Tám người đèo nhau trên bốn chiếc
xe. Ái Mi chở Dung chạy dẫn đầu, ba chiếc kia nối theo sau. Tiếng máy xe nổ
vang ầm ỉ, phá tan bầu không khí tĩnh lặng của buổi chiều. Từng chiếc lần lượt
phóng đi, để lại phía sau khói bụi mịt mù, cát vàng tung tóe. Họ lái thật vững
vàng, tài tình. Bánh xe lệch qua, lệch lại. Đôi lúc tưởng chừng như sắp ngã,
nhưng không sao, rồi cả đám hè nhau cười.
Khi lên dốc cầu Ngang, An cho xe lên
từ từ, nhưng mấy người kia thì cứ ào ào xông tới. Cũng may là chẳng có chiếc xe
hơi nào tranh lên cầu.
Dòng sông khá rộng, màu nước xanh lờ
lờ lặng lẽ trôi. Hai bên bờ sông, nhiều dãy nhà sàn san sát. Quang cảnh buổi
chiều thật êm ả, màu nắng không chói chang như lúc ban trưa.
Đoàn xe vừa qua
khỏi cầu Ngang, trực chỉ thẳng tới ngã ba đường Phan Bội Châu lối ra Dinh Cậu
ngay trước bảng hiệu Hiệp Nguyên, hãng tàu chuyên lo dịch vụ vận chuyển hàng
hóa đi Rạch Giá, Hà Tiên, Cao Miên và ngược lại. Họ quẹo trái sau cầu Quan
Thuế, băng ngang qua nhà Quận, đối diện bên kia đường là Bệnh Xá rất khang
trang được xây theo mô hình chữ U. Trước sân có bồn hoa vạn thọ vàng tươi.
Chính giữa là văn phòng, phía trong hai bên là hai dãy giường của bệnh nhân.
Nằm xéo bên phải là nhà Bưu Điện nhỏ bé, khiêm nhường, nhưng nó chắc hãnh diện
về cái độc tôn của mình. Kế tiếp là nhà máy đèn, cung cấp điện lực cho cả thị
trấn.
Xe chạy tới Ngã Năm, vẫn lố nhố
người lớn và trẻ con đang say sưa đen đỏ. Các sòng bầu cua vẫn rộn ràng mời
mọc. Các em bé lính xính trong bộ quần áo còn thơm mùi vải mới, xen kẽ giữa các
sòng bạc, nhiều bàn nhỏ kê sát nhau bán đủ loại thức ăn. Nào là trứng vịt lộn
nóng hổi được chôn dưới lớp trấu dầy, từng miếng dưa hấu đỏ mọng đặt trong tủ
kiếng mời mọc làm sao! Rồi còn bánh chuối nướng, khô thiều nướng, đậu phọng
luộc, mía ghim v.v…
Tiếng rao của chị bán hàng ngọt lịm.
Khi đoàn xe An chạy qua, cả sinh hoạt ngưng lại. Mọi người ngẩng lên nhìn, chắc
có kẻ rủa thầm, vì bọn họ rú máy chọc ghẹo cho tiếng xe kêu lớn hơn rồi khoái
chí cười vang…
Đoàn xe chạy qua Trường Tiểu Học
Cộng Đồng Dương Đông, có hàng dương cao vút,
xanh rì mọc san sát vào nhau, nằm bên trong vòng rào kẽm gai kín đáo, an toàn
cho các em học trò bé nhỏ. Đối diện cổng vào là trụ cột cờ cao. Gió chiều êm
nhẹ, chỉ còn đủ sức làm lay động lá cờ rũ cuối ngày...
Đoàn xe lướt nhanh qua trường Khổng
Tử, kế đến là Trường Trung Học Phú Quốc, rồi quẹo phải vào con đường lên chùa
Cao. Cả bọn dừng xe lại, dắt xe dựng phía sau đình ông Bổn. Mọi người bắt đầu
bước lên bực xi măng, Quân lo lắng hỏi:
- Để xe ở đây có
an toàn không? Có bị mất cắp không?
Dung trừng mắt:
- Thôi mầy ơi! Làm gì coi thường dân
Dương Đông vậy mầy? Họ lấy cắp rồi giấu mãi trong nhà sao? Đường sá, phố chợ,
nhà cửa, dân tình gom lại vừa đủ một bàn tay. Nói thiệt nghe, mầy mà “phải hơi”
tên nào ở đầu làng trên, thì xóm dưới biết được liền đó...
Quân làm bộ lè lưỡi:
- Tài thiệt, chắc họ ngửi nước mắm
nhiều nên mũi mới thính như thế, phải không nhỏ?
Nói xong Quân chạy một mạch lên các
bậc tam cấp. Dung biết bạn nói xỏ mình nên cũng chạy rượt theo...
Chùa Cao Đài nằm trên phần đất khá
cao, lưng hướng về đồi Nguyễn Trung Trực. Muốn lên tới đỉnh phải leo gần trăm
bậc. Mới hơn một phần ba con dốc, Dung chỉ về phía bên trái có ngôi mộ xây kiểu
lục giác và nói:
- Đây là mộ bà giáo Mười, thân nhân
của thầy Đắc. Những người tu theo đạo Cao Đài, nếu đắc đạo, khi qua đời, họ đều
chết ngồi, gọi là “Liễu Đạo”. Trong tư thế ấy nên khi an táng, cái mộ đều có
hình dáng như vậy.
Năm người kia đã lên hai phần ba
đoạn dốc, cả nhóm đứng lại chờ đợi bọn Quân.
Ái Mi nói vọng xuống với Dung:
- Đi lẹ lên, sắp hết nắng rồi, còn
chụp hình nữa đó!
- Biết rồi.. Nhưng cũng phải để tao
làm hướng dẫn viên với khách đường xa chứ!
Nói xong Dung kéo tay Quân và An
chạy một mạch, mệt quá nàng ngồi bệt xuống bậc xi măng, vừa thở vừa nói:
- Ở đằng kia kìa, có cái miếu nhỏ
còn lưu bút tích của ngài Ngô Minh Chiêu, người đã sáng lập ra tông phái Cao
Đài, sau khi được thấy Thiên Nhãn tại đảo Phú Quốc nầy.
Rồi như để tránh sự tò mò, thắc mắc
của Quân và An nên Dung nói tiếp:
-
Muốn nghiên cứu hoặc tìm hiểu thêm thì làm ơn kiếm sách mà đọc, tôi chỉ biết
được chừng ấy thôi.
Quân chê bạn:
- Mầy dở ẹt! Dân bản xứ mà sao tệ
thế em?
- Gia đình tao đạo Phật, đâu phải
đạo Cao Đài...Còn mầy, làm như giỏi lắm, biết gì về đạo Chúa không? Để tao hỏi
mấy câu:
-“Vinh
danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người thiện tâm” và câu “Vinh
danh Thiên chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người Chúa thương”. Câu nào
đúng nhất? Có trong sách vở đó... bí rồi phải không em?
Quân cãi lý:
- Tao đâu phải
đạo Thiên Chúa, Quân quay sang hỏi An:
- Trả lời đi anh! Câu nào đúng?
An cười trừ:
- Đành phải chịu
thua thôi… Chắc cô Dung có câu trả lời?
- Dĩ nhiên! Dung nói:
- “Câu cho người Chúa thương”. Đoạn
14, câu 2 sách Mác Cô...
- Cô Dung giỏi thiệt, An khen.
Quân nguýt bạn một cái thật dài:
- Đồ con mọt sách, kỳ nầy vào trường,
tao không cho cọp dê toán nữa thì mầy sẽ thành con, con… con ...
Rồi
nàng quay sang hỏi An:
- Con gì hả anh?
An phì cười:
- Con “Lật Đật”. Nói xong An giục:
- Các anh chị kia đang đợi mình kìa,
lên chụp vài tấm hình để kỷ niệm. Phong cảnh ở đây đẹp quá.
Lên thêm mươi
tam cấp nữa, ngôi chùa hiện ra, kiên cố và bề thế. Trước mái điện thờ, phía
trên cao có hình một con mắt tức Thiên Nhãn (Mắt Trời) in nổi lên những tia mắt
uy nghiêm. Hai bên là hai dãy nhà nằm thụt về phía sau. Dãy bên phải là nhà
bếp, khi lễ lớn, người trong Sài Gòn ra xin cầu cơ, giáng bút rất đông đảo, nấu
nướng các món chay thật ngon. Bên trái căn nhà có gác lửng, thường ngày là nơi
sinh hoạt công phu, ăn ở của người trụ trì. Lên thêm bảy tám bậc tam cấp nữa là
phần đất cao nhất của chùa. Đứng ở nơi nầy nhìn thấy tất cả quang cảnh chung
quanh, nhà cửa, đường lộ và dòng sông “Dấu Hỏi” dưới kia. Xa hơn nữa là nhà ga
phi trường, mà buổi trưa Quân và An đã ghé đến. Dãy núi sẩm màu mờ xa trước mặt
là Khu Tượng (Ngày xưa trong những đêm trăng sáng, thường có nhiều đàn voi kéo
về đùa giỡn tắm trăng).
Là mùa xuân, nên
hoa lá xinh tươi nở rộ, khoe đủ sắc màu. Khảnh vai đeo máy, chụp hết cặp nầy
tới cặp kia. Người nào cũng lựa một chỗ thật đẹp, chọn cái hoa nào nở to nhất
là nhào vô.
- Chụp chỗ nầy nè!...
Khảnh nói:
-Tối hù hà, rửa ra không đẹp đâu… Mình kiếm chỗ nào còn ánh nắng thì chụp chung tất cả nhé!
-Đồng ý, đồng ý...
An kéo Quân đứng trên mỏm đá cao,
bên cạnh cây nhãn đang hồi ra trái, một chùm trái sai quằn. Khảnh bước tới dặn
dò:
- Anh chị xoay mặt hướng nầy nè, còn
một chút ánh nắng... Nhớ đừng đụng chùm nhãn nhé!
Quân thắc mắc hỏi liền:
- Sao vậy anh Khảnh?
- Bác Năm đó! Bác rất cưng các loại
hoa trái ở đây.
Dung nói thêm:
- Bác Năm là người trụ trì và săn
sóc ngôi chùa nầy đó. Bác là người trí thức và cũng rất giỏi Pháp văn. Bác
thường dạy kèm thêm học sinh trung học về môn nầy.
Có tiếng tằng hắng, cả bọn đồng
thanh:
- Chúng cháu kính chào bác Năm.
Người đàn ông trung niên không cao
lắm, trong y phục màu trắng cười hiền lành vui vẻ nói:
- Các cháu lên
chùa chơi hả? Đầu năm có chụp hình chưa?
Khảnh
nhanh nhẩu trả lời:
- Dạ rồi, chụp gần hết phim luôn.
Bác
Năm vừa nhận thấy có hai người ít khi xuất hiện nơi đây, còn bọn kia bác đều
biết cả, vì họ thường đến khi lễ lạc, Tết nhứt hoặc những ngày bãi trường.
Dung như hiểu ý, giới thiệu An và
Quân là hai người khách đến từ An Thới. Bác Năm vui vẻ:
- À, thì ra thế... khi nào về lại An
Thới?
Quân thưa:
- Dạ mùng bốn bác ạ.
Ông từ tốn cáo lui vì đã tới giờ
công phu rồi.
Khảnh còn ráng
chụp thêm mấy tấm hình nữa cho cả bọn.
An giành máy:
- Anh Khảnh đứng vô đi để tôi chụp
cho, nãy giờ anh chụp cho mọi người, mai mốt rửa hình chẳng thấy có hình anh
đâu cả thì tiếc lắm.
Nhìn về hướng tây, bầu trời đang
chuyển màu mây thật lẹ, vùng biển nước mênh mông trước mặt, có nhiều tảng đá
to, nhỏ nằm trầm mình dưới làn nước xanh, hình thù trông giống như trâu mẹ,
trâu con đang tắm biển buổi hoàng hôn.
Dung hối:
- Trời sắp tối rồi đó, mình chạy ra
Dinh Cậu để ngắm mặt trời lặn và coi ghe tàu ra khơi...
Cả bọn chạy ùa xuống dốc... cho xe
nổ máy, tám người lại leo lên bốn chiếc xe chạy
thẳng ra Dinh Cậu. Đoàn xe chạy ngang qua Ngã Năm thêm lần nữa, lúc nầy người
lớn, trai gái, trẻ con đông đúc hơn ban trưa. Tiếng máy nhạc hát những bài ca
về mùa xuân thật ngọt ngào nồng thắm.
Những bánh xe tiếp tục quay nhanh,
tiếng máy nổ ran, chiếc nầy chồm lên, vượt qua mấy chiếc kia, thì chiếc khác
bấm kèn inh ỏi, lướt qua một cái ào.
An thấy bọn người trẻ nầy lái xe
thiệt nghề. Họ thắng lại một lượt khi đã cuối đường.
An lái xe không thiện nghệ như họ
nên lẹt đẹt chạy sau. Bên trái của chàng là ngôi nhà Quận, tường thành vững
chắc, hàng rào kẽm gai bao bọc chung quanh. Trước sân có một trụ cờ, lá quốc kỳ
phất phới bay trong gió chiều nhè nhẹ. Vài anh lính gác đi qua, đi lại trước
cổng vào.
Ngồi sau lưng An, Quân kể chuyện:
- Thời gian
trước đây ông Quận Trưởng Sơn đã hy sinh, ngã gục tại cột cờ nầy. Ông Sơn đổi
về làm Quận Trưởng đảo Phú Quốc không được bao lâu thì biến cố đã xảy ra...
Một đêm tối trời, khoảng nửa tiểu
đội du kích Việt Cộng men theo đường mòn Bà Kèo, đi dọc bờ biển, phía dưới chân
đồi Nguyễn Trung Trực và tiến thẳng lên gần Dinh Cậu. Họ đụng chốt chặn đầu
tiên là Chi Cảnh Sát, trụ sở nầy nằm sau lưng Quận cạnh nhà thờ. Vì quá bất
ngờ, nên anh em cảnh sát phản ứng không hữu hiệu, bọn Việt Cộng đã làm chủ tình
hình. Rồi họ tiến thẳng đến ngôi nhà Quận bằng ngả sau. Hành động mau lẹ và quỷ
quyệt vô cùng, họ cắt đứt hàng rào kẽm gai xông ra phía trước. Loạt đạn đầu
tiên khai hỏa bởi chạm trán ngay với lực lượng bảo vệ an ninh của Quận.
Ông Quận Trưởng Sơn, khi nghe tiếng
súng nổ, vội vàng chạy ra xem coi chuyện gi? Trên người vẫn còn mặc bộ đồ ngắn.
Ông biết Quận đã bị Việt Cộng tấn
công. Chưa kịp trở tay, ông đã bị trúng liền một quả bê-ta, ông gục xuống chết
ngay trên vũng máu tại cột cờ.
Những con người
mặc đồ đen biến nhanh vào đêm tối, để lại bao nỗi kinh hoàng, sợ hãi cho người
dân thị trấn Dương Đông.
Bọn Khảnh dừng xe lại trước Đài khí
tượng, bên cạnh vườn hoa nhỏ nằm gần mé bãi.
Dinh Cậu đây rồi! Một vùng biển trời
bao la, bát ngát. Nhiều tảng đá to nằm chồng chất lên nhau, kéo dài từ bờ tới
tận ngoài xa.
Dinh Cậu được xây trên tảng đá to
nhất nằm sát bãi. Chiếc cầu xi măng dài được nối tới chân Dinh Cậu. Lối lên,
xuống là các bậc tam cấp rất vững chắc. Cạnh hốc đá, một thân cây không nhiều
cành lá, nhưng cũng đủ bóng mát để che cho một số người.
Phía trái là bãi
cát vàng thoai thoải, chạy xa tít qua khỏi vườn dừa Cù Chin thẳng tới mũi Tàu
Rủ. Qua nhiều gành đá, bãi bờ, sẽ dẫn tới mũi Phước Hưng thuộc vùng đất An
Thới. Bên cạnh Đài khí tượng, một cây dừa lả ngọn, đứng phơi mình giữa nắng gió
biển khơi. Phía phải là cửa biển nơi ghe tàu ra vào thị trấn. Bên kia là xóm
Cồn, sau rặng thùy dương xanh bóng, những bãi cát vàng nối tiếp, nhiều gành đá
kéo dài tới Cửa Cạn, xa hơn nữa là Vũng Bầu Bắc Đảo.
Bên nầy cửa biển, tượng Đức Mẹ bồng
con đứng trên bệ đá cao, đôi mắt hiền từ, ngày đêm theo dõi, quan phòng đám dân chài vật lộn với bão tố cuồng
phong…Những tảng đá to ngoài kia đã che chắn, bảo hộ an toàn cho người
dân vượt qua cơn sóng gió ba đào khi ra vào
thị trấn trong mùa biển động.
Thầy Hiền vẫn còn ngồi trên xe cười
nói với An:
- Anh thấy không? Nhất quỷ, nhì ma,
thứ ba là học trò. Đúng lắm phải không anh?
An cười:
-
Năm mười năm trước, tôi cũng thế đấy! Nhiều khi còn tinh nghịch hơn nữa cơ! Bây
giờ đã hết rồi...Làm sao tìm lại được ngày tháng cũ đây?
An
nói thêm:
-
Anh thế mà sướng! Thầy giáo thì lúc nào tính tình cũng trẻ trung vô tư như bọn
học trò của mình.
Thầy
Hiền cười:
- Anh nói thế, chớ Dung em họ tôi
thường gọi tôi là “ông cụ non”.
Các cô gái đang đứng ở lối lên Dinh
Cậu, Dung đưa tay vẫy vẫy, nói to:
- Hai anh làm gì ngồi miết đàng đó?
Lên đây với bọn nầy chớ! Người nào có đôi,
có cặp lên xin xăm đi!...Coi đường tình duyên như thế nào?
Quân hí hửng:
- Mầy cũng xin luôn nghe.
- Khỏi cần, tao biết đường tình
duyên của tao rồi, mầy với anh An xin một quẻ đi!
- Ảnh đạo công giáo không tin đâu.
Vừa nói dứt câu,
thì An và thầy Hiền vừa ló đầu lên. Quân kéo tay An bước vào ngôi đền nhỏ. Gió
biển đến hồi thổi mạnh, nên cửa trước đã đóng kín lại, chỉ còn cái cửa bên
hông. An ngần ngừ không muốn bước vào, chàng đẩy Quân vô:
- Em vô một mình đi! Coi chừng rút
nhằm cây xăm xấu thì buồn cả năm.
Quân trả lời:
- Nếu thế thì mình đừng có tin...
- Không tin thì xin làm gì?
An trả lời, rồi chàng kéo Quân ra
phía trước.
Dung và Ái Mi đang đứng chờ trước
cửa đền, thấy An và Quân bước ra, Mi cười hỏi:
-Quẻ xăm “Thượng
Thượng” hả? “Cá gặp nước, rồng gặp mây, hay chim liền cánh, cây liền
cành?”.
Quân lắc đầu:
- Không xin, sợ xăm “Hạ Hạ” rồi lo lắng
suốt năm.
Dung cười chê bạn:
- Đồ thỏ đế!
Quân nhún vai:
-kệ
tui!
Cúc Hương bước tới chỉ tay về hướng
Cửa Cạn, mọi người nhìn theo thấy một chấm nhỏ màu xanh lục, nhô ra khỏi bờ cát
vàng nhuộm ánh hoàng hôn, viền theo bởi những đường sóng trắng xô bờ nhạt nhòa,
mờ mịt.
Dung nói:
-Trên Cửa Cạn có
rừng mai lớn lắm, mùa nầy trổ bông rất đẹp.Tiếc là hơi xa, nên chúng ta không
thể đến đó được.
An
hỏi thêm:
- Khi xưa học
lịch sử, tôi được biết ngài Nguyễn Trung Trực lập căn cứ đánh Tây tại chỗ đó
phải không cô Dung?
Thầy Hiền đứng bên trả lời thay
Dung:
- Ngay tại Dinh Cậu và cồn cát bên
kia cũng có đồn của ngài nữa. Khi bọn Tây và quân tay sai ruồng bố quá, nên
ngài đã rút về Cửa Cạn. Nghe nói bà Tướng Lớn, vợ của ngài đã qua đời trong lúc
sinh nở, vì bị bọn Tây đuổi rát quá. Sau một thời gian em bé cũng chết theo vì
không đủ sữa bú. Ngôi mộ của bà vẫn còn ở đó, hằng năm dân chúng cúng bà rất
trọng thể.
Khảnh đưa tay chỉ về phía Cồn nói:
- Phía sau cồn cát bên kia, ngày xưa
toàn là đầm lầy, nhiều cá sấu, nhiều rắn rít. Cỏ lác mọc um tùm. Lính của ngài
Nguyễn Trung Trực đêm ra đánh Tây, ngày rút vào cứ địa, đã làm khốn đốn cho bọn
thực dân nhiều phen. Sau có tên Việt gian bày kế bắt mẹ ngài, rồi hăm dọa, nếu
ngài không ra nộp mình, thì đốt sạch nhà cửa của dân làng và tính mạng của mẹ
ngài sẽ không được an toàn.
Để làm tròn chữ hiếu, giữ đạo nghĩa
với dân, nên ngài phải ra nạp mình.
An tỏ lòng thán phục, chàng thốt
lên:
- Những gương hy
sinh của tiền nhân vô cùng cao cả và dũng cảm, đáng để con cháu noi theo... Đảo
nhỏ mà có nhiều di tích lịch sử quá! Chắc tôi phải nhận nơi nầy làm quê hương
sống cho hết kiếp luôn, các bạn cho phép không?
Cả đám rối rít:
- Nên lắm! Nên lắm!
Dung
nói thêm:
- Đảo nầy rất nhân ái, dung chứa, cưu
mang đủ mọi thành phần: sa cơ, lỡ vận, chính trị ẩn cư, trốn nợ, trốn tình,
hoặc xây tổ uyên ương v.v…
Mỹ Nhung là người ít nói, chỉ lắng
nghe, bây giờ mới lên tiếng:
- Còn điều nầy kỳ thú lắm nè!
Hồi Nhung còn nhỏ, có nghe ông ngoại kể: “Lúc
xưa chỗ nầy còn hoang vắng... Có cặp Rắn Thần, mình lớn bằng cái lu nước, dài
gần chục mét, trên đầu có sừng đỏ
chét, vẩy đen huyền bóng lộn. Thường ngày thì rút vô hang, đến đêm rằm trăng
sáng, hai ông bà rắn mới ra giỡn trăng”.
Nhung ngó sang bãi cát bên Cồn nói
tiếp: “Nơi đó, hai vợ chồng rắn tha hồ
đùa giỡn tắm trăng, tắm cát, vật nhau bình bịch. Dân chài sống gần đó sợ lắm,
họ đứng thật xa vạch lá lén nhìn, chỉ thấy hai cái bóng chao qua, chao lại. Đùa
giỡn thỏa thích, hai ông bà rắn gác đầu lên mỏm đá cao phía bên Dinh Cậu mà
ngủ, còn phần đuôi thì nằm bên cồn cát. Hình ảnh giống như hai chiếc võng to
mắc ngang cửa biển, ghe xuồng không ai dám qua lại, ra vào. Người dân quá sợ
hãi, cột chân gà, vịt đem cúng, để gần miệng hang. Nhưng cặp rắn nầy không ăn
thịt sống, dân chúng thấy lạ quá, bèn bàn nhau cúng các loại trái cây, rau quả
xem sao? Thì ra cặp rắn nầy ăn chay, tu luyện lâu năm nên không làm hại ai
cả... Tuy nhiên dân làng cũng thành tâm khấn vái, mong ông bà rắn dời chỗ ở, để
người dân an tâm ra vào cửa biển. Từ đó về sau không ai còn thấy cặp rắn nầy
xuất hiện nữa. Có lẽ vợ chồng rắn đã di cư về Hòn Chảo, Bắc Đảo rồi”.
Quân nghe xong lè lưỡi:
- Có thiệt
không? Hay là ổng bả còn ở dưới hang nầy?
Cúc Hương chen vào trấn an:
- Chuyện xa xưa lắm rồi, hổng biết
có thiệt hay không? Hay là ông bà, cha mẹ sợ con nít ra bãi một mình, nên hù
dọa vậy thôi!
Quân ngó xuống phía nam thấy một
vùng sáng mờ mờ, xa thật xa, nàng hỏi:
- Chỗ đó là chỗ nào vậy?
Thầy Hiền trả lời:
- Đài kiểm báo 403, những ngày trời
trong, chúng tôi đều thấy được ánh đèn ấy. Nếu từ mũi Phước Hưng An Thới đi tàu
đò lên trên nầy, vừa qua khỏi Đài kiểm báo rồi tới Cửa Lấp là chúng tôi thấy
“Mờ Mờ Dinh Cậu” rồi. Đây là nói câu đặc thù của dân Dương Đông đó.
Nắng tàn, gió chiều nhè nhẹ, biển êm
như ru. Dung nhìn xuống thấy ghe nhà ra khỏi họng cửa một khoảng khá xa, vượt
qua ngọn hải đăng, chiếc ghe đi vào vùng biển trước mặt rồi mất hút. Chiếc ghe
khác tiếp nối ra khơi, mong ngày đầu năm xuất hành được nhiều thuận lợi.
Dung nhìn các bạn nói:
- Hy vọng tối nay tụi mình có bữa cá
hấp ngon lành.
Vừa bước xuống
bậc thang cuối cùng của Dinh Cậu, cả bọn nhao nhao kêu đói. Họ đều đồng ý vào
quán Cù Đe ăn hủ tiếu.
Ái Mi nói:
- Hủ tiếu ở đây ngon lắm.
Hương nói thêm:
- Đi cả ngày khô người quá, cần có cái gì nước nước húp
cho lấy lại sức, để còn qua Cồn coi gỡ cá nữa chứ!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét