:
           - Ồ, cô bé xinh quá! Em trắng nên mặc màu nào cũng đẹp.
       An thấy tay Quân trống trơn ngoài cái ví nhỏ đựng tiền.
           - Em không mang theo gì sao?
    - Không anh! Mình đi và về trong ngày nên không cần mang theo gì cả!
           - Còn quà tặng đâu?
           - Đã gởi nhỏ Dung rồi.
           - Em mua gì thế?
           - Một tượng hình cô dâu, chú rể đứng trong quả tim rất xinh xắn mà cũng nhiều ý nghĩa! Em có viết vài dòng chữ để kỷ niệm ngày họ thành hôn, anh thấy được không?
            An nịnh đầm:     
           - Chắc chắn là được rồi, người đẹp của anh lúc nào cũng cẩn thận, cũng chu đáo...
           Ngoài bộ đồ dân sự, An khoác lên người chiếc áo gió để ngụy trang, kèm theo cặp kiếng mát và cái két che lụp xụp trước trán. Chỉ sợ mấy tên VC ra chận xe thì “kẹt” chớ họ đứng núp trong rừng thì khó mà biết An là lính.
           Quân thấy vậy liền chế nhạo:
           - Anh cần gắn thêm bộ râu dài nữa mới giống ông lão.
           - Ông lão nào mà còn gân, còn sức, phía sau có đèo theo người đẹp trẻ trung, cứ siết ngang eo ếch thế nầy...
           An nhìn Quân nghiêm giọng:
          - Nói thật nghe, anh đi cũng ớn lắm đó...
           Quân lại thấy trong lòng lo lắng:
          - Không thôi để em đi xe một mình. Mùa nầy là mùa biển động, không cách nào đi đường biển được, đành vậy thôi!
           An đánh liều:
          - Được rồi, em lên xe chúng ta cùng đi.
          Tuần trước mưa nhiều, bây giờ tạnh ráo, cây lá sạch sẽ, xanh tươi, rải rác trên đường những ổ gà còn đọng lại vũng nước mưa. Thỉnh thoảng gặp nhiều xe lên xuống, nên hai người cũng bớt lo sợ.
Gần tới Cửa Lấp, An nhìn từ xa thấy trong đồn mấy anh lính Địa phương quân vây quanh một con heo rừng. Mùa nầy là mùa mưa, nên các loài heo rừng thường ra phá phách rẫy nương nên bị sụp bẫy. Tha hồ cho các anh hôm nay có một bữa ăn no nê, khoái khẩu, để bù vào những lúc ăn uống, kham khổ, thiếu thốn thịt tươi…
          Qua khỏi cây cầu nhỏ, xa xa thấp thoáng vài nếp nhà tranh ẩn hiện sau đám khoai mì xanh um màu lá. Những người đi rẫy sớm gặp An và Quân, họ chào bằng nụ cười thân thiện.
          An đã có kinh nghiệm lái xe kỳ Tết vừa qua, nên lần nầy họ đến Dương Đông nhanh hơn. Cái quán nước hôm đầu năm An và Quân ghé vào, dì Tư nhận ra bọn An, vồn vã hỏi:
          - Chào cô cậu, cô cậu vẫn khỏe! Uống gì đây?
           An lễ phép trả lời:
          - Cám ơn dì, hai cháu vẫn khỏe. Xin dì hai ly cà phê sữa nóng.
           Thấy Quân mặc áo dài xinh đẹp, còn An lịch sự trong chiếc áo sơ mi dài tay, dì Tư hỏi:
          - Cô cậu đi ăn cưới phải không?
           Quân trả lời:
          - Dạ thưa dì, đúng ạ!
          - Có phải đám cưới thầy Hiền với cô giáo Nhung không?
           Rồi dì nói thêm:
          - Tôi quen bên họ nhà gái, ngày hôm qua nhà gái đãi tiệc rồi.
           Đang trò chuyện với dì Tư, Quân thấy bên kia đường, một đám người bu quanh chiếc xe đạp, Quân thắc mắc hỏi:
          - Họ mua bán gì thế, dì Tư?
            Dì Tư mau mắn trả lời:
          - Ghẹ Hàm Ninh đó cô, ngon lắm tôi phải mua một chục để trưa nay ăn, cô mua không?
            Quân ngần ngừ:
          - Chiều cháu mới về An Thới, sợ chúng nó chết hết mất ngon. Ba của cháu thích ghẹ nầy lắm.
            Dì Tư thiệt tình:
          - Chuyện ấy cô đừng lo, sẵn tôi có bếp luộc giùm luôn cho cô. Chiều ghé đây lấy mang về cho bác trai ăn.
           Thấy tính tình người chủ tiệm tử tế, Quân lấy tiền ra đưa:
          - Dạ, nhờ dì mua giùm một chục.
           Buổi sáng, Ngã Năm quang cảnh nhộn nhịp, các sạp bán hàng đặt hai bên lề đường. Món mặn, món ngọt đủ cả: chè, cháo, xôi, bánh, thứ nào cũng ngon, cũng thơm lừng, hấp dẫn. Người mua, kẻ bán, ăn nói vui cười, nhịp sống sinh động, hiền hòa.

           Còn khoảng năm mươi mét, Quân chỉ tay về phía trước:
- Đó, đó...Cái nhà kia kìa, đúng là nhà của chú rể rồi.
Một ngôi nhà lớn, sân trước lợp lá dừa, chung quanh có nhiều cột thẳng đứng, nối kết bằng tàu dừa uốn cong hình bầu dục, trang trí thêm các nhánh u du, mật cật, nhiều chùm trái đủng đỉnh trông thật lạ mắt. Trên cổng vào có kết hai chữ “Tân Hôn” bằng giấy hoa đỏ thắm. Bên trong, ngang dọc được giăng nhiều sợi dây màu chéo góc. Chính giữa, nơi giao điểm treo một chiếc đèn hoa thật đẹp.
          An và Quân đến sớm hơn giờ đãi tiệc. Chú rể thanh lịch trong bộ vét-tông màu xám tro, cô dâu xinh xắn, trang nhã trong chiếc áo dài màu xác pháo, có thêu hai đóa hướng dương bằng chỉ kim tuyến óng ánh, đẹp mắt vô cùng, trên đầu cài hoa trắng trinh nguyên. Hai người ra tận cổng chào đón, theo sau là những gương mặt thân quen trong ngày Tết vừa qua.
            An vui vẻ, trang trọng bắt tay thầy Hiền:
          - Chúng tôi xin chúc mừng anh chị “Trăm năm hạnh phúc”.        
           Khảnh hào hứng chúc tiếp:
          - “Loan Phượng Hòa Minh”.
           Cúc Hương đứng kế bên tiếp luôn:
- “Sắt Cầm Hảo Hiệp”   
           Ái Mi mang cặp kiếng vào, khom người xuống giả bộ như đang ở tuổi già:
          - “Đầu bạc răng long”.
           Dung lí lắc hơn:
          - “Con cháu đầy nhà nuôi mệt nghỉ”…
           Rồi nàng thúc cùi chỏ vào hông Quân:
          - Tới phiên mầy, chúc đi!
           Quân lớ ngớ, chợt nàng bắt nhanh bốn chữ:
          - “Động phòng hoa chúc”.
           Những tràng pháo tay rôm rả vừa chấm dứt, Dung chỉnh Quân liền:
          - Mày ham lắm, câu đó đâu phải là câu chúc.
           Quân cãi lý:
          - Có chữ “Chúc” là được rồi...
           Cả bọn cười đồng ý.      
           Cô dâu, chú rể gương mặt rạng rỡ, chan chứa niềm vui.Thầy Hiền đi bên cạnh An, chân tình nói:
          - Đường sá xa xôi, anh chị đến dự, chúng tôi mừng lắm.
           Dung chanh chua với ông anh họ:
          - Thế bọn nầy ở gần đến dự anh không mừng sao?
           Thầy Hiền cười, lắc đầu:
          - Xin tha cho anh hôm nay nghe!
           Dung thẳng tay:
          - Không được, hôm nay là ngày cuối, mai sau em đâu ăn hiếp được anh! Chị Nhung sẽ binh anh tới bến luôn.
           Dung đảo mắt một vòng:
          - Phải không các bạn?
           Quân quay sang Dung:
- Mầy cứ hay phá phách người ta...
           Dung cười khoái chí:
          - Mầy sợ, thì đám cưới đừng mời tao…
           An lên tiếng:
          - Hai cái người nầy cũng lạ! Thân nhau thế mà mỗi khi gặp nhau thì cứ “kê” nhau sát ván mới chịu.
           Dung cười cười:
          - Anh có nghe câu: “Thương nhau lắm, cắn nhau đau” không?
           An đưa tay chịu thua:
          - Cô lém hơn dân bắc kỳ chúng tôi nhiều.
          Trong vuông sân rộng kê đựơc hai dãy bàn dài, chính giữa đặt thêm bốn cái bàn tròn lớn. Tất cả trên các mặt bàn đều trải khăn hồng, có bình hoa lai-dơn trắng muốt. Giấy lau miệng, chén, đũa được sắp sẵn cho mỗi chỗ ngồi. Bạn bè, quan khách lần lượt đến đông đủ. Buổi tiệc bắt đầu, một dây pháo hồng treo nơi cổng vào nổ rang, viên pháo cuối cùng vừa chấm dứt, tràng pháo tay của khách lại tiếp tục vang lên. Người đại diện nhà trai bước ra nói đôi lời chào mừng và cảm tạ hai họ cùng quan khách tham dự. Tiếng vỗ tay tiếp tục chúc mừng đôi uyên ương bền duyên giai ngẫu.
           Các món ăn lần lượt dọn ra, kèm theo những món đặc sản của hải đảo Phú Quốc:
          - Bì cuốn, gỏi cuốn, là món ăn khai vị.
          - Bò Ông Lang nấu ra-gu ăn với bánh mì.    
          - Lẩu nấm tràm tươi Dương Đông nấu với sườn non, tôm thẻ và con đồn đột.
          - Gà xé phay trộn bắp chuối Cửa Cạn.
          - Cồi biên mai An Thới xào với măng non Cửa Lấp.       
           Món sau cùng là ghẹ Hàm Ninh kèn dừa, ăn với cơm trắng thì khỏi chê.
          Tráng miệng bằng bánh bông lan và rau câu sơn thủy.
          Ban tiếp tân phục vụ thật chu đáo, nhanh nhẹn. Các đấng đàn ông nam nhi uống bia mệt nghỉ, ly vơi rồi lại ly đầy. Các bà, các cô uống nước ngọt thả dàn.
          Tiếng leng keng của chén đũa chạm nhau, lời chúc tụng nồng nàn, thắm thiết. Cô dâu, chú rể vui sướng ra mặt.
          An tấm tắc khen:
          - Ít khi anh thấy một đám cưới ở quê linh đình, tươm tất và thân tình như thế.
          Nhà trai đưa cô dâu, chú rể đi chào bàn. Các cô bác, cậu dì móc túi tặng bao tiền cột tay với lời chúc đẹp.
          Khảnh làm “phó nhòm” đưa máy bấm lia, bấm lịa những gương mặt thân quen để lưu lại kỷ niệm về sau.
          Bầu trời trong sáng, ánh nắng hè lụa là xuyên qua kẽ dừa rơi xuống lung linh, lốm đốm trên tà áo dài của các cô thiếu nữ đương xuân. Họ đang ước mơ, trong đời sẽ có một đám cưới tốt đẹp như vậy, trong đó chắc chắn có Quân. An và Quân ăn hết cái bánh bông lan, uống cạn luôn ly nước ngọt, đứng lên xin cáo từ. Khảnh kéo cả bọn họ ra đứng dưới cổng “Tân Hôn” chụp hình chung với cô dâu, chú rể trước khi chia tay. Dung gói theo mấy cái bánh bông lan đưa cho Quân cùng với túi xách Quân đã để quên hôm Tết.
          - Mầy đem theo ăn dọc đường.
          Thêm một lần nữa, thầy Hiền bắt tay, nhiều người bắt tay. Những bàn tay thân ái vẫy chào tạm biệt.
          Quân ngoái đầu nhìn lại, xuyên qua lớp bụi mỏng, chiếc xe đang chạy về phía trước, nhưng cuộc đời độc thân của thầy Hiền và cô Nhung đã bỏ lại phía sau.


          Dì Tư vừa bỏ mấy con ghẹ Hàm Ninh vào hai túi ny-lông dầy vừa nói:
          - Ghẹ Hàm Ninh nầy rất ngon! tôi ăn rồi, đúng mùa nữa nên thịt chắc lắm!
          Quân tò mò:
          - Hàm Ninh cách đây có xa lắm không dì?
          - Khoảng hơn mười cây số, Hàm Ninh là một xã nhỏ nằm về hướng đông. Mùa nầy là mùa nam, biển chỉ động ở bờ phía tây nên bên Hàm Ninh êm lắm. Biển cạn, bãi lài lài nên giống ghẹ nầy sinh sản và lớn rất nhanh. Dương Đông cũng nhờ Hàm Ninh cung cấp món ăn nầy trong mùa biển động. Tôi nói cô nghe, một năm chỉ ăn được một mùa thôi!
          Quân thưa:
          - Dạ, cháu biết. Ba cháu thường nói: “ghẹ không đâu ngon bằng ghẹ Hàm Ninh” ngọt, dòn, hai càng là hai cái ống thịt, con nào con nấy chắc nịch, đầy gạch son. Biết ba cháu rất ưa, nên sáng nay mới làm phiền dì...
          Quân lấy trong ví ra tờ giấy một ngàn:
          - Dạ, cháu xin gởi dì ạ!
          Dì Tư xua tay:
          - Thôi, tiền bạc làm gì, tôi có sẵn bếp lò thì giúp giùm cô vậy.
          Quân nài nỉ:
          - Dì không nhận, lần sau cháu không dám ghé quán dì nữa...
          - Thôi được, tôi giữ tiền nầy, lần sau cô đừng trả nữa nghe!
          Nói xong dì Tư cười cuời nhìn An, cắc cớ hỏi:
          - Cô cậu có cháu nào chưa?
          Quân thẹn thùng bẽn lẽn, An đỡ lời:
          - Thưa dì chưa ạ!
          - Cô cậu còn trẻ, mai sau tha hồ mà sinh.
          Dì Tư đưa giỏ ghẹ cho An căn dặn:   
          - Mùa nầy mưa nắng bất thường, cô cậu về sớm. Chúc thượng lộ bình an.
          An treo giỏ ghẹ lên ghi-đông, chàng nổ máy xe. Quân chào dì Tư, leo lên ngồi phía sau, một tay vịn vai An, tay kia nắm chặt tà áo dài. An rồ máy, nhấn số, chiếc xe chạy tới. Quân nhìn thấy cây phượng vỹ bên kia đường trổ những chùm hoa cuối cùng báo hiệu mùa hè sắp đi qua.
          An ngon trớn trên con dốc quen thuộc, chiếc xe bò cọc cạch chở đầy dừa khô từ từ đi tới. Hai bên thành xe treo vài cặp dừa tươi còn xanh cuống. Con bò già thủng thẳng bước đi, miệng đưa qua, đưa lại nhẩn nha nhai hết mớ cỏ thừa trong bao tử dự phòng. Ngoài biển khơi, lớp sa mù giăng phủ mờ mờ. Từng đợt sóng vung lên cao, hùng hổ chụp xuống như muốn gom tất cả về với lòng đại dương. Biển đang giận dữ, gào thét, thị uy như nhắc nhở với càn khôn vũ trụ “đất trời có lúc nắng mưa, gió bão. Biển cũng có lúc biển động, biển êm”.
          Mùa nầy ghe tàu ít dám ra khơi, nên An và Quân về Dương Đông ăn cưới cũng đành phải đi đường bộ mà thôi.
          Trước mặt An, một đám cô cậu học sinh vất bừa xe đạp bên lề, họ đứng vây quanh dưới gốc sim trà bên lu nước từ thiện (Lu nước nầy của người chủ ngôi nhà nằm sâu phía trong cung cấp, giúp cho khách vãng lai qua lại dừng chân uống vài ngụm nước cho đỡ khát). Có lẽ nhóm học sinh nầy đi cắm trại tại vườn dừa cù Chin, bây giờ họ trở về chuẩn bị cho niên học mới.
          Xe chạy ngang qua cả bọn ríu rít chào hỏi:
          - Chào anh, chào chị! Anh chị về đâu, về đâu?
          An cho xe chậm lại, trả lời:
          - An Thới, An Thới.
          Cậu bé lớn con nhất lè lưỡi:
          - Xa lắm đó, ráng chạy nhanh nghe anh chị...
          Cô bé nhỏ nhất khen vói theo:
          - Chị mặc áo dài đẹp quá!
          Xe An bỏ đám nhóc tì lại phía sau, chạy được một quãng đường nữa, lại gặp một cô, một cậu đang thất tha, thất thểu dắt theo chiếc xe đạp đã xì lốp. Có lẽ hai em nầy cùng nhóm kia, nên cả bọn phải dừng lại nghỉ xả hơi, để đợi bạn.
          An nghĩ bâng quơ - “đường thì còn xa, rủi xe mình bị bể bánh như chiếc xe đạp kia thì biết tính sao đây?”.
          Xe vượt qua cánh đồng sim, bánh xe lăn trên cây cầu gỗ cũ. Một miếng ván mục bung ra, rớt xuống dòng nước chảy phăng phăng. Nếu là mùa hạn, dưới cầu nầy không còn một giọt nước nào. Nhưng bây giờ là mùa mưa, nên nước từ trên rừng đổ xuống nhiều lắm.
          Gần tới dốc ông Tư Cá Nóc, quang cảnh rờn rợn, bầu trời ui ui. Cảm giác lo sợ, hồi hộp xâm chiếm hai người, Quân lên tiếng thở than:
          - Phải chi anh không đi làm ngày mai, mình ngủ lại một đêm, sáng sớm về thì đỡ sợ hơn.
          An ôn tồn:
          - Thì em đã bảo đi về trong ngày mà! Thôi đừng lo, mạng anh lớn lắm, chắc không có chuyện gì đâu!
          An nói xong, phóng xe như bay, bất kể những viên đá nhỏ giữa đường.
          Quân nhắm mắt, gục đầu vào vai chàng. Hai tay nắm cứng yên xe, tà áo dài no gió căng phồng.
          Màu trời chiều đổi sắc, gần giống như màu tro than trong ngày lễ hội Chùa Ông. Gió thổi nhiều, cây lá bên rừng xào xạc làm bầy chim bay về tổ sớm. Tiếng tắc kè núi kêu lên nghe rợn tóc gáy, Quân bấu vào đùi An:
          - Sợ quá anh An ơi, ráng chạy nhanh lên anh!
          - Sắp tới đồn lính rồi, em đừng sợ.
Con đường bớt ngoằn ngoèo, lồi lõm, xe chạy dọc theo bờ biển, êm êm lướt tới ngon lành. Qua đồn lính khoảng vài cây số, màu trời sậm lại, gió thổi vù vù, cây lá ngả nghiêng, mây đen vần vũ kéo về. Tiếng sóng thét gào đập vào gành đá ầm ầm nghe sao ghê rợn! Ngoài biển kia, mặt trời chỉ còn là vùng sáng nhỏ, nhạt nhòa mây phủ.
Con dốc thoai thoải hiện ra trước mặt, An rồ máy xe, sang số, chiếc xe trườn lên dốc nặng nề, chậm chạp. An tăng thêm vận tốc, “con ngựa sắt” cố nuốt thêm một đoạn dốc nữa, tiếng máy nghe cạch cạch, xịch xịch, âm thanh lạ hơn bình thường. Vừa lên tới đỉnh dốc, chiếc xe tắt máy, An trả số, kềm vững tay lái, thả xe xuống dốc, Quân lo lắng hỏi:
- Xe bị chết máy rồi hả anh?
An trấn tỉnh Quân:
- Không sao, đợi xe hết trớn, anh coi nó bị cái gì?
Xe hết trớn dừng lại, An dắt xe vào khoảng trống bên đường, dựng cần xe mở nắp bình xăng, thấy xăng vẫn còn nhiều, An leo lên đạp thử vài lần, xe im lìm bất động. Trên bầu trời sấm chớp liên hồi, tiếng nổ rền rền, ánh lửa màu vàng cam xẹt qua xẹt lại. Hiện tượng thiên nhiên trước khi trời mưa giông sao mà hung tợn quá!
Quân điếng hồn đi sát vào An:
- Em sợ quá! Bây giờ biết làm sao? Chắc mình không tránh được mưa rồi!
Quân tháo đôi giầy cao gót, đi chân trần trên đất, cố tránh né những viên đá nhọn làm đau rát bàn chân.
          An thấy tội nghiệp, đau lòng quá chàng chép miệng:
- Không được! để anh đưa em cái nầy…
An ngồi xuống, tháo dây giầy, rút đôi bàn chân ra, tuột luôn hai chiếc vớ đưa cho Quân:
- Em mang vô, đi chân trần sẽ bị chảy máu đó!
Gió càng lúc càng thổi mạnh, mây đen hối hả kéo về hội tụ. Quân cột hai tà áo dài lại. Bầu trời tối hẳn, cây lá ngả nghiêng theo từng hướng gió, An đưa đồng hồ tay lên nhìn - “Mới hơn sáu giờ, mà sao trời tối quá. Chắc chắn sắp sửa mưa”. Trong bụng An bắt đầu lo. Quân gần như muốn khóc:
- Anh An ơi, em sợ quá! Làm sao bây giờ anh?
Nàng đi sát vào An hơn như tìm sự che chở. An nhíu mày cố nhớ ra - “Hình như ở đoạn đường nầy thuộc xã Dương Tơ hay Đường Bào gì đó… đi thêm vài trăm thước nữa sẽ thấy cái nhà bỏ hoang. Ngôi nhà nầy nằm đơn độc một mình giữa đoạn đường vắng. Vì thời buổi chiến tranh, nên chủ nhà đã dọn về chợ ở. Trước nhà có trồng hai cây dừa cao, ai qua đường cũng đều trông thấy cả”. .
          An vỗ về, khích lệ Quân:
          - Ráng lên em, vài mươi phút nữa mình sẽ tới cái nhà bỏ hoang kia.
          Gió mây kéo về đã thổi mất cái tính lí lắc, hồn nhiên của Quân. Nàng eo xèo, tức tưởi nhỏ xuống những giọt mưa lệ đầu tiên. Tiếp theo là những cơn mưa dầm gió bão ào ạt kéo về. Những hạt mưa thật to thật nặng, An và Quân không biết tránh né vào đâu. An cởi chiếc áo gió đưa cho Quân:
          - Em mặc thêm vào kẻo lạnh! Để anh bị ướt cũng được.
          Hai người lầm lũi đi dưới mưa giông, dắt theo “con ngựa già” trở chứng.
          Ngôi nhà hoang hiện ra trước mặt. An dựng xe nơi gốc dừa, hai người tơi tả dưới cơn mưa bất ngờ... Căn nhà tối ôm, cửa trước bỏ trống. An bật quẹt lửa bước vô, ánh sáng lờ mờ, ngọn lửa chao chao vì gió. Mái nhà sụp xuống một phần, đọng vũng nước mưa trên nền đất. Quân nắm tay đi theo An, vai đeo cái túi. Căn nhà chia đôi, bên phải có lối đi xuống nhà sau, bên trái là cửa buồng ngủ. Ngôi nhà hoang phế dột nát nhiều nơi, ánh sáng chập chờn của cái bật quẹt cũng giúp cho hai người nhận ra quang cảnh chung quanh.
          Nơi nhà bếp, ba cục đá được kê làm ông lò có mớ củi khô, bên cạnh là cây búa cùn mẻ lưỡi. Trời vẫn còn mưa lớn, tiếng gió rít qua kẽ vách của vỏ cây kiền kiền. Ánh lửa vụt tắt, bóng tối tràn lan, Quân nhào tới ôm cứng lấy An. Nàng nhắm nghiền đôi mắt:
          - Ghê quá, em sợ quá đi thôi!
          An lên tiếng:
          - Đừng sợ, đừng sợ! Anh ở đây mà!
          An che hướng gió, bật lại quẹt lửa, ánh sáng phục hồi. Việc đầu tiên An cần làm ngay là mồi một mẻ lửa để hơ khô áo quần và sưởi ấm thân thể. An đưa Quân cầm bật lửa, chàng ngồi xuống chẻ những cây củi khô thành nhiều que nhỏ, bẻ thêm vài miếng vỏ kiền kiền, xé bao thuốc lá xép lại cho dầy, đưa vào mồi lửa. Vỏ kiền kiền và que nhỏ bắt đầu cháy có lửa ngọn, An cho thêm những thanh củi lớn vào. Chỉ một hồi sau, căn nhà bỏ hoang dột nát có ánh lửa hồng cháy sáng. Quân mừng quá reo lên, vui sướng khôn kể, nàng ôm chầm lấy An rối rít khen:
          - Anh hay quá, anh giỏi quá! Thưởng cho anh nè...
          Nàng hôn lên má An một cái chụt, An sướng mê tơi, cảm thấy mình có tài năng, có phong độ.
          An tinh nghịch trêu lại nàng:
          - Hết khóc rồi sao? Chút nữa sẽ khóc tiếp đó!
           Quân ngơ ngác, lo sợ hỏi:
          - Sao vậy anh?
          An cười khó hiểu:
          - Anh làm cho bếp lửa nầy tắt, thì em sẽ khóc ngay phải không?
          Quân rụt cổ:
- Thôi đừng anh, em sợ bóng tối lắm, đừng nhát em mà!
Quân như con thỏ rừng, vẫn nhát gan, vẫn e dè sợ sệt một khi lạc vào vùng đất mới.
An đứng lên đi vòng vòng trong khu bếp kiếm chỗ:
          - Đêm nay mình phải ngủ tạm ở đây rồi đó! Em đi thay đồ đi.
          Quân trả lời gọn lỏn:
          - Em đâu có đem theo đồ!
          An cởi cái áo sơ mi của mình ra, hơ trên lò lửa:
          - Anh hơ cái áo nầy khô, em mặc tạm nhé!
          Năm phút sau chiếc áo đã khô, An trao cho Quân:
          - Em cởi áo dài ra đi, mặc cái nầy vô cho thoải mái.
          Quân ngây thơ hỏi:
          - Em thay đồ ở đâu đây?
          An chỉ vào căn buồng tối om:
          - Em vô đó mà thay!
          - Hổng được đâu, em sợ ma lắm...
Rồi nàng nói tiếp:
          - Em thay ở đây, nhưng cấm anh không được nhìn. Anh quay mặt về hướng kia đi, em đếm, một, hai, ba, khi nào xong anh mới được quay lại.
          An cười thầm trong bụng - “Tội nghiệp cô bé sợ mình nhìn thấy, nhưng mà ở giữa nơi nầy, nếu mình “tấn công” thì cô bé làm sao chống đỡ?”. An tủm tỉm cười với ý nghĩ đó.
          An đưa áo cho Quân, rồi quay mặt về hướng khác:
          - Bắt đầu chưa cô bé?
          Quân cầm lấy chiếc áo:
- Rồi, bắt đầu...
Nàng vừa nói vừa đếm, và cởi nhanh chiếc áo dài ra, tay lòn phía sau mở luôn cái nịt ngực. Nàng mặc nhanh vào chiếc sơ mi của An. Tay vừa gài hàng nút, vừa hô to:
          - Được rồi, quay mặt lại mở mắt ra.
          Nàng thùng thình trong chiếc áo sơ mi trắng của An. Hai gò ngực con gái vun lên dưới làn vải mỏng. An ngó sang nơi khác, tim chàng đập mạnh, rạo rực, khát khao. Quân cúi xuống lượm cái nịt ngực cuộn tròn nhét vào túi xách. Nàng thong thả bước lại ngồi cạnh An, An đứng lên, quơ tay, quơ chân để đè nén ngọn lửa tình đang cháy hừng hực trong tim.
          Dưới ánh lửa hồng, mặt Quân đỏ au au, đôi mắt long lanh gọi người vào cuộc.
          Tiếng nổ tí tách của củi khô, tiếng mưa rơi êm êm ngoài hè, làm An thèm ngủ vùi trong vòng tay và thân thể mềm mại, ấm áp của nàng. Chàng nhìn lên lỗ thủng của mái tranh, bầu trời tối đen không một vì sao. Những sợi mưa nhỏ bay nghiêng nghiêng tạt vào góc bếp. Chàng thầm rên rỉ với đấng Tối Cao - “Chúa đâu rồi Chúa ơi! Vườn địa đàng bỏ ngõ, ngôi nhà hoang không người. Trái táo kia thơm ngon, ngọt ngào mời mọc”.
          Quân vô tình tiến lại, rứt rứt sợi lông trên ngực chàng. An nhột nhạt, khó chịu, rùng mình. Chàng đẩy Quân ra:
          - Đừng làm vậy cô bé, anh nhột…
          Mưa vẫn còn rỉ rả. Tiếng cú kêu bên bìa rừng thêm rùng rợn, thê lương. Hai người cảm thấy đói bụng, Quân chợt nhớ ngoài xe còn giỏ ghẹ. An ngồi xuống, cho thêm củi khô vô, chờ lửa cháy có ngọn, chàng cầm thanh củi cùng Quân ra sân xách giỏ ghẹ vào. Sẵn thanh củi cháy sáng trên tay, An đi xem buồng ngủ. Thấy có cái giường nhỏ bằng vạt tre kê sát góc buồng, trên có trải một chiếc chiếu con hai đầu rách bươm, An nói với Quân:
          - Tối nay em ngủ chỗ nầy!
          - Còn anh ngủ đâu?
          - Ngủ sau bếp.
          - Phòng nầy tối quá em sợ!
          - Sợ gì, có anh bên vách mà! Thôi, chuyện đó để tính sau. Bây giờ mình ra bếp ăn cái đã.
          Một tấm vách bung ra, ông thần gió nhào tới, thổi tắt ngọn lửa. Quân điếng hồn, quýu cẳng, An ôm ngang eo đưa nàng ra bếp.
          Hai người vừa ăn, vừa nhẩn nha tâm sự để quên cái hoàn cảnh khốn khổ lỡ đường.
          - May mà em là đứa con có hiếu, nên anh không nhịn đói đêm nay, ghẹ Hàm Ninh ngon thiệt!
          - Mình ăn phải chừa phần cho ba nữa đó!
          - Biết rồi cô nương!
          An bóng gió úp mở:
          - Không cho anh ăn no, anh ăn luôn em đêm nay đó!
          Quân nguýt yêu chàng:
          - Em sẽ cắn anh.
          Hai người cùng cười, họ rửa tay bằng những giọt nước mưa rớt từ trên mái tranh xuống. Quân lấy cái bánh bông lan đưa cho An:
- Mình ăn bánh nầy để đỡ tanh miệng.
          Họ hứng từng bụm nước mưa đưa vào miệng uống ngon lành. Quân lục lạo trong túi xách, thấy có cái khăn tắm biển, mừng quá nàng lấy đưa cho An:
          - Nầy, anh khoác lên người cho ấm.
          - Mình đi ngủ được chưa? Anh mệt lắm rồi!
          An ngồi xuống cho thêm vào lò một ít củi nữa trước khi đi vô buồng, An nói:
          - Mình ngủ một giấc, khi thức dậy ra cho thêm củi vào nữa là trời sắp sáng rồi…
          An nắm tay Quân dọ dẫm đi vào buồng trong. Ánh sáng lọt qua kẽ vách, lung linh, mờ ảo. An đẩy nhẹ manh chiếu đầy bụi xuống góc nhà, trải chiếc áo gió lên:
          - Em nằm xuống đây đi!
          - Anh nằm đâu?
          An kéo tấm chiếu lại cạnh giường, chỉ tay xuống nền đất:
- Anh nằm đây nầy!
Rồi An đưa luôn cái khăn:
- Em đắp kẻo lạnh!
          Quân xúc động, giọng run run:
          - Anh lên đây nằm chung với em luôn đi.
          An thật thà:
          - Anh sợ... không giữ gìn cho em được!
          Quân nước mắt trào ra nhanh như cơn mưa chiều nay:
          - Đời nầy, kiếp nầy, em là của anh, anh là của em. Có lẽ đây là ý trời!
          Quân nhích người sang một bên nhường chỗ cho An.
An cúi xuống hôn lên mắt người yêu, nuốt từng giọt lệ mặn nồng tình nghĩa gối chăn. Một hiến dâng trọn vẹn, một hy sinh chính đáng, chàng quá xúc động ôm chầm lấy nàng. Hai bóng chỉ còn là một, một bờ vai, một vòng tay, những ngón tay phiêu lưu mộng mị, đưa Quân vào tận cõi lênh đênh… Ngoài kia ánh lửa hồng nhảy múa reo vui, chúc tụng tình yêu của hai người lên ngôi diễm tuyệt.
          Đêm tình sử, đêm hoan lạc tìm nhau, đêm mưa dầm thấm đất, kích thích cây tình yêu sớm trổ những đóa hoa ái ân trước mùa ước hẹn.


          Ông Hai vừa thắp sáng cây đèn dầu hiệu huê kỳ, thì ngọn đèn điện cũng vừa vụt tắt. Ở đây dân cư sống chung quanh Duyên Đoàn 42 hoặc Bộ Tư Lệnh đều xài ké điện của quân đội, nên mỗi đêm vào giờ giấc ấn định, nguồn điện sẽ bị cúp. Mọi người, mọi nhà phải chuẩn bị sẵn một cây đèn dầu, ngoại trừ những ngày lễ, Tết nguồn điện sẽ đươc cung cấp lâu hơn. Ánh đèn dầu tỏa ra, bóng hai người lung linh, nhúc nhích theo từng động tác in đậm trên tường nhà. Thông thường giờ nầy ông Hai đã đi ngủ, nhưng gần hai tuần nay, Quân vào trường sư phạm, hầu như đêm nào An cũng ghé thăm ông, chuyện trò với ông để ông vơi bớt nỗi cô đơn, trống vắng. Một phần do sự gởi gắm của Quân, phần khác chính tận trong thâm tâm chàng nhận thấy mình có trách nhiệm, quan tâm, chăm sóc ông nhiều hơn. Vì chàng cảm thấy mình như người phạm tội, lén lút hái trộm một cành hoa quý trong khu vườn nhà ông. Quân chính là cành hoa quý đó. Suốt hai mươi năm qua, ông đã dầy công chăm bón, gìn giữ, nâng niu đóa hoa xinh tươi đang thời nở rộ, để rồi cánh bướm say tình hút từng giọt mật. Sau cái đêm mưa gió giữa đường, bướm hoa ướt cánh, chờ buổi bình minh ánh nắng chan hòa hong khô cánh mộng. Hoa, bướm vào mùa, bay lượn bên nhau. Mùa vu quy pháo nổ, mùa cưới xin rộn ràng, ngày ấy An mới cảm thấy thoát ra khỏi cái mặc cảm tội tình kia.
          Thời gian yêu Quân, An có cơ hội tiếp xúc, gần gũi ông Hai nhiều. An nhận thấy ông Hai là người dễ tính, đời sống đơn giản, không câu nệ, khách sáo. Trái với bố An, tính tình nghiêm khắc, kiểu cách, khó khăn. Nhất là cái tính độc đoán của ông, không như ông Hai, biết lấy hạnh phúc của con mình làm niềm vui cho tuổi già trong quãng đời còn lại nên An càng quý mến ông hơn. Chàng thấy cũng cần thiết trình bày ý định của mình muốn sống đời ở kiếp với Quân. Chưa kịp trình thưa, thì ông Hai đã mở đầu câu chuyện:
- Cháu An, bác không biết nói lời gì để cảm ơn cháu! Con Quân đã đi học xa rồi, mà cháu vẫn còn lui tới chăm sóc, quan tâm đến bác, điều nầy cũng làm bác bớt đi một mình, một bóng buồn nhớ con Quân. Bác biết cháu thương con Quân thiệt tình, nhưng hoàn cảnh thắt ngặt của bố cháu, thì cháu tính sao đây?
          Chuyện bố An bắt chàng cưới người con gái khác, chắc Quân đã nhỏ to với ông rồi! Nên nhân dịp nầy An mới có cơ hội trình bày thêm coi phản ứng ông Hai ra sao?
           An đằng hắng lấy giọng rồi trịnh trọng thưa:        
          - Thưa bác, bác không chấp nhất người trẻ nói chuyện cưới xin với bậc cha, chú thì cháu cũng xin bày tỏ nỗi lòng. Bố của cháu có cái tính cố hữu là bắt mọi người đều phải nghe theo mình. Kỳ vừa qua về phép, cháu chưa kịp trình thưa chuyện cháu và Quân yêu nhau thì đã xảy ra chuyện không vui ấy. Nhưng trong việc cưới vợ của cháu, thiết nghĩ rằng cháu phải tự quyết định. Cháu yêu thương ai thì phải cưới người đó, ở phần cháu thì đã nhất quyết như vậy rồi. Tháng mười hai, vào dịp lễ Giáng Sinh Quân sẽ về đây, nếu bác cho phép, cháu sẽ tổ chức một buổi tiệc đính hôn trong câu lạc bộ đơn vị, nhân dịp cháu được thăng cấp, rồi sau đó, khi em Quân mãn khóa học, cháu cố gắng thuyết phục bố mẹ để có một đám cưới đàng hoàng, tốt đẹp.
          Ông Hai chưa trả lời các đề nghị cưới xin của An. Ông lại đặt một vấn đề tiêu cực nhất để xem chàng tính toán ra sao:
          - Nếu bố mẹ cháu cứ khăng khăng không chịu cưới con Quân thì sao?
          An trầm ngâm giây lát rồi ngó thẳng vào mắt ông Hai:
          - Sang năm tới, cháu đã hai mươi tám tuổi rồi, lại là một sĩ quan, có đủ trưởng thành để tự quyết định hôn nhân của mình, chớ không phải lệ thuộc mãi vào sự áp đặt của bố mẹ nữa.
          Ông Hai thấy quyết tâm và sự chân thành của An, ông cũng muốn chia xẻ nỗi niềm của mình:
          - Con Quân là đứa con gái ngoan hiền và rất có hiếu. Vì việc học, tôi phải sống xa nó suốt bao nhiêu năm nay. Sau nầy gả nó lấy chồng, tôi cũng mong nó sống quanh quẩn ở bên tôi, không muốn nó đi làm dâu nhà người khác, mà phải sống xa cha già, trong lúc trở trời, trái gió, biết trông cậy vào ai?
          Ông Hai đắn đo một chút rồi nói huỵch toẹt ra:
          - Thú thật với cậu, chuyện sui gia có thì cũng tốt, không có thì cũng chẳng sao. Miễn sao con gái tôi sống hạnh phúc bên chồng, bên con là tôi toại nguyện lắm rồi!
          Ông Hai cứ nơm nớp, sợ Quân giống như hai chị nàng, lấy chồng xong là đi miết, ít khi về thăm viếng ông. Ông bám víu chiếc phao cuối cùng là Quân, từ tinh thần lẫn vật chất. Người già như thời tiết, lúc nắng, lúc mưa, lỡ bệnh họan bất ngờ, có Quân bên cạnh còn lo được thang thuốc, chén cơm.
          An chia xẻ, cảm thông nỗi lòng của bậc làm cha. Sức khỏe người già như bình rượu cũ, để lâu ngày tự nó bốc hơi, hao hụt theo năm tháng. Ông Hai góa vợ, chỉ biết trông cậy vào đứa con gái út nầy.
          An xuôi ngược đó đây, quen biết nhiều người bạn miền Nam, tính tình họ chân chất, bộc trực, có sao nói vậy, không màu mè, đãi bôi. Khi đến Phú Quốc, lên thăm Dương Đông và phục vụ tại An Thới, chàng có cơ hội tiếp xúc nhiều thành phần từ muôn xứ xa đến đây lập nghiệp. Ông Hai đã là người lây nhiễm cái tính chân thật, hiền lành đó.
          An quý cái chất phác, ngay tình và bình dị cuả ông, nên chàng không ngần ngại trải lòng mình ra hứa hẹn:
          - Thưa bác, nếu cháu cưới được Quân, hải đảo nầy là quê hương của cháu. Cháu sẽ sống cận kề bác, lo cho bác trong tuổi già sức yếu, xin bác an tâm.
          Ông Hai chớp chớp đôi mắt vì quá cảm động trước lời nói của An, An nói thêm:
          - Cháu còn năm ngày phép. Vài tuần nữa cháu về Sàigòn để sắm chút quà bánh cho ngày đính hôn, luôn tiện bác cần mua sắm gì thì cũng cho cháu biết. Việc nầy cháu muốn dành sự ngạc nhiên cho Quân, vậy kính mong bác khoan nói với Quân.
          Ông Hai dễ dãi:
          - Ờ, thì tùy ý cháu, sao cũng được, mỗi khi vô Rạch Giá bác cũng không gặp được nó, kỳ nầy nó đi học xa quá!
          Ngọn đèn bớt sáng vì dầu sắp cạn. An đứng lên xin phép ra về và ân cần nhắc nhở:
          - Ngày chủ nhật cháu rảnh, nếu bác có điều gì sai bảo thì xin bác cho cháu biết, bác đừng ngại.
          Con chó Vàng nằm ngoài hiên, theo ông Hai tiễn An ra cổng. Đã từ lâu lắm rồi, nó coi An như người nhà, không còn sủa ồn ào như dạo trước nữa.
          Hai bên hàng xóm, cửa đóng im lìm, đèn tắt tối om, mọi người đã ngủ. An chào từ biệt ông Hai, lòng phơi phới, nhẹ nhàng. Con đường tình yêu thênh thang trước mặt, con đường hạnh phúc đợi chờ. Một buổi lễ đính hôn diễn ra, mọi khó khăn, trắc trở sẽ vượt qua. Ngày ấy trời trong mây tạnh, con tàu tình ái sẽ lướt êm trên biển đời yêu đương thắm mộng. Hàng xóm láng giềng không còn dị nghị, chàng sẽ danh chánh ngôn thuận đến thăm Quân bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Ngay cả tại trường sư phạm Vĩnh Long.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét