An đã ổn định cuộc sống sau hơn một
tháng rưỡi ở đây. Ngày hai buổi đến sở làm, công việc chẳng có gì phức tạp,
nghề lính thì đâu cũng giống nhau. Làm báo cáo, gởi các công văn, công điện đến
các đơn vị trực thuộc. Dùng máy vô tuyến để liên lạc, truyền tin những tin tức
khẩn cấp. Theo dõi trên hải đồ những tàu bè qua lại, cùng các hoạt động của
Tuần Dương Hạm và PCF trên mặt biển thuộc khu vục kiểm soát của Bộ Tư Lệnh Vùng
4 Duyên Hải. Công việc có thể làm từ ngày nầy
sang ngày khác, mấy quyển sách đọc riết rồi cũng chán. Chàng lại thả bộ ra quán
cà phê ngoài phố, ngồi nhâm nhi để giết thời giờ. Lần nào ra phố An cũng cố ý
đi ngang tiệm thuốc bắc mà lần mới đến chàng đã trông thấy một người đẹp xuất
hiện. Nàng xuất hiện như một “Mỹ nhân ngư”, trồi lên mặt nước, rồi quẫy đuôi
một cái lặn mất tăm hơi, để lại cho chàng bao nỗi ngẩn ngơ, luyến tiếc, khao
khát ngóng tìm, mong có ngày gặp lại...
Đã
bao lần ra phố, đã bao đêm trăn trở, niềm hy vọng đang trở thành tuyệt vọng. Cô
gái cá kia đang nhởn nhơ bơi lội nơi vùng biển nào đây? Sao chưa lên đảo sưởi
ánh mặt trời ấm áp, hay nàng cố tình lẩn trốn người trai lính thủy đa tình,
lãng mạn, thương nhớ vu vơ, nhưng chưa lần bày tỏ niềm yêu thương thầm kín.
An nghĩ nhiều về cô gái ấy, nhưng cơ hội gặp lại
thì quá mong manh, nên bỗng dưng chàng quên bặt cô nàng. An không còn nghĩ đến
người đẹp sau gần hai tháng vui chơi với đám bạn bè xưa cũ. Họ quen nhau từ khi
còn ở Đà Lạt và quân trường, sau khi mãn khóa, mỗi người đổi về mỗi chỗ khác
nhau. Lần nầy tình cờ gặp lại giữa chốn trời nước bao la, xa cảnh phồn hoa đô hội,
nên họ thường kéo nhau đi nhậu sau giờ làm việc, chén anh, chén tôi, ly đầy ly
vơi, cho thỏa chí mấy năm trời không gặp. Ba tuần lễ liên tiếp, họ kéo An đi
tắm biển, bắt cá tại một bãi biển rất nên thơ, rất thiên nhiên, quyến rũ. Bãi cát trắng phau, mịn màng như không có dấu
chân người lui tới. Màu nước xanh trong vắt, mát rượi, mực nước không sâu lắm,
đi ra xa mà cát dưới chân vẫn còn nâng đỡ cả thân người. Thật là một bãi tắm lý
tưởng và an toàn.
Câu chuyện tắm biển của tuần lễ kia đã làm An xấu
hổ vô cùng. Buổi sáng chủ nhật, chàng còn nằm nướng lại trên giường, bọn Vũ,
Sang (Trung úy quân cảnh ) đến tận phòng, lôi chàng đi tắm biển với bọn họ. Xe
Jeep chở bọn họ cùng với ba cô giáo trường làng, cô Ngoan, cô Phấn và cô Hồng,
các cô giáo cũng là người quen, bạn bè của họ đã lâu ngày, An là người mới, nên
có chút ngại ngần. Xe trực chỉ chạy tới bãi Khem (Kem), Khu bãi nầy nằm về phía
đông bên cạnh trại giam tù binh Cộng Sản. Bốn Tiểu Đoàn Quân Cảnh được biệt
phái canh phòng, trông coi trại giam. Bãi Khem nằm trong khu vực quân sự nên
cấm thường dân lai vãng. Dù thế, khi các người đẹp từ Sàigòn ra, hoặc các cô ca
sĩ của Đoàn Văn Nghệ Biệt Khu Thủ Đô hay Hoa Tình Thương đến để trình diễn cho
lính coi, dĩ nhiên, hôm sau phải đưa các người đẹp đó đi tắm biển, đi săn cá.
Các ông đơn vị trưởng có cơ hội ga-lăng và phục vụ các người đẹp hết mình.
Xe của bọn An vượt qua đường
mòn Trinh Nữ, rồi lại leo dốc đồi Ái Ân, băng ngang nhà Thủy Tạ mới tới được
bãi Khem (Những danh từ trên đều do các anh quân cảnh đặt tên, những cái tên
rất thơ mộng dễ yêu, vì các nơi nầy đều nằm
trong khu vực của bốn tiểu đoàn quân cảnh trú đóng).
Mặt biển phẳng lặng, bãi cát
trắng tinh, chưa in dấu chân người, các cô đã mặc sẵn đồ tắm bên trong, vừa
thấy nước, các người đẹp vội chạy ào xuống. Vũ, Sang cũng thế, hai cặp nầy bơi
giỏi lắm, còn lại An và cô giáo Phấn bơi dỡ nên thủng thẳng xuống nước. Hai
người không dám ra xa nên lẩn quẩn gần bờ, mực
nước xăm xắp ngang ngực. Bỗng dưng cô giáo Phấn hét lên:
- Úi cha, đau quá!
An đứng gần đó, lo lắng hỏi:
- Chuyện gì thế, cô Phấn?
- Phấn chẳng biết nữa! Cái chân
đau nhức lắm...
Vừa nói, tay Phấn vừa bơi, một chân
cò cò vô bờ. An đến gần dìu cô giáo Phấn lên bãi.
Phấn ngồi bẹp
trên cát, nàng lật bàn chân lên coi, An nhìn thấy là biết ngay Phấn đã bị nhum
đâm (miền khác gọi con nầy là con Cầu gai vì nó có hình tròn như quả banh,
chung quanh lại toàn là gai nhọn). Thứ nầy đâm vô da thịt thì nhức thấu xương.
Nước mắt bắt đầu ứa ra, Phấn cắn
răng, mím môi để dằn cơn đau nhức. An ngó ra xa, đưa tay ngoắc ngoắc bọn Vũ,
Sang ra dấu bảo họ bơi vào bờ.
Sang vô tư cười trên sự đau khổ của
Phấn:
- Không sao đâu cô Phấn, tôi có
cách...
Nói đoạn, Sang bước tới bỏ nhỏ
vào tai An:
- Mầy cho cổ xin chút nước tiểu
đi! Cái quỷ nầy kỵ nước tiểu, có nước ấy gai sẽ tan nhanh.
An vừa xấu hổ vừa xùng vì lời
đề nghị kỳ cục của Sang, chàng nổi cáu:
- Mầy cho đi! Còn thằng Vũ nữa.
- Tao mới tè xong hết rồi.
An bực bội, xẵng giọng:
- Tao cũng vậy!
- Đừng xạo! Làm anh hùng cứu mỹ
nhân đi mầy.
Phấn tiếp tục kêu la, đau đớn.
Hai cô giáo kia xúm lại ôm chân bạn, Hồng an ủi:
- Mầy ráng đi, coi mấy anh ấy có giúp được gì không?
Phấn nhăn nhó:
- Mấy ảnh bàn tán gì mà lâu
thế? Sao không chở tao về bệnh xá để lấy gai ra.
Vũ chạy tới kéo tay An lên bìa rừng, một lát sau cả ba người trở xuống,
bưng theo một vỏ ốc to, trong đó có đựng một thứ nước vàng vàng, đang còn âm
ấm, Sang bưng đến trước mặt Phấn:
- Nầy, cô ngâm
chân vào đây, năm phút sau là hết nhức ngay.
Phấn không cần thắc mắc, nước
đó là nước gì, có lẽ vì nhức quá nên nàng cứ y lời Sang bảo, hoặc giả nàng chắc
cũng hiểu cách chữa khẩn cấp là phải dùng thứ nước nầy đây! Thế rồi năm phút
sau các gai kia từ từ tan dần, Phấn không còn kêu la, đau đớn nữa. Một lối chữa
mẹo vô cùng hiệu quả. An học được kinh nghiệm quý báu đó, chàng được tiếng vừa
nghĩa hiệp vừa khôi hài vì câu chuyện trên.
Các bãi biển trong khu vực An Thới,
thỉnh thoảng có vài chú nhum đi lạc, nên cũng gây hãi hùng cho các người đẹp
hoặc các người ở xa mới tới, chớ nếu dân địa phương thì hầu hết ai cũng biết
cách chữa ấy. Nhum đâm thì cứ đâm, người tắm biển thì cứ tắm. Cũng giống như An
thích ngao du sơn thủy, thích ngắm sóng nước mây trời. Vì thế chàng hay để ý
đến quang cảnh chung quanh.
Từ hướng đông nam, phần cuối
cùng của đảo, mũi đá nhọn phía bên bờ xa kia kéo dài thành một hình vòng cung
đến đường phi đạo và từ phi đạo kéo thêm một vòng cung nữa là tới mũi Phước
Hưng nằm về hướng tây nam (hình thể như số ba nằm ngửa) chia ra làm hai khu vực
rõ rệt. Hãy lấy đường phi đạo làm chuẩn, vùng khu quân sự tính từ cổng Bộ Tư
Lệnh đến khu vực phi trường, còn từ ngoài hàng rào của Bộ Tư Lệnh trở ra tới
mũi Phước Hưng là khu dân sự. Bến tàu, bến cá, tiệm quán và nhà cửa của dân
chúng địa phương. Bãi biển An tắm mấy tuần qua rất đẹp, sát bờ có một cánh rừng
con, đất không cao, rừng lá lưa thưa, nhiều loại cây trái nhưng chỉ là trái cây
hoang dã mà thôi. Cánh rừng nhỏ nầy chạy dọc theo triền núi, bọc sau lưng Đặc
khu, kéo dài tới trại giam. Nếu đi sang bờ rừng bên kia sẽ có bãi biển khác.
Bãi nầy khá dài, phong cảnh rất hữu tình nên thơ nhưng không kém phần hùng vĩ.
Từ hướng đông nam, nếu ra xa cách bờ khoảng hơn cây số thì mực nước sâu lắm.
Ngày xưa thường có cá mập xuất hiện, nhưng sau nầy không thấy nữa. Dân địa
phương kể rằng: “Thời chúa Nguyễn đánh
với nhà Tây Sơn có lúc bị thua trận, phải bôn ba, cầu viện Xiêm-La. Khi đi
ngang qua vùng biển Phú Quốc, ngài liền cho tàu chiến ghé lên bờ để tìm thức
ăn, nước uống cho ba quân tướng sĩ, vì trên tàu đã khô cạn lương thực. Ngài và
đám tùy tùng lên bãi nhưng không tìm đâu ra nguồn nước ngọt cho quân lính uống
trong cơn đói khát. Bao nhiêu giếng được đào lên nhưng đều không có nước ngọt,
ngài liền ra lệnh đi qua vùng bãi bên kia coi xem sao. Cả đám người băng qua
một cánh rừng nhỏ, lọt vào mặt biển phía đông, nhưng rồi ngài lại vô cùng thất
vọng, chẳng có con suối nào, chẳng có dòng nước ngọt nào trên phần đất tạm lưu quân
nầy. Ngài bước lên một tảng đá cao nằm sát bờ biển rồi khấn vái đất trời cùng
thần linh: ‘xin hãy ban cho một nguồn nước ngọt, để ba quân, tướng sĩ mới có
thể qua cơn đói khát nầy!’
Sau khi khấn vái đất trời thần linh, ngài Nguyễn Ánh toan quỳ xuống
bái tạ, thanh gươm báu đeo bên hông làm trở ngại, ngài liền rút gươm cấm phập
vào khe đá bên cạnh. Thật kỳ diệu thay, một dòng nước tuôn ra từ kẽ nứt của
tảng đá nọ, khiến mọi người vô cùng mừng rỡ và ngạc nhiên lắm. Ngài cúi xuống
nếm thử coi sao? Vị nước ngọt dịu, mát rượị, không tanh hôi gì cả. Mạch nước cứ
chảy ra triền miên đến mãi về sau nầy vẫn còn cái nguồn nước ấy. Cái nguồn nước
đã cứu thoát quân lính nhà Nguyễn trên đường bôn tẩu một cách huyền diệu. Nguồn
nước ấy nằm sát bờ biển, lại từ trong khe đá chảy ra do mũi kiếm báu của chúa
Nguyễn khơi dòng, nên dân chúng địa phương đặt cho một cái tên lịch sử là Giếng
Gia Long.
Hiện nay
trên bờ đá kia, còn lờ mờ dấu chân của chúa Nguyễn in lên nhưng theo thời gian đã không còn đậm nét.
Nhờ có giếng
nước ngọt nầy, chúa Nguyễn hạ lệnh cho tất cả quân lính lên bờ, ăn uống no nê,
thực phẩm thì chài cá biển, còn rau trái thì hái trong rừng. Như thế cũng tạm
lưu quân ở đây để chờ mọi người hồi phục sức lực, dũng khí và tinh thần hăng
hái mới lên đường. Nhưng một ngày kia, thám tử báo cáo rằng, đoàn quân nhà Tây
Sơn đuổi theo ráo riết sắp đến sát mục tiêu. Chúa Nguyễn vội vã ra lệnh cho ba
quân, tướng sĩ lên tàu và nhổ neo chạy về hướng tây bắc. Trong đêm tối trời, các chiếc tàu khác đều nhổ neo
lên hết, nhẹ nhàng không trở ngại, chỉ có chiếc tàu của ngài bị trục trặc,
chẳng hiểu vì sao mà neo cứ nặng chình chịch, kéo hoài không cách nào nhúc
nhích nổi. Trong lúc ấy có ông Đội Trưởng với tài lặn, lội không ai bì kịp. Ông
Đội liền lao mình xuống biển lặn một hơi dài, để xem xét tình hình trắc trở của
dây neo. Bãi đêm lạnh lẽo, mặt nước đen ngòm, bóng hình ông có xuống nhưng chờ
mãi không thấy ông trồi lên. Cả đám người trên tàu rất sốt ruột, nhưng không
thể chờ mãi được, chúa Nguyễn liền ra lệnh kéo neo lên thử. Lạ lùng thay, bây
giờ đường dây neo kéo lên thong thả, nhẹ nhàng. Đoàn tàu vội vàng trực chỉ
hướng Dương Đông. Chúa Nguyễn đành bỏ lại một công thần trung can liệt nghĩa,
và bãi Ông Đội được mang danh từ đó.
Khi đến Dương
Đông, chúa Nguyễn cho quân lính dựng trại, dựng lều ở đấy khá lâu. Thời gian
đầu vì chưa quen thủy thổ, nên có rất nhiều binh sĩ ngã bệnh chanh nước (Một
thứ bệnh bụng chương to, người kiệt sức, mệt mỏi, vàng da) binh sĩ không còn
sức lực chiến đấu.
Một lần nữa ngài lại khấn vái linh thần, có lẽ vì số ngài có chân mạng Đế Vương
nên được thần linh mách bảo trong giấc mơ - ‘Hãy hái lá muồng đun sôi, lấy nước
uống sẽ chữa được chứng chanh nước.’ (Loại lá muồng nầy thường mọc theo bờ
suối, bờ sông, hoặc nơi ẩm ướt). Nhờ toa thuốc ấy của thần linh mà binh lính đã
thoát qua cơn bệnh ngặt nghèo. Thắng nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn lên ngôi, nhớ các
ơn ấy nên sau nầy vua nhà Nguyễn phong nhiều sắc chỉ và phong Thần cho đình Ông
Bổn tại thị trấn Dương Đông”.
An
ở đây, nhìn thấy biển trời mênh mông, bát ngát, nghe từng câu chuyện kể lạ
lùng, mầu nhiệm, như thấy lại hình ảnh của tiền nhân, như đang sống trong thời
kỳ đó. Mỗi câu chuyện là một đề tài hấp dẫn, đưa chàng gần gũi hơn, cảm tình
hơn với hải đảo Phú Quốc nầy. Chàng cũng thường để ý đến các chi tiết nhỏ nhặt
khác. Mỗi lần đầu tháng, đường sá, phố chợ trở
nên tấp nập, huyên náo, vui nhộn hơn. Tiếng xe chạy lên xuống ầm ì, người qua
lại đông đúc, hàng hóa cũng được chở đến
nhiều hơn. Có lẽ vì ngày đầu tháng là ngày lãnh lương, nên các anh em mới có
tiền ăn nhậu, tiêu xài mua sắm những thứ đồ cần thiết. Khuôn mặt địa phương sẽ
khác lạ mỗi khi tàu tuần dương cập bến. Các anh lính nước lên bờ, đi đầy cả
đường phố, các tiệm bán bia thì mặc tình hốt bạc, các anh em xả láng, cho bỏ
những ngày tháng dưới tàu cùm chân, co cẳng.
Dù
một thị xã nhỏ nhoi (Toàn đảo Phú Quốc chiều dài từ bắc xuống nam khoảng 50 kí
lô mét, chỗ hẹp nhất là vùng An Thới khoảng 3 kí lô mét. Chỗ rộng nhất là vùng
Bắc Đảo 25 kí lô mét). Dân toàn đảo không quá 15 ngàn, tại An Thới trên dưới
3000 dân không kể tù binh và quân đội. Nơi đây nhu cầu cần thiết cho sinh hoạt
bình thường cũng khá đầy đủ, nhà thờ, chùa, trường học, tiệm sách báo, tiệm
giặt ủi, chỗ nấu cơm tháng, tiệm thuốc bắc, thuốc tây, rạp xi-nê, bệnh xá v.v…
nói tóm lại chẳng thiếu thứ gì. Nếu một người an phận thì sống ở đây thoải mái,
bình yên hơn nhiều. Cuộc sống không bon chen, tranh giành, hay đòi hỏi những
thứ ngoài tầm tay.
Ngày
tháng phẳng lặng trôi qua, sau bữa cơm chiều, An thường nhắc chiếc ghế bố dựa
lưng ra ngồi dưới mái hiên của dãy cư xá độc thân. Dãy nhà nầy cất dọc theo bờ
biển, nằm bên cạnh Bộ Tư Lệnh một khoảng. Nơi đây chàng có thể ngắm rõ cảnh
chiều êm ả của đại dương. Mấy chiếc thuyền chài nhàn nhã vào bến. Ngoài khơi
kia chàng thấy bóng một hòn đảo nhỏ lờ mờ, nghe đâu nó được gọi là Hòn Thơm gì
đó... Ngó sang mạn phải, chàng thấy ngay một căn nhà khá đồ sộ, xây trên mỏm
đất cao. Đó là nhà sản xuất nước mắm Phước Hưng, nên dân chúng gọi nơi phần đất
nhô ra là mũi Phước Hưng cho tiện. Phía trái của chàng, qua mấy dãy nhà che
khuất một phần bờ biển, đường phi đạo chắn ngang là chỗ máy bay quân sự lên
xuống thường ngày. Chạy dọc theo phi trường có một dãy núi thấp, cây lá xanh
um, giữa lưng chừng triền núi, An thấy một quang cảnh rất nên thơ, mấy bóng cây
cao lá mùa đỏ ối, làm tô đậm thêm nét sắc màu trong buổi chiều cuối thu. Một
đàn hải âu vỗ cánh bay ngang rồi mất hút, xa
xa làn sóng bạc nhấp nhô theo cơn gió lăn tăn vỗ nhẹ vào bờ. Trên nền trời cao
thẳm, trong vắt, vài cụm mây trắng lặng lờ trôi. Cõi lòng An cảm thấy phới
phới, nhàn du trong khung cảnh bình yên của nơi chốn nầy. Chàng thả hồn rong
chơi trên ngàn con sóng biển. Màu trời tối hơn, mặt biển đã pha màu hồng cam
rồi tim tím. Ánh tà dương từ từ rớt xuống dưới làn nước mù xa tận cuối chân
trời. Một ngày như mọi ngày tuần tự trôi qua.
Sáng
nay đại úy Xuân đã cho An biết là nội trong tuần tới, chàng sẽ được đi một
chuyến công tác đặc biệt vào Sàigòn. Cái tin nầy làm cho An thấy vui lên. Tính
ra thì chàng đã ở đây được ba tháng rồi! Thời gian lẹ thiệt... An đã có dự
dịnh, gần ngày đi chàng sẽ mua một số chai nước mắm ngon, vài ký khô thiều, một
ít khô mực thượng hạng về biếu người quen ở Sàigòn. Những thức ăn hải sản đối
với dân thành phố rất là quý. Rồi khi trở ra, An sẽ mua những thứ khác như nem
chua, vịt quay để kéo cả đám bạn nhậu cho say một bữa, nghiêng ngửa đất trời.
* * *
An
tay xách, nách mang lần lượt di chuyển hết mấy thùng đồ lớn xuống tàu. Con tàu
gỗ mà ba tháng trước đã đưa chàng về vùng đất lưu đày nầy. Rồi bây giờ nó mang chàng trở lại đất liền sau một đêm lênh đênh trên
sóng nước.
An
tìm một chỗ tốt dựa lưng. Bầu trời quang đãng thấy rõ những vì sao đêm lấp
lánh, dù rằng trời chưa tối lắm. Chàng ngồi hút thuốc và ngó lung ra đại dương,
khi tàu qua khỏi Hòn Thơm thì trời đã tối hẳn, gió thổi nhiều hơn, mọi người
hình như đã vắng bặt những câu chuyện phiếm. Ai cũng tìm cho mình một chỗ nằm
hay một chỗ ngồi thích hợp. An nằm xuống, đầu kê lên thùng quà, hai chân co
lại, vì chàng khá cao, chân tay dài hơn người thường, khi đi, khi nằm đều chiếm
lắm chỗ! Chiếc áo ba-đờ-suy chàng phủ lên mình cũng che được phần nào sương gió
của biển đêm. Con tàu lầm lũi đi trong đêm tối tịch mịch và An cũng đã âm thầm,
êm ái đi vào giấc ngủ.
Quá nửa đêm, con tàu bị
trục trặc máy móc bất ngờ, nên đã nằm ì một chỗ, sau mấy giờ sửa chữa, máy tàu
đã hoạt động trở lại bình thường. Con tàu tiếp tục lên đường, sắp vào bến cảng
Rạch Giá thì một chuyện rắc rối nữa xảy ra. Mực nước thủy triều đã rút xuống,
tàu không thể nào vào bến dễ dàng, vì gần bờ biển có vùng đất bồi kéo dài ra
tận ngoài xa. Những tàu bè lớn, chỉ có thể cập bến khi con nước dâng lên cao mà
thôi. Chiếc tàu chở An cũng phải đành chờ đợi, mãi đến gần xế chiều mới về tới
bến cảng Rạch Gía.
Khi
An lên bờ được, thì không còn chiếc xe đò nào chạy về Sàigòn nữa, chàng đành
phải nghỉ tạm qua đêm tại thị xã nầy. An thuê một căn phòng tại khách sạn gần
bờ sông, sau khi tắm rửa cho khỏe, chàng gọi chiếc xích lô đạp đến một tiệm ăn
cạnh bến xe Sàigòn - Lục tỉnh, chàng hỏi thăm chuyến xe về Sàigòn sẽ khởi hành
ngày mai lúc mấy giờ để chàng tiện việc sắp xếp, kẻo không sẽ bị trễ nữa!
Cơm
nước xong, thấy trời còn sớm, nên An gọi một chiếc xe ôm đi đến hậu trạm Hải
Quân, phía bên kia Tòa Hành Chánh gần Ty Khí Tượng để lấy một số hồ sơ và văn
kiện cần thiết về báo cáo với Bộ Tư Lệnh Sàigòn. Khi chàng lo xong mọi việc,
thì thành phố cũng vừa lên đèn. Bầu trời vào đông, mây xám về giăng tứ phía.
Ánh đèn điện bên kia góc đường tỏa ra thứ ánh sáng vàng vàng hiu hắt, khiến cho
tâm trạng của An càng thấy chạnh lòng và cô đơn hơn. Một đêm ở tỉnh lỵ, không
nơi chốn ghé vào, không bạn bè tâm sự. Chàng thả bộ đi dọc theo bờ sông, gió
biển thổi vào mát lạnh, chàng cho tay vào túi áo ba-đờ-suy để tìm hơi ấm sau
lớp vải mềm. Từng cặp tình nhân ngồi trên ghế đá dọc sát mé sông, họ âu yếm
ngồi kề nhau tâm sự. Tay anh chàng choàng qua vai người tình bé nhỏ. An cũng
đang thầm mơ ước - “Phải chi bên cạnh ta cũng có một giai nhân, một người tình
để ấm lòng trong cơn gió đông lạnh lẽo buốt giá nầy”.
An
giật bắn người vì chàng vừa thoáng thấy cô gái tóc dài với chiếc áo vàng ngày
nọ, nàng đang chạy chiếc Hon-Đa đam ngược chiều. Đôi mắt tròn to, đăm đăm nhìn
về phía trước, nàng cho xe chạy với tốc độ trung bình, hai tay ghì chặt
ghi-đông vì xe đang đổ dốc. An quá mừng rỡ và cũng vì quýnh quá, chàng liền kêu
lên:
-
Ơ, ơ...cô, cô... cô bé!
Nàng
nghe tiếng kêu, liền quay mặt lại nhìn, nhưng có lẽ sau khi thấy người gọi mình
gương mặt lạ hoắc, chưa quen bao giờ nên nàng thản nhiên cho xe chạy tiếp tục.
Nàng nghĩ thầm - “Anh chàng nầy nhận lầm người rồi, không liên quan gì đến ta,
cứ phớt tỉnh là xong”.
Trong
khi đó, An như cụt hứng, tiu nghỉu, vò đầu rồi đưa tay xoa mặt. Chàng như tiếc
rẻ, pha lẫn chút bực bội - “Phải chi ta có chiếc xe gắn máy thì đâu thể buông
tha người đẹp một cách dễ dàng như vậy. Cơ hội đã đến mà không tài nào bắt lấy
kịp, để bóng hình người đẹp lại biến mất giữa khung cảnh ảm đạm, vắng lặng về
đêm”. An ngước mặt nhìn trời lẩm bẩm - “Ông trời ơi, sao ông cứ trêu chọc con
mãi thế nầy! Hãy cho con có cơ hội quen nàng, con muôn vàn cảm tạ…”. Chàng đi
với cõi lòng buồn bã, luyến tiếc ngẩn ngơ. Niềm thất vọng làm chàng trở lại
khách sạn sớm hơn, An nằm trên chiếc giường trải ra trắng, với đầy ắp suy tư về
người con gái đã hai lần gặp gỡ, đã hai lần vô duyên chối bỏ những lời chân
tình sắp sửa gởi trao. Lần gặp gỡ đầu tiên, nàng đã cho chàng cái cảm giác lâng
lâng, xao xuyến trong phút giây kỳ ngộ vội vàng. Còn lần nầy thì khác hẳn, cảm
giác xốn xang hối tiếc, ngỡ ngàng và ấm ức. Hình như chàng đã mất đi một thứ gì
mà tận thâm tâm chàng cũng chưa định rõ. Một thứ tình cảm luyến ái, một vật sở
hữu của riêng chàng đã vuột khỏi tầm tay. Không, Có lẽ nào như thế được? Ngay
cả tên tuổi nàng, An chưa rõ, thân phận, gia cảnh ra sao An còn chưa tường tận,
thì làm gì có cái chuyện yêu đương da diết cùng nàng được? Nhưng sao lạ quá,
tâm hồn chàng đã trót gởi gấm, nghĩ ngợi về bóng hình người đẹp mà chưa một lần
hứa hẹn yêu đương. An tự an ủi lấy mình - “Thôi ta hãy tìm em trong giấc ngủ cô đơn, giữa gối chăn lạnh ấm tình người
viễn mộng. Em hãy đến bên ta trong giấc mơ như một người tình đắm đuối, trong
vòng tay hạnh phúc tuyệt vời đang vẫy mời người đẹp”.
Thành phố Sàigòn quá ồn ào,
náo nhiệt, nhất là những ngày tháng của mùa Giáng Sinh. Người đi đông nghẹt
trên đường, xe chạy như mắc vào nhau, liên tục nối đuôi từ chiếc xe nầy vào
chiếc xe nọ. Trên vỉa hè đường Lê Lợi, các sạp bán nhiều thứ quà cáp cho ngày
Giáng Sinh, không thiếu thứ chi. Nhiều nhất là các tấm thiệp đủ màu sắc, đủ
hình ảnh liên quan đến Thiên Chúa và còn thêm những tấm thiệp chúc mừng mùa
xuân cũng sắp trở về. Người qua, kẻ lại, trai thanh, gái lịch quần áo đủ kiểu,
đủ màu tung bay như bướm lượn, phất phới, cuốn quýt, ôm sát cặp chân của những
đôi nhân tình. Đúng là thành phố của ăn chơi, của hưởng thụ, của hẹn hò mê đắm.
Yêu nhau vội vã rồi chia tay để năm tháng dài chờ đợi bóng hình người thương từ
khắp chốn đèo heo hút gió trở về, hay từ biển cả mênh mông, hoặc tận rừng sâu
địa đầu giới tuyến. Người quân nhân trở lại phố phường, hạnh phúc sánh bước bên
cạnh người yêu bé nhỏ hậu phương, tay trong tay, mắt trong mắt. Biết bao lời
yêu đương nồng nàn trao gởi. Họ quên hết mọi thứ chung quanh, những hiểm nguy
rình rập; những lằn tên, mũi đạn nơi chốn sa trường. Thế giới bây giờ là của riêng họ, không ai có thể chia xẻ, rẽ phân.
An
cảm thấy mình quá lẻ loi giữa phố đông người, chàng thèm một vòng tay mềm mại,
ấm áp đầy ắp thương yêu của người tình nhân bé bỏng trong mơ. Chàng nghĩ tới
người con gái ấy - “Em đã nằm trọn trong trái tim ta rồi em có biết không?”.
Chưa bao giờ chàng si tình, mê mẩn đến như vậy, có lẽ đây là tiếng sét ái tình
đã đánh một cái thật mạnh vào đầu, khiến chàng choáng váng, vô phương chống đỡ.
Ôi, ái tình có nhiều mãnh lực đến thế sao?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét