Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Qua Biển - Chương 2: Ngày Tháng Rong Chơi


An đã ổn định cuộc sống sau hơn một tháng rưỡi ở đây. Ngày hai buổi đến sở làm, công việc chẳng có gì phức tạp, nghề lính thì đâu cũng giống nhau. Làm báo cáo, gởi các công văn, công điện đến các đơn vị trực thuộc. Dùng máy vô tuyến để liên lạc, truyền tin những tin tức khẩn cấp. Theo dõi trên hải đồ những tàu bè qua lại, cùng các hoạt động của Tuần Dương Hạm và PCF trên mặt biển thuộc khu vục kiểm soát của Bộ Tư Lệnh Vùng 4 Duyên Hải. Công việc có thể làm từ ngày nầy sang ngày khác, mấy quyển sách đọc riết rồi cũng chán. Chàng lại thả bộ ra quán cà phê ngoài phố, ngồi nhâm nhi để giết thời giờ. Lần nào ra phố An cũng cố ý đi ngang tiệm thuốc bắc mà lần mới đến chàng đã trông thấy một người đẹp xuất hiện. Nàng xuất hiện như một “Mỹ nhân ngư”, trồi lên mặt nước, rồi quẫy đuôi một cái lặn mất tăm hơi, để lại cho chàng bao nỗi ngẩn ngơ, luyến tiếc, khao khát ngóng tìm, mong có ngày gặp lại...
          Đã bao lần ra phố, đã bao đêm trăn trở, niềm hy vọng đang trở thành tuyệt vọng. Cô gái cá kia đang nhởn nhơ bơi lội nơi vùng biển nào đây? Sao chưa lên đảo sưởi ánh mặt trời ấm áp, hay nàng cố tình lẩn trốn người trai lính thủy đa tình, lãng mạn, thương nhớ vu vơ, nhưng chưa lần bày tỏ niềm yêu thương thầm kín.
          An nghĩ nhiều về cô gái ấy, nhưng cơ hội gặp lại thì quá mong manh, nên bỗng dưng chàng quên bặt cô nàng. An không còn nghĩ đến người đẹp sau gần hai tháng vui chơi với đám bạn bè xưa cũ. Họ quen nhau từ khi còn ở Đà Lạt và quân trường, sau khi mãn khóa, mỗi người đổi về mỗi chỗ khác nhau. Lần nầy tình cờ gặp lại giữa chốn trời nước bao la, xa cảnh phồn hoa đô hội, nên họ thường kéo nhau đi nhậu sau giờ làm việc, chén anh, chén tôi, ly đầy ly vơi, cho thỏa chí mấy năm trời không gặp. Ba tuần lễ liên tiếp, họ kéo An đi tắm biển, bắt cá tại một bãi biển rất nên thơ, rất thiên nhiên, quyến rũ. Bãi cát trắng phau, mịn màng như không có dấu chân người lui tới. Màu nước xanh trong vắt, mát rượi, mực nước không sâu lắm, đi ra xa mà cát dưới chân vẫn còn nâng đỡ cả thân người. Thật là một bãi tắm lý tưởng và an toàn.
          Câu chuyện tắm biển của tuần lễ kia đã làm An xấu hổ vô cùng. Buổi sáng chủ nhật, chàng còn nằm nướng lại trên giường, bọn Vũ, Sang (Trung úy quân cảnh ) đến tận phòng, lôi chàng đi tắm biển với bọn họ. Xe Jeep chở bọn họ cùng với ba cô giáo trường làng, cô Ngoan, cô Phấn và cô Hồng, các cô giáo cũng là người quen, bạn bè của họ đã lâu ngày, An là người mới, nên có chút ngại ngần. Xe trực chỉ chạy tới bãi Khem (Kem), Khu bãi nầy nằm về phía đông bên cạnh trại giam tù binh Cộng Sản. Bốn Tiểu Đoàn Quân Cảnh được biệt phái canh phòng, trông coi trại giam. Bãi Khem nằm trong khu vực quân sự nên cấm thường dân lai vãng. Dù thế, khi các người đẹp từ Sàigòn ra, hoặc các cô ca sĩ của Đoàn Văn Nghệ Biệt Khu Thủ Đô hay Hoa Tình Thương đến để trình diễn cho lính coi, dĩ nhiên, hôm sau phải đưa các người đẹp đó đi tắm biển, đi săn cá. Các ông đơn vị trưởng có cơ hội ga-lăng và phục vụ các người đẹp hết mình.
          Xe của bọn An vượt qua đường mòn Trinh Nữ, rồi lại leo dốc đồi Ái Ân, băng ngang nhà Thủy Tạ mới tới được bãi Khem (Những danh từ trên đều do các anh quân cảnh đặt tên, những cái tên rất thơ mộng dễ yêu, vì các nơi nầy đều nằm trong khu vực của bốn tiểu đoàn quân cảnh trú đóng).
          Mặt biển phẳng lặng, bãi cát trắng tinh, chưa in dấu chân người, các cô đã mặc sẵn đồ tắm bên trong, vừa thấy nước, các người đẹp vội chạy ào xuống. Vũ, Sang cũng thế, hai cặp nầy bơi giỏi lắm, còn lại An và cô giáo Phấn bơi dỡ nên thủng thẳng xuống nước. Hai người không dám ra xa nên lẩn quẩn gần bờ, mực nước xăm xắp ngang ngực. Bỗng dưng cô giáo Phấn hét lên:
          - Úi cha, đau quá!
An đứng gần đó, lo lắng hỏi:
          - Chuyện gì thế, cô Phấn?
          - Phấn chẳng biết nữa! Cái chân đau nhức lắm...
Vừa nói, tay Phấn vừa bơi, một chân cò cò vô bờ. An đến gần dìu cô giáo Phấn lên bãi.    
Phấn ngồi bẹp trên cát, nàng lật bàn chân lên coi, An nhìn thấy là biết ngay Phấn đã bị nhum đâm (miền khác gọi con nầy là con Cầu gai vì nó có hình tròn như quả banh, chung quanh lại toàn là gai nhọn). Thứ nầy đâm vô da thịt thì nhức thấu xương.
Nước mắt bắt đầu ứa ra, Phấn cắn răng, mím môi để dằn cơn đau nhức. An ngó ra xa, đưa tay ngoắc ngoắc bọn Vũ, Sang ra dấu bảo họ bơi vào bờ.
Sang vô tư cười trên sự đau khổ của Phấn:
          - Không sao đâu cô Phấn, tôi có cách...
          Nói đoạn, Sang bước tới bỏ nhỏ vào tai An:
          - Mầy cho cổ xin chút nước tiểu đi! Cái quỷ nầy kỵ nước tiểu, có nước ấy gai sẽ tan nhanh.
          An vừa xấu hổ vừa xùng vì lời đề nghị kỳ cục của Sang, chàng nổi cáu:
          - Mầy cho đi! Còn thằng Vũ nữa.
          - Tao mới tè xong hết rồi.
          An bực bội, xẵng giọng:
          - Tao cũng vậy!
          - Đừng xạo! Làm anh hùng cứu mỹ nhân đi mầy.
          Phấn tiếp tục kêu la, đau đớn. Hai cô giáo kia xúm lại ôm chân bạn, Hồng an ủi:
          - Mầy ráng đi, coi mấy anh ấy có giúp được gì không?
          Phấn nhăn nhó:
          - Mấy ảnh bàn tán gì mà lâu thế? Sao không chở tao về bệnh xá để lấy gai ra.
          Vũ chạy tới kéo tay An lên bìa rừng, một lát sau cả ba người trở xuống, bưng theo một vỏ ốc to, trong đó có đựng một thứ nước vàng vàng, đang còn âm ấm, Sang bưng đến trước mặt Phấn:
- Nầy, cô ngâm chân vào đây, năm phút sau là hết nhức ngay.
          Phấn không cần thắc mắc, nước đó là nước gì, có lẽ vì nhức quá nên nàng cứ y lời Sang bảo, hoặc giả nàng chắc cũng hiểu cách chữa khẩn cấp là phải dùng thứ nước nầy đây! Thế rồi năm phút sau các gai kia từ từ tan dần, Phấn không còn kêu la, đau đớn nữa. Một lối chữa mẹo vô cùng hiệu quả. An học được kinh nghiệm quý báu đó, chàng được tiếng vừa nghĩa hiệp vừa khôi hài vì câu chuyện trên.
Các bãi biển trong khu vực An Thới, thỉnh thoảng có vài chú nhum đi lạc, nên cũng gây hãi hùng cho các người đẹp hoặc các người ở xa mới tới, chớ nếu dân địa phương thì hầu hết ai cũng biết cách chữa ấy. Nhum đâm thì cứ đâm, người tắm biển thì cứ tắm. Cũng giống như An thích ngao du sơn thủy, thích ngắm sóng nước mây trời. Vì thế chàng hay để ý đến quang cảnh chung quanh.
          Từ hướng đông nam, phần cuối cùng của đảo, mũi đá nhọn phía bên bờ xa kia kéo dài thành một hình vòng cung đến đường phi đạo và từ phi đạo kéo thêm một vòng cung nữa là tới mũi Phước Hưng nằm về hướng tây nam (hình thể như số ba nằm ngửa) chia ra làm hai khu vực rõ rệt. Hãy lấy đường phi đạo làm chuẩn, vùng khu quân sự tính từ cổng Bộ Tư Lệnh đến khu vực phi trường, còn từ ngoài hàng rào của Bộ Tư Lệnh trở ra tới mũi Phước Hưng là khu dân sự. Bến tàu, bến cá, tiệm quán và nhà cửa của dân chúng địa phương. Bãi biển An tắm mấy tuần qua rất đẹp, sát bờ có một cánh rừng con, đất không cao, rừng lá lưa thưa, nhiều loại cây trái nhưng chỉ là trái cây hoang dã mà thôi. Cánh rừng nhỏ nầy chạy dọc theo triền núi, bọc sau lưng Đặc khu, kéo dài tới trại giam. Nếu đi sang bờ rừng bên kia sẽ có bãi biển khác. Bãi nầy khá dài, phong cảnh rất hữu tình nên thơ nhưng không kém phần hùng vĩ. Từ hướng đông nam, nếu ra xa cách bờ khoảng hơn cây số thì mực nước sâu lắm. Ngày xưa thường có cá mập xuất hiện, nhưng sau nầy không thấy nữa. Dân địa phương kể rằng: “Thời chúa Nguyễn đánh với nhà Tây Sơn có lúc bị thua trận, phải bôn ba, cầu viện Xiêm-La. Khi đi ngang qua vùng biển Phú Quốc, ngài liền cho tàu chiến ghé lên bờ để tìm thức ăn, nước uống cho ba quân tướng sĩ, vì trên tàu đã khô cạn lương thực. Ngài và đám tùy tùng lên bãi nhưng không tìm đâu ra nguồn nước ngọt cho quân lính uống trong cơn đói khát. Bao nhiêu giếng được đào lên nhưng đều không có nước ngọt, ngài liền ra lệnh đi qua vùng bãi bên kia coi xem sao. Cả đám người băng qua một cánh rừng nhỏ, lọt vào mặt biển phía đông, nhưng rồi ngài lại vô cùng thất vọng, chẳng có con suối nào, chẳng có dòng nước ngọt nào trên phần đất tạm lưu quân nầy. Ngài bước lên một tảng đá cao nằm sát bờ biển rồi khấn vái đất trời cùng thần linh: ‘xin hãy ban cho một nguồn nước ngọt, để ba quân, tướng sĩ mới có thể qua cơn đói khát nầy!’
          Sau khi khấn vái đất trời thần linh, ngài Nguyễn Ánh toan quỳ xuống bái tạ, thanh gươm báu đeo bên hông làm trở ngại, ngài liền rút gươm cấm phập vào khe đá bên cạnh. Thật kỳ diệu thay, một dòng nước tuôn ra từ kẽ nứt của tảng đá nọ, khiến mọi người vô cùng mừng rỡ và ngạc nhiên lắm. Ngài cúi xuống nếm thử coi sao? Vị nước ngọt dịu, mát rượị, không tanh hôi gì cả. Mạch nước cứ chảy ra triền miên đến mãi về sau nầy vẫn còn cái nguồn nước ấy. Cái nguồn nước đã cứu thoát quân lính nhà Nguyễn trên đường bôn tẩu một cách huyền diệu. Nguồn nước ấy nằm sát bờ biển, lại từ trong khe đá chảy ra do mũi kiếm báu của chúa Nguyễn khơi dòng, nên dân chúng địa phương đặt cho một cái tên lịch sử là Giếng Gia Long.
           Hiện nay trên bờ đá kia, còn lờ mờ dấu chân của chúa Nguyễn in lên nhưng theo thời gian đã không còn đậm nét.
          Nhờ có giếng nước ngọt nầy, chúa Nguyễn hạ lệnh cho tất cả quân lính lên bờ, ăn uống no nê, thực phẩm thì chài cá biển, còn rau trái thì hái trong rừng. Như thế cũng tạm lưu quân ở đây để chờ mọi người hồi phục sức lực, dũng khí và tinh thần hăng hái mới lên đường. Nhưng một ngày kia, thám tử báo cáo rằng, đoàn quân nhà Tây Sơn đuổi theo ráo riết sắp đến sát mục tiêu. Chúa Nguyễn vội vã ra lệnh cho ba quân, tướng sĩ lên tàu và nhổ neo chạy về hướng tây bắc. Trong đêm tối trời, các chiếc tàu khác đều nhổ neo lên hết, nhẹ nhàng không trở ngại, chỉ có chiếc tàu của ngài bị trục trặc, chẳng hiểu vì sao mà neo cứ nặng chình chịch, kéo hoài không cách nào nhúc nhích nổi. Trong lúc ấy có ông Đội Trưởng với tài lặn, lội không ai bì kịp. Ông Đội liền lao mình xuống biển lặn một hơi dài, để xem xét tình hình trắc trở của dây neo. Bãi đêm lạnh lẽo, mặt nước đen ngòm, bóng hình ông có xuống nhưng chờ mãi không thấy ông trồi lên. Cả đám người trên tàu rất sốt ruột, nhưng không thể chờ mãi được, chúa Nguyễn liền ra lệnh kéo neo lên thử. Lạ lùng thay, bây giờ đường dây neo kéo lên thong thả, nhẹ nhàng. Đoàn tàu vội vàng trực chỉ hướng Dương Đông. Chúa Nguyễn đành bỏ lại một công thần trung can liệt nghĩa, và bãi Ông Đội được mang danh từ đó.
          Khi đến Dương Đông, chúa Nguyễn cho quân lính dựng trại, dựng lều ở đấy khá lâu. Thời gian đầu vì chưa quen thủy thổ, nên có rất nhiều binh sĩ ngã bệnh chanh nước (Một thứ bệnh bụng chương to, người kiệt sức, mệt mỏi, vàng da) binh sĩ không còn sức lực chiến đấu. Một lần nữa ngài lại khấn vái linh thần, có lẽ vì số ngài có chân mạng Đế Vương nên được thần linh mách bảo trong giấc mơ - ‘Hãy hái lá muồng đun sôi, lấy nước uống sẽ chữa được chứng chanh nước.’ (Loại lá muồng nầy thường mọc theo bờ suối, bờ sông, hoặc nơi ẩm ướt). Nhờ toa thuốc ấy của thần linh mà binh lính đã thoát qua cơn bệnh ngặt nghèo. Thắng nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn lên ngôi, nhớ các ơn ấy nên sau nầy vua nhà Nguyễn phong nhiều sắc chỉ và phong Thần cho đình Ông Bổn tại thị trấn Dương Đông”.
          An ở đây, nhìn thấy biển trời mênh mông, bát ngát, nghe từng câu chuyện kể lạ lùng, mầu nhiệm, như thấy lại hình ảnh của tiền nhân, như đang sống trong thời kỳ đó. Mỗi câu chuyện là một đề tài hấp dẫn, đưa chàng gần gũi hơn, cảm tình hơn với hải đảo Phú Quốc nầy. Chàng cũng thường để ý đến các chi tiết nhỏ nhặt khác. Mỗi lần đầu tháng, đường sá, phố chợ trở nên tấp nập, huyên náo, vui nhộn hơn. Tiếng xe chạy lên xuống ầm ì, người qua lại đông đúc, hàng hóa cũng được chở đến nhiều hơn. Có lẽ vì ngày đầu tháng là ngày lãnh lương, nên các anh em mới có tiền ăn nhậu, tiêu xài mua sắm những thứ đồ cần thiết. Khuôn mặt địa phương sẽ khác lạ mỗi khi tàu tuần dương cập bến. Các anh lính nước lên bờ, đi đầy cả đường phố, các tiệm bán bia thì mặc tình hốt bạc, các anh em xả láng, cho bỏ những ngày tháng dưới tàu cùm chân, co cẳng.
          Dù một thị xã nhỏ nhoi (Toàn đảo Phú Quốc chiều dài từ bắc xuống nam khoảng 50 kí lô mét, chỗ hẹp nhất là vùng An Thới khoảng 3 kí lô mét. Chỗ rộng nhất là vùng Bắc Đảo 25 kí lô mét). Dân toàn đảo không quá 15 ngàn, tại An Thới trên dưới 3000 dân không kể tù binh và quân đội. Nơi đây nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt bình thường cũng khá đầy đủ, nhà thờ, chùa, trường học, tiệm sách báo, tiệm giặt ủi, chỗ nấu cơm tháng, tiệm thuốc bắc, thuốc tây, rạp xi-nê, bệnh xá v.v… nói tóm lại chẳng thiếu thứ gì. Nếu một người an phận thì sống ở đây thoải mái, bình yên hơn nhiều. Cuộc sống không bon chen, tranh giành, hay đòi hỏi những thứ ngoài tầm tay.
         
          Ngày tháng phẳng lặng trôi qua, sau bữa cơm chiều, An thường nhắc chiếc ghế bố dựa lưng ra ngồi dưới mái hiên của dãy cư xá độc thân. Dãy nhà nầy cất dọc theo bờ biển, nằm bên cạnh Bộ Tư Lệnh một khoảng. Nơi đây chàng có thể ngắm rõ cảnh chiều êm ả của đại dương. Mấy chiếc thuyền chài nhàn nhã vào bến. Ngoài khơi kia chàng thấy bóng một hòn đảo nhỏ lờ mờ, nghe đâu nó được gọi là Hòn Thơm gì đó... Ngó sang mạn phải, chàng thấy ngay một căn nhà khá đồ sộ, xây trên mỏm đất cao. Đó là nhà sản xuất nước mắm Phước Hưng, nên dân chúng gọi nơi phần đất nhô ra là mũi Phước Hưng cho tiện. Phía trái của chàng, qua mấy dãy nhà che khuất một phần bờ biển, đường phi đạo chắn ngang là chỗ máy bay quân sự lên xuống thường ngày. Chạy dọc theo phi trường có một dãy núi thấp, cây lá xanh um, giữa lưng chừng triền núi, An thấy một quang cảnh rất nên thơ, mấy bóng cây cao lá mùa đỏ ối, làm tô đậm thêm nét sắc màu trong buổi chiều cuối thu. Một đàn hải âu vỗ cánh bay ngang rồi mất hút, xa xa làn sóng bạc nhấp nhô theo cơn gió lăn tăn vỗ nhẹ vào bờ. Trên nền trời cao thẳm, trong vắt, vài cụm mây trắng lặng lờ trôi. Cõi lòng An cảm thấy phới phới, nhàn du trong khung cảnh bình yên của nơi chốn nầy. Chàng thả hồn rong chơi trên ngàn con sóng biển. Màu trời tối hơn, mặt biển đã pha màu hồng cam rồi tim tím. Ánh tà dương từ từ rớt xuống dưới làn nước mù xa tận cuối chân trời. Một ngày như mọi ngày tuần tự trôi qua.
          Sáng nay đại úy Xuân đã cho An biết là nội trong tuần tới, chàng sẽ được đi một chuyến công tác đặc biệt vào Sàigòn. Cái tin nầy làm cho An thấy vui lên. Tính ra thì chàng đã ở đây được ba tháng rồi! Thời gian lẹ thiệt... An đã có dự dịnh, gần ngày đi chàng sẽ mua một số chai nước mắm ngon, vài ký khô thiều, một ít khô mực thượng hạng về biếu người quen ở Sàigòn. Những thức ăn hải sản đối với dân thành phố rất là quý. Rồi khi trở ra, An sẽ mua những thứ khác như nem chua, vịt quay để kéo cả đám bạn nhậu cho say một bữa, nghiêng ngửa đất trời.

*     *   *

          An tay xách, nách mang lần lượt di chuyển hết mấy thùng đồ lớn xuống tàu. Con tàu gỗ mà ba tháng trước đã đưa chàng về vùng đất lưu đày nầy. Rồi bây giờ nó mang chàng trở lại đất liền sau một đêm lênh đênh trên sóng nước.
          An tìm một chỗ tốt dựa lưng. Bầu trời quang đãng thấy rõ những vì sao đêm lấp lánh, dù rằng trời chưa tối lắm. Chàng ngồi hút thuốc và ngó lung ra đại dương, khi tàu qua khỏi Hòn Thơm thì trời đã tối hẳn, gió thổi nhiều hơn, mọi người hình như đã vắng bặt những câu chuyện phiếm. Ai cũng tìm cho mình một chỗ nằm hay một chỗ ngồi thích hợp. An nằm xuống, đầu kê lên thùng quà, hai chân co lại, vì chàng khá cao, chân tay dài hơn người thường, khi đi, khi nằm đều chiếm lắm chỗ! Chiếc áo ba-đờ-suy chàng phủ lên mình cũng che được phần nào sương gió của biển đêm. Con tàu lầm lũi đi trong đêm tối tịch mịch và An cũng đã âm thầm, êm ái đi vào giấc ngủ.
          Quá nửa đêm, con tàu bị trục trặc máy móc bất ngờ, nên đã nằm ì một chỗ, sau mấy giờ sửa chữa, máy tàu đã hoạt động trở lại bình thường. Con tàu tiếp tục lên đường, sắp vào bến cảng Rạch Giá thì một chuyện rắc rối nữa xảy ra. Mực nước thủy triều đã rút xuống, tàu không thể nào vào bến dễ dàng, vì gần bờ biển có vùng đất bồi kéo dài ra tận ngoài xa. Những tàu bè lớn, chỉ có thể cập bến khi con nước dâng lên cao mà thôi. Chiếc tàu chở An cũng phải đành chờ đợi, mãi đến gần xế chiều mới về tới bến cảng Rạch Gía.
          Khi An lên bờ được, thì không còn chiếc xe đò nào chạy về Sàigòn nữa, chàng đành phải nghỉ tạm qua đêm tại thị xã nầy. An thuê một căn phòng tại khách sạn gần bờ sông, sau khi tắm rửa cho khỏe, chàng gọi chiếc xích lô đạp đến một tiệm ăn cạnh bến xe Sàigòn - Lục tỉnh, chàng hỏi thăm chuyến xe về Sàigòn sẽ khởi hành ngày mai lúc mấy giờ để chàng tiện việc sắp xếp, kẻo không sẽ bị trễ nữa!
          Cơm nước xong, thấy trời còn sớm, nên An gọi một chiếc xe ôm đi đến hậu trạm Hải Quân, phía bên kia Tòa Hành Chánh gần Ty Khí Tượng để lấy một số hồ sơ và văn kiện cần thiết về báo cáo với Bộ Tư Lệnh Sàigòn. Khi chàng lo xong mọi việc, thì thành phố cũng vừa lên đèn. Bầu trời vào đông, mây xám về giăng tứ phía. Ánh đèn điện bên kia góc đường tỏa ra thứ ánh sáng vàng vàng hiu hắt, khiến cho tâm trạng của An càng thấy chạnh lòng và cô đơn hơn. Một đêm ở tỉnh lỵ, không nơi chốn ghé vào, không bạn bè tâm sự. Chàng thả bộ đi dọc theo bờ sông, gió biển thổi vào mát lạnh, chàng cho tay vào túi áo ba-đờ-suy để tìm hơi ấm sau lớp vải mềm. Từng cặp tình nhân ngồi trên ghế đá dọc sát mé sông, họ âu yếm ngồi kề nhau tâm sự. Tay anh chàng choàng qua vai người tình bé nhỏ. An cũng đang thầm mơ ước - “Phải chi bên cạnh ta cũng có một giai nhân, một người tình để ấm lòng trong cơn gió đông lạnh lẽo buốt giá nầy”.
          An giật bắn người vì chàng vừa thoáng thấy cô gái tóc dài với chiếc áo vàng ngày nọ, nàng đang chạy chiếc Hon-Đa đam ngược chiều. Đôi mắt tròn to, đăm đăm nhìn về phía trước, nàng cho xe chạy với tốc độ trung bình, hai tay ghì chặt ghi-đông vì xe đang đổ dốc. An quá mừng rỡ và cũng vì quýnh quá, chàng liền kêu lên:
          - Ơ, ơ...cô, cô... cô bé!
          Nàng nghe tiếng kêu, liền quay mặt lại nhìn, nhưng có lẽ sau khi thấy người gọi mình gương mặt lạ hoắc, chưa quen bao giờ nên nàng thản nhiên cho xe chạy tiếp tục. Nàng nghĩ thầm - “Anh chàng nầy nhận lầm người rồi, không liên quan gì đến ta, cứ phớt tỉnh là xong”.
          Trong khi đó, An như cụt hứng, tiu nghỉu, vò đầu rồi đưa tay xoa mặt. Chàng như tiếc rẻ, pha lẫn chút bực bội - “Phải chi ta có chiếc xe gắn máy thì đâu thể buông tha người đẹp một cách dễ dàng như vậy. Cơ hội đã đến mà không tài nào bắt lấy kịp, để bóng hình người đẹp lại biến mất giữa khung cảnh ảm đạm, vắng lặng về đêm”. An ngước mặt nhìn trời lẩm bẩm - “Ông trời ơi, sao ông cứ trêu chọc con mãi thế nầy! Hãy cho con có cơ hội quen nàng, con muôn vàn cảm tạ…”. Chàng đi với cõi lòng buồn bã, luyến tiếc ngẩn ngơ. Niềm thất vọng làm chàng trở lại khách sạn sớm hơn, An nằm trên chiếc giường trải ra trắng, với đầy ắp suy tư về người con gái đã hai lần gặp gỡ, đã hai lần vô duyên chối bỏ những lời chân tình sắp sửa gởi trao. Lần gặp gỡ đầu tiên, nàng đã cho chàng cái cảm giác lâng lâng, xao xuyến trong phút giây kỳ ngộ vội vàng. Còn lần nầy thì khác hẳn, cảm giác xốn xang hối tiếc, ngỡ ngàng và ấm ức. Hình như chàng đã mất đi một thứ gì mà tận thâm tâm chàng cũng chưa định rõ. Một thứ tình cảm luyến ái, một vật sở hữu của riêng chàng đã vuột khỏi tầm tay. Không, Có lẽ nào như thế được? Ngay cả tên tuổi nàng, An chưa rõ, thân phận, gia cảnh ra sao An còn chưa tường tận, thì làm gì có cái chuyện yêu đương da diết cùng nàng được? Nhưng sao lạ quá, tâm hồn chàng đã trót gởi gấm, nghĩ ngợi về bóng hình người đẹp mà chưa một lần hứa hẹn yêu đương. An tự an ủi lấy mình - “Thôi ta hãy tìm em trong giấc ngủ cô đơn, giữa gối chăn lạnh ấm tình người viễn mộng. Em hãy đến bên ta trong giấc mơ như một người tình đắm đuối, trong vòng tay hạnh phúc tuyệt vời đang vẫy mời người đẹp”.

          Thành phố Sàigòn quá ồn ào, náo nhiệt, nhất là những ngày tháng của mùa Giáng Sinh. Người đi đông nghẹt trên đường, xe chạy như mắc vào nhau, liên tục nối đuôi từ chiếc xe nầy vào chiếc xe nọ. Trên vỉa hè đường Lê Lợi, các sạp bán nhiều thứ quà cáp cho ngày Giáng Sinh, không thiếu thứ chi. Nhiều nhất là các tấm thiệp đủ màu sắc, đủ hình ảnh liên quan đến Thiên Chúa và còn thêm những tấm thiệp chúc mừng mùa xuân cũng sắp trở về. Người qua, kẻ lại, trai thanh, gái lịch quần áo đủ kiểu, đủ màu tung bay như bướm lượn, phất phới, cuốn quýt, ôm sát cặp chân của những đôi nhân tình. Đúng là thành phố của ăn chơi, của hưởng thụ, của hẹn hò mê đắm. Yêu nhau vội vã rồi chia tay để năm tháng dài chờ đợi bóng hình người thương từ khắp chốn đèo heo hút gió trở về, hay từ biển cả mênh mông, hoặc tận rừng sâu địa đầu giới tuyến. Người quân nhân trở lại phố phường, hạnh phúc sánh bước bên cạnh người yêu bé nhỏ hậu phương, tay trong tay, mắt trong mắt. Biết bao lời yêu đương nồng nàn trao gởi. Họ quên hết mọi thứ chung quanh, những hiểm nguy rình rập; những lằn tên, mũi đạn nơi chốn sa trường. Thế giới bây giờ là của riêng họ, không ai có thể chia xẻ, rẽ phân.
          An cảm thấy mình quá lẻ loi giữa phố đông người, chàng thèm một vòng tay mềm mại, ấm áp đầy ắp thương yêu của người tình nhân bé bỏng trong mơ. Chàng nghĩ tới người con gái ấy - “Em đã nằm trọn trong trái tim ta rồi em có biết không?”. Chưa bao giờ chàng si tình, mê mẩn đến như vậy, có lẽ đây là tiếng sét ái tình đã đánh một cái thật mạnh vào đầu, khiến chàng choáng váng, vô phương chống đỡ. Ôi, ái tình có nhiều mãnh lực đến thế sao?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét