Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Qua Biển - Chương 16: Thuyền Tình Lênh Đênh


Sau cái đêm cãi cọ với ông Bình, An lòng buồn rười rượi, chàng không đến nhà Duân, kêu xe thẳng tới khách sạn trọ một đêm. Sáng hôm sau đi xe đò xuống Sàigòn, lo xong phần công tác. Sẵn có chuyến bay Phú Quốc chàng leo lên trở về đơn vị sớm, hầu tránh cái việc Quân biết chàng về phép.
          Quân thi xong, nôn nóng muốn gặp người yêu nên nàng trở lại đảo trước An một hôm, bởi thế chuyện về thăm bố bệnh của An, Quân đã biết rõ. Mấy anh lính trong căn cứ đều biết Quân và An đang cặp nhau, họ tình nguyện làm cái “loa phóng thanh” và “trung tâm phân phối tin tức” miễn phí. Họ là tấm “mề đay đúng nghĩa”.
          An từ trong nhà thờ ra, sau khi làm lễ xưng tội với vị linh mục chánh xứ. Sự bất hòa giữa hai bố con vì hôn ước của chàng đã được vị chủ chăn khuyên giải: “Hãy yêu thương, hãy khoan dung, hãy hiệp thông với Chúa nhiều hơn nữa, rồi Chúa sẽ an bài mọi việc..”. An ngước nhìn lên trời cao, Thiên Chúa ở xa quá, nên nhân loại vẫn hoài đau khổ, sầu bi.
          Chiều chủ nhật, đường sá đông người, chiếc Dương Vận Hạm HQ 502 vừa neo bến, các anh áo trắng hí hửng lên bờ. Quân trong tiệm sách bị bao quanh bởi các người hùng biển cả. Họ không ngờ một bông hoa biết nói đang hiện diện, đẹp hơn hoa sóng đại dương gấp ngàn lần. Người thì chọc ghẹo, hỏi han, kẻ thì mua, thuê sách báo, Quân làm việc túi bụi, câu chuyện của họ dòn như bắp rang. Giữa lúc ấy, Quân thấy thấp thoáng bóng dáng An thất thểu đi về hướng cổng Bộ Tư Lệnh, An đâu biết Quân đã về đảo rồi, còn Quân thì cứ mong mau đến chín giờ đóng cửa tiệm để đến với An.

          Quân đứng trước cổng Bộ Tư Lệnh, người lính gác quen mặt Quân lắm, cũng biết Quân và An, hai người đang cặp bồ nhau. Anh ta cười dễ dãi, rồi mở cổng cho Quân vào. Quân đi nhanh đến phòng An, gõ cửa, giọng nhẹ nhàng:
          - Anh An, em đây! Quân đây!
Cánh cửa không khóa, Quân đẩy mạnh bước vô, thấy An nằm dài trên giường, tay cầm điếu thuốc, tay gác lên trán như đang chìm đắm trong nỗi suy tư nào đó. An ngồi bật dậy, vui mừng:
          - Ồ, em về rồi hở? thi cử ra sao?
          An đưa Quân ngồi vào chiếc ghế độc nhất trong phòng, không trả lời An về việc thi cử, nàng hỏi dồn dập:
          - Sao, bố thế nào rồi? còn me nữa? Ủa, mà sao anh về sớm thế? Chắc có việc gì phải không?
          An nghĩ trong bụng - “Thế là Quân biết hết rồi. Nếu bố có bệnh thì mình không thể về sớm vậy. Hơn nữa Quân là niềm yêu thương, an ủi độc nhất của ta trong lúc nầy. Ta nên nói ra sự thật cho hả cơn ấm ức, và cũng chứng tỏ mối chân tình của ta. Biết đâu Quân sẽ có sáng kiến, làm thay đổi cục diện”. An đem câu chuyện không vui xảy ra giữa ông Bình và chàng kể hết cho Quân nghe.
          Quân trầm tư giây lát, trước viễn ảnh đen tối nàng vẫn ôn tồn bảo:
          - Tình nghĩa hơn bốn mươi năm với bác Điền bố anh rất coi trọng. Trước giây phút tử biệt, bố muốn chu toàn lời hứa để làm yên lòng người nhắm mắt.
          Rồi nàng nói lời an ủi, xoa dịu nỗi u uất của An:
          - Thời gian còn dài, em vào trường Sư phạm, biết đâu sau nầy bố đổi ý…
          Quân đến ngồi bên An, vén mái tóc lòa xòa trước trán của chàng rồi nói đùa để phá tan bầu không khí nặng nề:
          - Hay là cưới cả hai! Sướng nhé trung úy An!
          An vẫn còn nghiêm túc:
          - Anh sẽ không bao giờ cưới Nhã, vì anh yêu em, anh không yêu nàng.
          Quân chợt đề nghị:
          - Nói bố me nhận Nhã làm con nuôi, Nhã sẽ về ở chung với gia đình, nếu bác Điền có mệnh hệ nào. Điều ấy tốt lắm chứ!
          An lắc đầu, thú nhận:
          - Ngặt nỗi Nhã cũng yêu thương anh.
          Quân thoáng chút hờn ghen, lớp sương mờ Đà Lạt phảng phất trên gương mặt nàng. An tinh ý, mang gió ngàn khơi thổi tan màn sương đục:        
- Quân, em có bằng lòng lấy anh với một đám cưới đơn sơ trong câu lạc bộ đơn vị không?
          - Một đám cưới đàng hoàng có sự chứng giám của cha mẹ đôi bên cùng đám bạn bè thân thích, đó là niềm mơ ước của các cô gái, em cũng vậy thôi.
Quân bày tỏ thêm:
 - Nhưng quan trọng hơn cả là tình yêu thương của hai người. Em yêu anh, anh yêu em là đủ.
          Quân đứng lên lấy điếu thuốc từ trong tay An dụi tắt:
          - Khuya rồi em phải về, anh ngủ ngon! Đừng suy nghĩ nhiều nữa.
          An lấy chiếc áo dạ khoác lên vai Quân:
          - Được, anh đưa em về. Trời khuya rồi, đi một mình không nên.
          Hai người bước ra khỏi phòng, thấy cả một trời trăng, trăng leo mái nhà, trăng bò xuống bãi. Trăng trôi trên biển bạc, trăng lấp lánh trên từng ngọn sóng. Cầu Bộ Tư Lênh cũng lát đầy ánh trăng. Trăng hiện diện chung quanh, như tình yêu của An. Nhưng trăng không phải là vật thể duy nhất trong bầu trời, mà còn có nhiều áng mây đen, mây xám lướt thướt kéo về làm hoen úa màu trăng.
Ánh trăng vẫn treo nghiêng, đường khuya vắng người qua lại. Quán, tiệm chuẩn bị đóng cửa, một số anh em thủy thủ ngồi chờ nhau để cùng đi về tàu một lượt. Tiếng hát Thanh Thúy từ tiệm cơm Minh Phụng phát ra “Thuyền tình lênh đênh biết đâu là bến nước? Mịt mờ muôn phương biết xuôi về nơi đâu? Ngày xưa những đêm trăng úa màu, hai đứa ngồi bên nhau, mơ ước chuyện mai sau”. Cõi lòng Quân héo hắt, nổi trôi theo từng tiếng nhạc. Nàng linh cảm tình yêu của hai người như con thuyền bé nhỏ đang đi vào vùng trời mịt mờ bão giông.

                              *    *    *

          Những âu lo duyên tình trắc trở dần dần cũng phai nhòa. Quân ở đảo gần hai tháng. Hàng ngày, khi ông Hai vừa ra khỏi nhà để đến tiệm sách, thì Quân lại xách giỏ đi chợ, nấu bữa ăn trưa xong nàng ra tiệm thay thế để ông Hai về nhà ăn cơm và nghỉ ngơi, tới xế chiều ông Hai ra đổi ca, Quân về nhà lo bữa ăn tối. An thường gặp Quân trong giờ nghỉ trưa rồi sau đó trở lại phòng làm việc. Những buổi tối rảnh rỗi An đều ghé thăm Quân, tình cảm hai người càng thêm thân mật, đậm đà, quấn quýt nhau hơn! Ông Hai là người hiểu biết, thông cảm cho An và thương quý chàng như người con rể tương lai. Mặc dù ông cũng biết chuyện ép uổng của bố An. Ông chắc lưỡi, hít hà: “Thời buổi nầy mà sao còn có cái chuyện ấy? Nhất là đối với người con trai như An, đã trưởng thành, và có sự nghiệp. Một sĩ quan hải quân hẳn biết cách lèo lái con thuyền tình của mình về tới bến bờ hạnh phúc bình yên”. Đồng thời ông cũng thấy An yêu thương Quân thật tình và có trách nhiệm, công khai chớ không lén lút giao du, điều ấy khiến ông an tâm hơn.
          Có nhiều buổi tối hai người cười đùa, giỡn vui dưới bếp, hoặc An giúp ông đóng lại cái chân bàn đã lung lay, hay một miếng ván sứt sau nhà tắm bên hè. Ông Hai mơ ước, trong tuổi già bóng xế của ông, Quân và An luôn kề cận, luôn luôn hiện diện trong căn nhà nầy. Sau đám cưới, họ sẽ sinh cho ông một bầy cháu như bầy gà con lúp xúp dưới chân, để ông đùa giỡn, rượt đuổi hết đứa nầy tới đứa kia. Những đứa cháu ngoan sẽ làm tâm hồn ông ấm áp vui tươi, để đời ông bớt lẻ loi, cô quạnh.

         
          Quân vô Rạch Giá lo hoàn tất những thủ tục cuối cùng để chuẩn bị vào trường sư phạm, sau khi biết mình đã đậu. Trong danh sách cũng có Dung, còn Thu Sương thì phải chờ mùa thi tới. Trong dịp nầy, Quân tình cờ gặp lại Kiên, khiến nàng ngại ngùng hết sức. Kiên trở về thăm trường cũ để tìm lại chút hương xưa đã làm chàng ngây ngất một thời!          Chàng đi thơ thẩn trong sân trường với cánh tay băng bột, mắt nhìn những cánh phượng cuối mùa bay nghiêng trong gió, mà tâm hồn thì nao nao khi hồi tưởng chuyện tình chưa đoạn kết…Lá thư chàng nhận của Thu Sương mà cứ ngỡ của Quân, điều đó đã đem lại cho chàng niềm hy vọng thêm một lần nữa.
          Kiên đi lang thang mấy vòng trong sân trường, cuối cùng chàng trở ra ngồi nơi quán nước đối diện bên kia đường. Suốt bao nhiêu năm học, hầu như ngày nào chàng cũng ra ngồi tại chiếc ghế kia, để mong chờ, để nhìn thấy bóng hình Quân xuất hiện. Buổi sáng, buổi chiều, nhất là vào giờ ra chơi quán không còn một chỗ trống. Kiên thường tranh giành, co chân, co cẳng chạy nhanh  kiếm chỗ khi vừa nghe tiếng chuông reng…!
          Bây giờ là mùa hè nên quán trưa thưa vắng. Thỉnh thoảng cũng có vài cô cậu học sinh ghé vô sau khi coi danh sách thi cữ của mình. Kiên gọi một ly xi-rô sữa theo thói quen như thời còn đi học, chàng rất ưa thứ nước giải khát nầy. Bé Yến nhận ra Kiên, vui mừng reo lên:
- Ồ…anh Kiên! Lâu quá không gặp, anh mới về phép hả? Lại bị thương nữa!
          Yến nhìn lên cánh tay băng bột của Kiên, nói lời thật thà:
- Không sao, anh còn sống là may mắn lắm! Bác Tư của em có hai người con đã hy sinh trong trong tháng hai vừa qua…
           Kiên cũng nhận ra Yến. Yến là con của ông bà chủ quán mà hơn ba năm về trước Yến chỉ là cô bé mười ba tuổi. Bây giờ Yến đã mười sáu, hình dáng thay đổi nhiều nên Kiên khó nhận ra. Chàng nhớ lại mấy năm trước, đã đôi lần nhờ Yến trao thư tình tận tay Quân vì thế Yến biết rõ mối tình một chiều của Kiên. Nàng gợi lại vết thương lòng của chàng:
          - Mấy năm nay anh đi đâu mất biệt, chắc đi tìm quên lãng phải không?
- Kiên cười chống chế:
- Bậy nè! Anh đi đánh trận chứ đi đâu! Chứng tích sờ sờ ở đây nầy…
Kiên vừa nói vừa nhìn xuống cánh tay băng bột của mình treo ngay trước ngực. Yến cũng nhìn theo, ánh mắt leo lên, đậu trên một bông mai vàng đơn lẻ, nằm khiêm nhường nơi cổ áo Kiên, nàng hồn nhiên nói:
- Em thích nhất là lính bộ binh, mấy anh đeo bông mai vàng sáng chói, nhất là ba bông thẳng hàng thì hách ơi là hách…!
Rồi nàng ngây thơ hỏi vì cảm thấy trên cổ áo của Kiên số bông mai chưa đủ:
- Mỗi lần bị thương là được lên lon phải không anh?
          Kiên cười trả lời:
- Đâu hẳn thế em!
Vừa dứt câu, Kiên chợt trông thấy Quân xuất hiện trên chiếc Hon-Đa, chàng đứng lên phóng nhanh ra khỏi tiệm để chận Quân lại. Kiên lao tới như đã bao lần chàng lao vào hiểm nguy giữa lằn tên, mũi đạn. Quân giật mình thắng xe lại, Kiên đã đứng trước đầu xe:
- Chào Quân! May mắn quá anh được gặp Quân ở đây!
Quân thoáng chút bối rối nhưng cũng vui mừng khi gặp lại người bạn năm xưa. Quân lộ vẻ lo lắng khi thấy cánh tay băng bột của Kiên. Nàng xúc động, giọng dịu dàng hỏi:
- Anh bị thương có nặng lắm không? Đã lành hẳn chưa?
- Cám ơn Quân, Cũng khá nặng…Bây giờ chỉ chờ thời gian để chữa lành, không phải một vết thương, mà là hai vết thương lận Quân ạ.
Quân hiểu rõ hết ý lòng qua câu nói cay đắng của
Kiên, nàng an ủi:
- Thời gian sẽ làm lành mọi vết thương anh ạ!
Câu trả lời của Quân giống y như lá thư Thu Sương viết. Lá thư đã mang lại cho Kiên nhiều niềm vui, nhiều hy vọng vì Kiên cứ tưởng đó là thư của Quân. Chàng bạo dạn lên tiếng:
- Anh xin mời Quân vào quán nước bên kia đường được không? Anh có đôi điều muốn nói cùng Quân.
 Nàng tỏ vẻ ngần ngại, Kiên với giọng trầm buồn, chua chát:
- Quân tiếc với anh chi chỉ một ly nước! Còn anh vì cả đất nước nầy đã đóng góp máu xương, đã hy sinh tuổi trẻ, đang chờ thần chết gọi tên dẫn về huyệt mộ…
Kiên nói như trối trăn:
- Hãy uống với anh một ly nước, nếu lỡ ngày mai anh nằm xuống thì coi như rượu tiễn đưa, anh không còn gì nuối tiếc! Lá thư kia sẽ theo anh nằm sâu tận dưới lòng đất lạnh.
- Quân tròn xoe đôi mắt nhìn Kiên:
- Anh bảo sao! Lá thứ nào?
Kiên lại ngạc nhiên, chàng trả lời nhanh:
- Thì lá thư Quân gởi cho anh đó!
Quân thấy có điều gì không ổn, nàng xuống xe dắt đi chầm chậm bên Kiên. Quân dựng xe trước cửa quán, Yến chạy ra chào hỏi, chỉ chiếc ghế mời nàng ngồi đối diện với Kiên, Yến lên tiếng:
- Chị uống gì? xi-rô sữa giống anh Kiên nghe!
- Quân gật đầu, Yến quay vào trong. Quân thắc mắc về lá thư nên nàng hỏi ngay:
- Anh Kiên bảo sao! Quân có gởi cho anh một lá thư hả?
- Đúng vậy!
- Thế thì anh có mang theo không?
- Có chứ, lúc nào anh cũng mang theo bên mình cả…
- Anh lấy ra cho Quân xem được không?
- Được!
Kiên móc bóp, mở lấy lá thư mà chàng đã xếp cất cẩn thận đưa cho Quân. Quân đọc hết lá thư, rõ ràng tên họ nàng và chữ ký cũng giống hệt luôn, nhưng có điều tuồng chữ thì lại khác…Quân đã nhận ra nét chữ của Thu Sương, nàng nhìn Kiên cảm thông và tội nghiệp. Tình yêu thật rắc rối, phức tạp. Kẻ chạy người đuổi. Quân cũng biết Sương yêu thầm Kiên nhưng bởi vì nàng không thố lộ nên Quân cũng ngại đề cập đến. Còn cái chuyện Thu Sương thay nàng viết thư cho Kiên với mục đích gì thì Quân hoàn toàn không biết! Quân xếp lá thư trao lại cho Kiên, nàng quả quyết:
- Lá thư nầy không phải của Quân viết! Đây là tuồng chữ của Thu Sương đó…Có cơ hội anh nên hỏi Sương, coi đúng vậy không?
- Kiên ngượng ngùng, xấu hổ, lúng túng phân trần:
- Anh xin lỗi, cứ tưởng là thư của Quân nên đã mang nhiều hy vọng, chờ một sự thay đổi tốt đẹp từ nơi Quân.
Kiên mím môi, tiếng nói chàng đanh lại:
- Bây giờ anh mới hiểu trong trái tim Quân vĩnh viễn sẽ không bao giờ chứa đựng hình bóng anh. Cám ơn Quân, bài toán tình yêu đã có đáp số. Dù sao lá thư nầy cũng mang đến cho anh những tháng ngày hạnh phúc. Anh đã có một thời sống trong tin yêu, trong mơ mộng và trong hy vọng viển vông.
Sự cứng rắn hiện lên gương mặt người lính trẻ, Kiên xua quá khứ trôi đi, chàng trở về với thực tại:
- Quân uống nướcđi!
Chàng dùng bàn tay trái cầm muỗng khuấy đều mấy vòng trong ly nước của mình. Màu xi-rô sữa vàng cam, trắng đục, ngọt ngào thơm phức, Kiên bưng ly uống cạn. Chất ngọt của đường có thể nào thay cho men đắng tình yêu được chăng? Kiên ngậm ngùi đau khổ, chàng gọi Yến tính tiền, Quân ngồi yên tôn trọng cái giây phút đớn đau tuyệt vọng của chàng. Kiên đang trốn chạy, chàng là người thua cuộc. Tình trường không như chiến trường, chiến trường chàng chỉ biết tiến lên, nhưng tình trường thì chàng phải lùi lại nhường cho người may mắn, diễm phúc hơn! Trái tim Kiên như tan nát, chàng ngượng nghịu chào Quân:
- Quân ở lại về sau, anh phải đi…Chúc Quân luôn vui, tương lai tươi sáng.
Kiên bước ra khỏi quán, băng qua góc ngã tư, ánh nắng chói chang, sao nắng lung linh lốm đốm làm bóng Kiên thêm kỳ lạ. Quân dõi mắt nhìn theo, Hai chân chàng bước nhanh, một tay đưa qua, đưa lại, còn cánh tay băng bột thì treo nơi cổ. Trong lòng Quân cũng có điều gì kỳ lạ, không treo mà hình như đã rớt. Rớt cả một trời diễm mộng  không tên…


                             *    *    *

          Lo xong mọi việc, Quân quày quả trở về An Thới, mang theo niềm xốn xang vì câu chuyện của Kiên. Nàng cũng cầm theo tấm thiệp mời đám cưới của thầy Hiền và cô giáo Nhung do Dung trao lại. Còn phần Thu Sương, ngoài chuyện thi rớt, gia đình nàng có thêm tin chẳng lành nữa.        
          Thu Tuyết, chị của Thu Sương đã cùng người yêu về vùng đất lạnh ngàn năm. Anh Mẫn, một trung úy Biệt động quân đã hy sinh đền nợ nước. Hai người yêu nhau ngót bảy năm trời, từ lúc chị Tuyết đang ở giữa năm đệ tam, anh Mẫn thì đang ở năm cuối cùng chuẩn bị thi tú tài. Mẫn nhà ở xóm Đầu Voi, có năng khiếu về âm nhạc, anh ca hay, đàn giỏi, là trưởng ban văn nghệ của trường Trung học Phó Điều. Chị Tuyết cũng mê âm nhạc, thích ca hát nghêu ngao. Hai người quen nhau qua mối duyên văn nghệ trong trường. Anh Mẫn hay ghé nhà vào những đêm cuối tuần để dạy chị Tuyết đánh đàn ghi-ta. Hai người ngồi hằng giờ dưới trăng trong khu vườn sau thoang thoảng mùi hoa ngâu, hoa sứ. Chị Tuyết dở toán lắm, nên mới được ba má cho phép anh Mẫn đến nhà thường xuyên để dạy kèm chị ấy… Mối tình tuổi học trò kéo sang qua tuổi lính. Bao nhiêu kỷ niệm hẹn hò, mấy lần đi vườn ổi, vườn dừa. Bao phen đi viếng mộ Hội đồng Suông, xa hơn nữa là hai người chở nhau đi Châu Đốc coi lễ vía Bà Chúa Xứ trong dịp anh Mẫn về phép thăm nhà. Mấy năm gần đây anh Mẫn đóng quân ở Vùng 4, nên chị Tuyềt thường xuống thăm và anh Mẫn cũng có cơ hội về Rạch Giá nhiều lần trong năm, tình cảm của hai người càng thêm thắm thiết đậm đà. Chị Tuyết hãnh diện vì có người yêu là lính. Tướng anh hiên ngang, oai hùng trong màu áo hoa rừng, hai bông mai vàng nở thắm trên bâu áo như mùa xuân bất tận.
          Vùng đất miền Tây, Chương Thiện, Đồng Tháp, anh đã miệt mài truy lùng bóng giặc. Đôi giầy bốt-đờ-sô càng nặng hơn khi có người anh em ngã xuống sau một chuyến hành quân.
          Tuyết ở hậu phương hằng đêm nghe tiếng đại bác xa xa vọng về, nàng lo âu cầu nguyện. Cuộc tình kéo dài theo thời gian chiến tranh, anh Mẫn không dám làm đám cưới, sợ vợ góa, con côi nếu lỡ mai anh nằm xuống. Nhưng gia đình Thu Tuyết không muốn con gái mình bị “tòn ten”. Rồi cuối cùng một buổi lễ đính hôn đã được tổ chức để ra mắt hai họ, bạn bè. Anh Mẫn lại vội vàng trở về đơn vị, chuẩn bị ra chiến trường. Tình hình bấy giờ rất dầu sôi, lửa bỏng. Mọi binh chủng sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng tăng viện để yểm trợ cho các mặt trận khác.
          Chị Tuyết ngày ngày đi dạy, trong lòng thấp thỏm lo âu. Chị dạy tại trường Nam gần bệnh viện Rạch Giá. Cái nhà xác nằm bên kia đường, hàng ngày thấy xe nhà binh chở xác lính về nhiều quá chị đâm ra khủng khoảng tinh thần. Có đôi lúc chị nhìn thấy đám học trò nam cầm súng xông tới, vừa chạy vừa hô: “xung phong, xung phong” rồi lại có đứa ngã xuống. Lính miền Bắc, lính miền Nam hai bên đánh “xáp lá cà”. Tiếng đại pháo ầm ầm, tiếng máy bay lượn vòng thả bom yểm trợ, rồi chị thấy anh Mẫn ngã xuống, mình đầy máu me, chị Tuyết hốt hoảng kêu lên:
          - Mẫn, Mẫn, anh Mẫn!
          Đứa học trò tên Mẫn giật mình đứng lên thưa:
          - Thưa cô, cô gọi em?
          Thu Tuyết đầu óc căng thẳng, đôi mắt lạc thần, từ từ lấy lại bình tĩnh, nàng đi xuống dãy ghế em Mẫn còn đang đứng, đưa tay vuốt lên mái tóc cậu học trò, nhẹ giọng bảo:
          - Không có gì, em ngồi xuống tiếp tục làm bài đi.
          Một ngày kia, sắp đến giờ tan học, nàng thấy lố nhố đông người bên khu nhà xác: “Sao lại có mẹ của Mẫn; Rồi lại còn có em gái của Mẫn nữa?”. Tuyết cho đám học sinh lần lượt ra khỏi cổng trường, nàng dựng xe bên hông nhà xác, đi vòng phía sau. Mẹ Mẫn và cô em gái vừa trông thấy nàng đã mếu máo khóc than:
            - Mẫn chết rồi con ơi, Tuyết ơi!
            Tuyết nghe lùng bùng lỗ tai, bầu trời rộng thế mà không khí không có đủ để nàng thở. Tim nàng thắt lại, hai chân quỵ xuống. Em gái Mẫn chạy tới đỡ nàng lên, gọi chiếc xích lô đưa nàng về nhà ngay lập tức, không để cho nàng kịp nhìn mặt Mẫn lần cuối cùng.
            Ngày hôm sau Thu Tuyết mặc đồ tang qua nhà Mẫn thắp ba nén nhang cho chàng, rót mời chàng ba chung rượu lễ. Nàng không khóc, không kêu gào thảm thiết như các người vợ khác. Nàng lạnh lùng, bình tĩnh như một đạo cô đã thức ngộ chuyện tử sinh là lẽ thường tình của trời đất. Nhưng không ai ngờ được, trong nội tâm sâu kín kia cuồn cuộn những ngọn sóng đau thương dâng tràn, đánh sụp sức chịu đựng, che chắn cuối cùng của một con người vốn đa sầu, đa cảm.
            Thu Tuyết về nhà viết lá thư tuyệt mệnh để lại cho mẹ cha. Nàng gom tất cả các lọ thuốc trong tủ luôn cả mấy viên thuốc an thần của nàng. Nàng lặng lẽ giã từ cuộc sống để gặp Mẫn bên kia thế giới. Nàng sẽ không còn khổ đau vì âm dương cách trở. Nàng sẽ cùng Mẫn vĩnh viễn bên nhau, ngàn đời hạnh phúc, ở một nơi chốn không có chiến tranh, không có hận thù, không có chết chóc đau thương.
            Trong bức thư tuyệt mạng, nàng muốn có buổi lễ rước dâu. Ngày đưa tang của Mẫn, họ nhà trai phải mang trầu cau qua họ nhà gái để hoàn tất cuộc hôn phối cho hai người. Linh cửu của Mẫn nằm trên xe nhà giàn chờ ngoài ngõ. Một số người nhà trai bưng rượu lễ, cau trầu cùng khung ảnh của Mẫn đi vào nhà gái hoàn tất cuộc rước dâu, rồi nhà gái mới đưa quan tài của Thu Tuyết ra xe. Chiếc xe nhà giàn từ từ lăn bánh. Thân nhân, bạn hữu, hàng xóm, láng giềng cùng đám học trò tiễn đưa rơi lệ. Một đám cưới đi giữa tiếng trống kèn của hai đám ma. Hầu hết ai cũng ngậm ngùi thương cảm cho cái số kiếp của đôi trai tài, gái sắc. Một người vì nước hy sinh, một người vì tình bỏ mạng.
          Nghe xong câu chuyện, Quân cảm thấy chị Tuyết quá can đảm, nhưng chị quên mất cái công ơn của cha mẹ sinh dưỡng bao ngày. Chị chết đi để lại nỗi thương sầu, tê tái cho cha mẹ già và đàn em dại. Nhưng ở đời mấy ai hiểu rõ chân lý đích thực của tình yêu?     
            Chuyện tình của Mẫn và Tuyết giống như một đoạn thơ nào đó… Người trai đi viết sử đã trở về giữa mùa xuân mới.

            “Mùa xuân năm ấy anh về đến
            Giữa lúc mọi người đang đón xuân
            Trên cỗ quan tài lòe ánh nến
            Tim em thắt lại, tưởng như ngừng…”

Còn Mẫn đã trở về giữa mùa hoa đỏ thắm. Trái tim cô giáo trẻ chung tình, như cánh phượng hồng rụng rơi về đất. Kết thúc một cuộc tình, kết thúc một mùa hoa… Tình yêu thời chinh chiến thường mang đến nhiều tang thương, ly hận. Tuổi trẻ yêu nhau dù trong môi trường nào rồi cuối cùng cũng phải chia tay. Anh ra chiến trường, em ở hậu phương hồi hộp đợi chờ… Ngày qua ngày, khi sử xanh ghi thêm nhiều tên tuổi thì lòng đất mẹ cũng chứa thêm nhiều xác người và lòng người tuôn ra những vần thơ bi thiết:           

            “Rượu tiễn người trai lính Cộng hòa
             Về lòng đất mẹ giữa mùa hoa
             Rượu tình, em rót mời anh cạn
             Uống nữa đi anh - Mộng đã nhòa!”

            Quân bất giác thở dài, lòng đầy trắc ẩn. Nàng lại nghĩ đến Kiên. Nếu ngày mai được tin Kiên ngã gục, tâm trạng của nàng sẽ ra sao? Dĩ nhiên nàng cũng phải xót xa, đau buồn, và hối tiếc. Nàng tự hỏi với lương tâm mình có ác lắm không đã cư xử với Kiên như thế để đẩy chàng vào chỗ chết. Khi một người tuyệt vọng nhất là trong tình yêu thì dễ dàng quên đi mạng sống. Cho dù Kiên thật sự hy sinh không bởi nguyên nhân thất tình, nàng vẫn cảm thấy mình có phần trách nhiệm, điều ấy sẽ làm Quân ray rứt không nguôi. Rồi nàng lại nghĩ đến An, đến cuộc tình của hai người. May mà An là lính hải quân tính mạng ít nguy hiểm, không như Kiên và anh Mẫn ra trận liên miên khiến chị Tuyết lo âu, hồi hộp từng ngày rồi cuối cùng câu chuyện xảy ra quá bi thương. Còn Quân chỉ lo sợ mỗi khi An cùng nàng đi đường bộ lên xuống Dương Đông.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét