Mới mười giờ
sáng, mà ánh nắng chan hòa khắp mọi nơi, hứa hẹn một ngày nắng đẹp trời trong. Cũng
những gương mặt ấy, họ đèo nhau trên bốn chiếc xe, vừa xuống dốc cầu Ngang, họ
quẹo phải. Mùng ba Tết không khí vẫn còn xuân, phố xá vẫn tưng bừng nhộn nhịp.
Nhiều cửa tiệm cúng khai trương xuất hành đầu năm, tiếng pháo nổ lạch tạch, đì
đùng lúc nhặt, lúc khoan. Tiếng trống múa lân rộn ràng, thúc giục như nhắc nhở
mọi người hãy tận hưởng cái giây phút cuối cùng của ba ngày Tết sắp sửa đi qua.
Ngay góc ngã tư bên kia đường, tiệm bi-da của chú Sáu Cầu, đã có một nhóm thanh
niên đang nghiêng mình chồm tới, chơi những đường banh lả lướt tài tình. Đối
diện xeo xéo là cầu tàu, nơi ghe tàu vận chuyển hàng hóa lên xuống như gạo
đường, mắm muối cùng các nhu yếu phẩm khác từ đất liền ra và ngược lại.Một cơn
gió bấc thổi qua, xác pháo hồng bay lăn lóc trên mặt lộ thẳng tới nhà cô Ba, cô
Tư bán cháo lòng. Quân như người hướng dẫn du lịch kể cho An nghe một số khuôn
mặt có tên tuổi, có tiếng tăm và sinh hoạt địa phương khi đoàn xe chạy ngang
qua các nơi đó.
Một ngôi nhà cổ kính, mái ngói âm
dương thâm nâu màu gạch, có lẽ lâu đời nhất, nhì trên đảo. Ba chữ nho sơn son,
thếp vàng lẫm liệt, nằm trên tấm bảng lớn treo trước mái hiên. Hồi Pháp bảo hộ,
lính Tây nhìn thấy ba chữ nầy cũng ớn, không dám đụng chạm… Sau nầy, nho học
lui vào bóng tối, mọi người đi qua, đi lại chẳng ai hiểu ý nghĩa gì của ba chữ
ấy. Tuy nhiên có một điều ai cũng biết cô Ba, cô Tư, một đời ở vậy, không
chồng, không con, phụng dưỡng bà nội cùng người chú ruột bằng nồi cháo lòng
hằng mấy chục năm nay. Đời sống khép kín sau mỗi buổi chợ, nên tính tình họ rất bảo thủ, khó khăn, họ sống quy củ
và nề nếp lắm.
Bà Đinh Thị
Lan, bà nội của hai cô, là em cô cậu ruột với ngài Ngô Minh Chiêu, người sáng
lập ra đạo Cao Đài (cũng là Tri Huyện tại đảo Phú Quốc). Trước ngôi nhà Từ
đường, bên trong hàng rào cây cơm rượu, có ngôi miếu nhỏ thờ ngài Ngô Minh
Chiêu, cúng kiếng trà, nước mỗi ngày ba thời.
Một người cháu
đích tôn của dòng họ Nguyễn là ông Nguyễn Thanh Vân, từ khi lấy vợ miệt vườn,
với bầy con tám đứa, đã mất đi cái oai phong của chàng công tử một thời...Cái
ông còn để lại là tám người con có tám cái tên rất đẹp, rất ý nghĩa, duyên
tình: “Long, Phụng, Hòa, Minh, Sắc, Cầm, Hảo, Hiệp”.
Xe chạy ngang
qua nhà sản xuất nước mắm Sáng Tươi. Một vuông sân khá rộng, ngôi nhà chính nằm
tận phía trong, phía trước góc trái có bụi bông sứ, lá xanh, hoa vàng. Sau nhà
để xe là cây mận già vẫn còn ra bông trắng xóa. Bên hông và phía sau căn nhà,
nhiều thùng nước mắm cao, to vẫn còn đậy kín mít, chờ ngày cá chín, mở lù, vô
chai, dán nhãn rồi phân phối khắp nơi.
Nước mắm Sáng Tươi rất phong phú
chất lượng, cũng như cuộc đời ông rất đông con nhiều cháu, lắm tiền nhiều của. Thời vua Bảo Đại, ông đã có xe hơi, chiếc
trắc-xông (Traction) màu đen cũng làm lé mắt nhiều người dân trên đảo.
Ôm theo độ cong của bờ sông, nhà ông
Tám Huyện (Phạm Văn Quyền) xã trưởng xã Dương Đông nằm tận phía trong hiện ra.
Cây Da Bầu nghe đồn có ma, ai cũng ớn. Bà Tám Huyện đẹp người, đẹp nết, ít giao
thiệp với ai, nhưng rất mực thương yêu, cưng chiều con cái.
Ông Chín Hiền,
một doanh gia rất thành công, là em ruột của ông Tám Huyện. Nào là tiệm thuốc
tây, lò bánh mì, cùng ngôi nhà mát nằm sát bờ biển gần Dinh Cậu do ông quản lý.
Nếu chạy thêm một đoạn nữa là gặp ngay nhà thùng Phước Ký, họ cũng có con cháu
nối nghiệp là nhà thùng Phước Hưng ở An Thới.
Đoàn xe rẽ trái
vào đường giữa, vượt ngang nhà thùng Hồng Đại, ngoài việc sản xuất nước mắm nổi
tiếng, ông bà Hồng Đại còn có hai cô con gái thuộc hạng kiều nữ Dương Đông “Mai
cốt cách, tuyết tinh thần. Mỗi người mỗi vẻ, mười phân vẹn mười”.
Bên cạnh con đường, cái giếng cô Ba,
cô Tư, muôn đời nước vẫn trong, màu nâu nâu đỏ[1]* như màu
thủ cung sa của cô gái vẫn còn băng trinh dù tuổi đã xế chiều.Thấp thoáng bóng
cây khế ngọt, già gần ba thế hệ, trái chín vàng ươm xen kẽ giữa những chùm hoa
tim tím gợn buồn.
Ông Liềm, người
Việt gốc Hoa đã sống lâu đời ở đây, cũng chủ nhà thùng. Ông góa vợ, nuôi một
đàn con. Vợ ông qua đời sau khi sanh đứa con trai út. Đám tang thật lớn, người
đưa rất đông, ngôi mộ thật to, yên nghỉ ngàn thu trên dốc núi bà Kèo.
Xe chạy qua trụ sở xã Dương Đông rồi
chạy ngược lại hướng cầu Ngang. Bên
đường có nhiều bóng cây cổ thụ, văn phòng đại diện hãng Hàng Không Việt
Nam cửa đóng im lìm. Cạnh là nhà thùng Nam Phong, nước mắm cũng có chất lượng
lắm, tuy nhiên điều đáng nói ở đây là ông bà Nam Phong có mấy người con làm
nghề dạy học.
Khảnh ra dấu, cả bọn quẹo phải trên con đường
Nguyễn Trung Trực, quang cảnh nhuộm đầy hương sắc mùa xuân. Nhà lầu, nhà trệt,
tiệm quán rộn rịp đông đúc người ăn uống, qua lại. Mùi thơm của các món ăn bay
ra thơm phức từ cửa tiệm Trà Gia Lục Quốc, Cà-Phê Hợp Chúng.
Xe chạy giữa lòng đường, màu cờ vàng ba sọc
đỏ, ánh lên trong đôi mắt hiền lành của người dân quận lẻ.
Ngôi nhà lầu ba
tầng, tọa lạc gần góc ngã ba cạnh Chi Cục Kiểm Lâm, trong sân có chậu mai vàng
nở thắm và cây mận ngọt xum xê cành lá. Huỳnh Thành Tựu, nhà sản xuất nước mắm
kỳ cựu một thời. Ông gầy dựng sự nghiệp bằng hai bàn tay trắng, là người hiền
lương, đức độ, đã làm rạng danh người Phú Quốc nói chung và cá nhân ông nói
riêng, qua sự tuyên dương công trạng quyết định số 1 của Bộ Kinh Tế Việt Nam
Cộng Hòa. Nguyên văn như sau:
Ánh vinh quang vẫn còn chiếu sáng.
Tuy nhiên, nay tuổi già, sức yếu, ông đã truyền giao sự nghiệp lại cho hai vợ
chồng người con gái thứ tư là bà Huỳnh Thị Huỳnh Mai (Cô tư Thiệp) và chồng là
ông Từ Văn Nghĩa. Vì nhu cầu, họ kiêm thêm việc mua bán các loại máy tàu, chân
vịt và các thứ phụ tùng thiết yếu khác cho ghe tàu đánh cá.
Cô Huỳnh Phụng Vân, con gái út của
ông cả Tựu, là giáo sư dạy trường Trung Học Phú Quốc. Dáng người dong dỏng cao,
gương mặt thanh tú, nết na thùy mị. Cô Vân rất được các học sinh yêu thương,
quý mến.
Ông cả Tựu còn có người em gái thứ
sáu là bà sáu Chọn, một hoa khôi ngày trước, nay là má của cô Ba, cô Tư bán
cháo lòng.Dân trên đảo, nhiều gia đình kết tình thông gia với nhau, rồi dây mơ,
rễ má cứ quấn quít xoay tròn nên hầu hết ai cũng có họ hàng, bà con với nhau
cả. Xe lướt qua trước cây xăng
nhà cù Chin, ông cù Chin nhờ ở đây lâu đời nên tậu được nhiều đất
đai, tài sản lắm. Xe chạy ngang qua cây mả tiền, Quân nói:
- Nhỏ Dung bảo cây nầy có ma đó anh!
Rồi nàng ôm chặt An, như sợ có con
ma nào phía sau, chực chờ níu áo nàng lại. Nàng thúc vào hông An:
- Anh chạy lên, chen vào giữa xe con
Dung đi, ghê quá!
An nói đùa:
- Các cô phá còn hơn ma, mà lại sợ
ma sao?
Họ chạy dọc bờ
sông một khoảng xa, phía trên nhà cửa xây mặt ra bờ sông cũng khá tươm tất.
Phía dưới mé sông, nhà cửa thưa thớt, vài chiếc cầu ván nhô ra trên mặt nước là
chỗ cho ghe, tàu đậu vào. Bên kia sông vài ngôi nhà sàn lặng lờ soi bóng che
khuất một phần mái của hãng đóng cá hộp Sumaco…Một chiếc ghe vừa rời bến chạy
giữa sông làm rẽ đôi mặt nước loang loáng dưới ánh nắng ban trưa. Ngôi nhà bác
mười Đức hiện ra, với hàng rào bông bụp, nay không còn màu thắm, vì người con
dâu, cô giáo Điều đã bị chết tức tưởi bởi đạn pháo của Việt Cộng trong ngày bầu
phiếu. Cô Điều là người đất liền, xinh đẹp, nết na, được chồng cưới ra Phú Quốc
làm dâu mấy năm. Cô tiếp tục dạy học, trong ngày bầu cử, cô lãnh trọng trách
coi giữ phòng phiếu tại Trường Tiểu Học Cộng Đồng Dương Đông. Buổi sáng đó,
nhiều quả đạn pháo rớt vào, một số người bị thương và vài người chết. Việc giết
người vô tội không thể nhân danh cho một lý tưởng nào đó...
Anh Hân, chồng cô Điều đang sống
những ngày tháng hạnh phúc với vợ, bỗng dưng nay bị chia lìa. Đứa con trai mới
tròn hai tuổi, mặc đồ tang mà miệng vẫn tươi cười, tưởng mẹ vừa may xong cho bộ
quần áo mới.
Chiến tranh ý thức hệ do người vô
thức chủ trương và lãnh đạo sẽ mang đến nhiều hệ lụy cho các quốc gia, dân tộc
trên thế giơi. Chủ nghĩa Cộng Sản giống như đám cỏ lác bên kia sông, nếu không
chận lại kịp lúc, kịp thời chúng sẽ mọc tràn lan khắp nơi khắp chốn hút hết mọi
tinh hoa của lòng đất đảo…. Mà lạ thật lòng người sao cứ như lòng sông hứng
chịu mọi thứ tai ương, nạn kiếp giáng xuống. Qua nhiều thời đại dòng sông vẫn
trong xanh trôi chảy không ngừng…
Con đường phía trước hẹp dần, nếu
chạy tới nữa sẽ lọt vào xóm Quy Khu. Cả đoàn xe quẹo phải ngay cây cầu mà hàng
năm vào ngày 13 tháng 03 âm lịch, người dân Dương Đông có tổ chức buổi cúng Tống Gió. Tuy có phần mê tín
nhưng họ coi đây là một tập tục nên đã ảnh hưởng đến nền tảng tâm linh không
ít.
Trước
một ngày, từ xóm Cồn cho tới xóm Quy Khu, mọi nhà đều phải đặt bàn hương án
trước sân. Phẩm vật cúng kiếng thì cũng rất đơn sơ, một ít hoa quả, nhang đèn,
bánh kẹo và hai túi nhỏ đựng muối gạo. Bàn hương án phải để ngoài trời suốt
đêm. Trước khi đi ngủ gia chủ phải thắp thêm
nhang đèn, nếu lỡ bị trời mưa thì gia chủ phải dời bàn hương án vào trong hiên
nhà. Dưới ánh trăng mờ ảo, cả thị trấn Dương Đông chìm ngập mùi nhang khói hăng
hăng nồng nồng, đường sá vắng tanh, nhà nhà cửa đóng im lìm, chỉ còn những bàn
hương án với ánh nến lung linh, lập lòe trước gió tạo cho quang cảnh thêm phần
ma quái rợn người.
Dưới
bờ sông cũng có sẵn chiếc xuồng nhỏ đóng rất sơ sài, với các lá cờ đen cắm dọc
hai bên và đặt lên đó mấy cái hình nộm nữa. Lễ cúng thì được tổ chức tại đình
ông Bổn với đầy đủ nghi thức âm binh, đồng bóng.
Đến giờ, họ đi
từng nhà để thâu nhặt các phẩm vật. Dẫn đầu là đoàn âm binh ngũ hành, khoảng
vài mươi người cùng với các pháp sư, tay cầm cờ xí, theo sau là đám thanh niên
khỏe mạnh để phụ khiêng vác các phẩm vật. Họ vừa đi vừa đọc các bài chú, bài kệ
để kêu gọi, chiêu hồn, dụ bắt các bầy ma hoang, chết sông, chết biển, chết bụi,
chết bờ chưa siêu thoát, còn đang lẩn khuất đó đây thường hay phá phách nhân
gian.
Đoàn âm binh ngũ hành cố tình ăn mặc
sao cho giống y hệt người cõi âm. Áo quần họ xốc xếch, màu mè, mặt mày thì vẽ
rằn ri, dị họm. Tiếng mõ tiếng chuông gọi hồn vang lên từng hồi. Họ đi như vậy
qua nhiều khu phố để thâu nhận các lễ vật, thâu nhặt các hồn ma rồi đưa về đình
cho ăn uống no nê, nghe kinh nghe kệ, để hôm sau mới tống ra biển. Khi đoàn âm
binh ngũ hành nầy đi tới đâu thì đều có tiếng chuông, tiếng mõ báo hiệu để gia
chủ ra tiếp đón và đưa lễ vật. Thông thường lễ vật mang đi cần phải có muối gạo
là điều chánh yếu. Khi đoàn âm binh vừa quay gót thì gia chủ thảy theo muối gạo
để tống bỏ những tà khí, những sự xui xẻo trong năm nếu có để bầy ma đói mang
đi theo luôn. Không khí trong những đêm như vậy rất u ám ghê rợn, trẻ con cấm
ngặt không được ra khỏi nhà sợ bị kỵ, bị quở, sinh ra ốm đau bệnh tật. Trái với
lễ xô giàn, trẻ con mặc tình vui chơi hào hứng.
Với con mắt bắt ma nhà nghề của ông Ngũ hành, khi
đi qua nhà nào thấy có nhiều tà khí, thấy có nhiều hồn ma ẩn núp, ông liền dừng
lại làm phép để tiêu trừ, thâu tóm các âm khí tà ma. Nhiều gia chủ, trẻ con
trong năm đau yếu liên miên nhưng chẳng biết là bệnh gì, nhân dịp nầy nhờ ông
Ngũ hành dùng bùa phép chữa trị, giải trừ, thế mà nhiều người cũng được khỏi
bệnh.
Qua
một đêm cúng kiếng tại đình, những hồn ma đói vất vưởng đã được nghe kinh, nghe
kệ, được ăn uống thỏa thuê. Ngày hôm sau chờ đúng giờ, tất cả kéo xuống bờ sông
chuẩn bị cho cuộc tống gió. Những gia đình nào chưa kịp đưa lễ vật, đoàn âm
binh lại tiếp tục làm việc ấy.
Tất
cả các phẩm vật thâu góp từ các chủ nhà được đưa xuống ghe nhỏ nằm chờ sẵn tại
bờ sông. Ông Ngũ hành xuống ghe làm phép, tay bắt ấn, miệng đọc thần chú để
trục các hồn ma xuống chiếc xuồng đó. Dưới xuồng đã có các món cúng như gà,
rượu, xôi chè, muối gạo, trái cây ngập cả khoang xuồng, để chiêu dụ các hồn ma
tham ăn lên tàu cùng các hình nộm mà bọn ma cứ tưởng là hình người. Chiếc ghe
lớn cùng với đám thanh niên trai tráng kéo chiếc xuồng nhỏ ra khỏi sông. Dưới
xuồng nhỏ kia thì không có ai ngoài các phẩm vật cúng kiếng, hình nộm và lũ ma
hoang đang hả hê ăn uống, rượu chè say sưa. Khi ra biển khá xa, người ta mới
cắt bỏ dây, mặc cho chiếc xuồng kia lênh đênh, chìm nổi… Chiếc ghe lớn chạy vào bờ, như thế, cuộc Tống Gió kể đã hoàn tất. Nhiều
người mê tín chắc cũng an tâm, họ nghĩ rằng các hồn ma bóng quế kia bị kẹt
ngoài biển khơi, không vô đảo được nữa, khỏi phá phách dân lành, nên mọi người
yên dạ làm ăn.
Dân
trên đảo sống giữa trời nước bao la nên thấy mình nhỏ nhoi lắm! Đi biển gặp
cuồng phong bão tố chưa kịp về bến cũng khấn vái Bà, Cậu hoặc người khuất mặt,
khuất mày. Quăng một mẻ lưới bị mắc rạn cũng nhờ Bà, Cậu kéo lên hoặc nhờ ơn
trên giúp đỡ, riết rồi trở thành tập quán, không hại gì cho ai cả!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét