Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Qua Biển - Chương 1: Xứ Lưu Đày


            An giật mình thức dậy vì nghe tiếng cười nói ồn ào  của những người bạn đồng hành trên con đò máy đã chở hơn bốn mươi hành khách rời bến cảng Rạch Giá từ chiều tối hôm qua. Lênh đênh trên mặt đại dương gần tám tiếng đồng hồ, rồi cuối cùng cũng cập bến tàu An Thới (Phú Quốc). An ngó ra bên ngoài, bầu trời vẫn còn tối đen, tuy nhiên phía trong bến thì có nhiều ánh đèn điện sáng trưng. An nhớ lại suốt mấy ngày qua, chàng không ngồi xe lửa thì cũng ngồi xe đò và giờ đây chàng đang ngồi trên con tàu gỗ thô sơ, không an toàn chút nào cả! Nhớ lại đầu tháng trước, An nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên Hải, căn cứ đặt tại An Thới, phía nam hải đảo Phú Quốc. An nấn ná ở lại Cam Ranh, chờ đến lúc cận ngày mới vội vã lên đường. Lúc mới ra trường chàng được thuyên chuyển xuống Trợ Chiến Hạm HQ 228, sau khi bị thương An được đổi về Căn Cứ Cát Lở hơn một năm, rồi đổi ra Cam Ranh chàng đóng đô luôn từ đó đến nay. Nơi đây, chàng sống những ngày tháng bình thản và vui nhộn, bước chân ra đi trong lòng An còn mang ít nhiều luyến tiếc. Nhưng chàng tự an ủi “Đã chọn cái nghiệp hồ hải tang bồng thì cuộc đời phải qua nhiều bến nuớc”. Mặc dù là lính hải quân, An ít khi đi biển, ngoại trừ lúc thực tập trên tàu trước khi mãn khóa. An bơi dở lắm rớt xuống nước là có thể chìm ngay, An nghĩ đến đây bỗng dưng chàng giật mình, suốt một đêm dài con tàu gỗ đơn sơ kia đã cưu mang hơn bốn mươi người và cũng may là không có chuyện gì xảy ra. Mùa nầy là mùa biển êm, lúc tàu rời bến Rạch Giá thì trời gần tối, con tàu lướt nhẹ trên mặt nước.Thoạt đầu An còn trông được màu nước đục lờ lờ, mãi hơn một tiếng đồng hồ sau thì tàu đi sâu vào đại dương mênh mông. Tàu vượt qua Hòn Tre, Hòn Nghệ và sau cùng An chẳng thấy được gì nữa vì trời hoàn toàn tối sẩm. Gió thổi càng lúc càng nhiều, An phải lấy chiếc áo ba-đờ-suy khoác vào người cho đỡ lạnh, rồi lẹ làng tìm một chỗ ít gió để tựa lưng. Tiếng máy nổ xì xạch, xì xạch của con tàu đã đưa An vào giấc ngủ thật dễ dàng. Chuyến xe lửa từ Cam Ranh vô Sàigòn khiến An mệt ngất ngư, tới nơi chàng ở tạm nhà người bạn, sáng hôm sau chàng thức sớm đến bến xe đò Phú Lâm để đi về Rạch Giá, tìm phương tiện ra Phú Quốc trình diện với sếp mới của mình. An sẽ được làm việc tại Phòng Hành Quân dưới sự chỉ huy của đại úy Xuân.
          An cứ mãi miên man suy nghĩ, nên chàng là người cuối cùng rời tàu. Chàng thong thả đứng lên đưa tay vuốt lại mái tóc, rồi xách túi hành lý chậm rãi bước lên bờ. An đang lừng khừng chưa biết rẽ về hướng nào, thì chợt chàng vừa thấy phía trước có tiệm bán cà phê, hơn chục người khách đã ngồi trong đó rồi. An bước nhanh vào tiệm tìm cho mình một chỗ ngồi khuất gió. Chàng gọi một ly cà phê sữa nóng, ly cà phê đã giúp chàng tươi tỉnh và ấm áp lại bội phần. Hôm nay là ngày thứ bảy, đường sá tấp nập người qua lại, trời đã sáng hẳn, lúc nầy An mới có thể quan sát cảnh vật chung quanh rõ ràng hơn. Con đường xi măng dài nằm dọc theo bờ biển, phía trên là nhà cửa của dân chúng, và vài hãng nước mắm tên tuổi như Nghĩa Thạnh, Phong Hưng, bên cạnh là con đường ngang, có cái giếng nước để cung cấp cho toàn khu vực. Phía dưới mé biển, nhiều dãy nhà sàn kề nhau xen lẫn giữa tiệm quán và những sạp lớn dùng để phơi các thứ hải sản. Một đoạn cầu gỗ khá vững chắc nối dài từ trong bờ ra xa tận mặt biển để ghe tàu cập bến, lên xuống hàng hóa và khách đi đò. An ngồi trong quán khá lâu, đã uống cạn luôn bình trà nóng, chàng nhìn xuống đồng hồ đeo tay, thấy kim chỉ đúng 7:3O phút, An gọi ông chủ quán tính tiền, sẵn đó hỏi thăm đường đi đến Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Ông chủ quán kéo tay An ra ngoài cửa tiệm rồi chỉ về phía trước mặt:
- Đó, trung úy thấy không, băng qua vùng cát nầy và cây cầu nhỏ kia, có cái cổng sơn màu khói tàu là cổng vào Bộ Tư Lệnh đấy trung úy ạ! Chắc ông mới đổi đến hả?
          Ông chủ quán nhìn An cười cười nói đùa:
          - Rồi từ từ ông sẽ thích ở đây luôn đó! Để rồi coi...
An cười, lòng mang đầy ngờ vực vì câu nói pha trò vui tính của ông chủ quán. Chàng lịch sự chào cám ơn và hứa trở lại tiệm ông một ngày gần đây.
          An bước ra khỏi tiệm với xách hành lý bên mình. Đường sá ồn ào, nhộn nhịp lên hẳn, người đi chợ khá đông, quân đội, dân thường chen chúc. Nhất là các anh lính quân cảnh khiêng nhiều cần xé đầy thực phẩm tươi để lo bữa ăn cho số tù binh Cộng sản đang bị giam giữ tại An Thới nầy. An cũng thấy mấy anh lính hải quân trong ban ẩm thực đi chợ lo bữa ăn cho các anh em đồng đội trong căn cứ.
          Chàng thấy quang cảnh cũng khá sinh động, vậy mà trước khi đến đây An cứ nghĩ rằng nơi nầy đúng là nơi “Cá ho, sò gáy” rồi cuộc sống của chàng sẽ buồn tẻ, không biết làm gì cho hết thời gian sau những giờ làm việc. Bởi chỗ ở trước kia của chàng vô cùng vui nhộn, tiện nghi, thứ gì cũng có. Nên trước khi đi An đã mua một số sách, truyện để đọc giải trí cho qua thời giờ trong những ngày mưa gió. Vì thời tiết ở vùng ven biển thường có những cơn mưa nắng bất ngờ, kéo dài năm bảy ngày liên tục, nếu thế chàng chỉ còn có nước nằm nhà trùm mền đọc sách mà thôi!
An đi qua cây cầu nhỏ, bước chân xuống vùng cát trước mặt, thân chàng như chúi nhủi - “Sao cát ở đây khó đi thế nầy?”. Chàng nhìn kỹ lại thì thấy hạt cát rất mịn, nhưng không được trắng lắm, có lẽ nước từ trên khúc chợ cá chảy xuống con lạch nhỏ nầy, lâu ngày dòng nước dơ thấm vào bãi cát, nên màu cát trắng trở thành màu xám tro.
          An bước đi ngả nghiêng, xiêu vẹo dưới ánh nắng chan hòa của buổi sớm mai. Có bầy chim se sẻ gọi nhau ríu rít trên tàng cây trứng cá cạnh ngôi trường Mai Chí. Chúng tụ năm, tụ bảy, đưa mỏ mổ lia lịa vào chùm bông trắng nằm ẩn sau đám lá xanh. Một cơn gió biển thổi lên, hất tung cành lá, vừa lúc An đi tới gần thì cả bầy chim cùng cất cánh bay lên một lượt. Chỗ An đi qua cách mé biển mươi mét, nơi đây An thấy có bức tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo, dáng người uy nghi, mắt nhìn ra biển khơi như đề phòng quân gian xâm nhập hải phận. Phía trước là một vùng nước xanh bao la, được viền bởi bờ cát trắng phau, xa xa có hàng dương cao lả ngọn rung rinh theo từng cơn gió biển thổi về. Phía tận cùng là dãy núi thấp bọc sau lưng phi trường quân sự An Thới. Không khí buổi sáng thật trong lành mát mẻ, An dừng chân lại vươn vai, ưỡn ngực hít vài hơi thật dài để lấy lại tinh thần sau những ngày di chuyển mệt nhọc. Tấm bảng to với hàng chữ Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên Hải hiện ra trước mặt. An sửa lại quân phục chỉnh tề rồi tiến tới hỏi thăm và giới thiệu mình với người lính gác. Sau khi đưa giấy tờ chứng minh, anh lính mở cổng cho chàng. An cám ơn anh ta rồi đi thẳng theo lời chỉ dẫn của người lính gác. An bước lên tấm vỉ sắt có nhiều lỗ tròn nằm nối tiếp nhau từ phòng làm việc nầy tới phòng làm việc kia. Chàng liên tiếp đi qua hai dãy nhà rồi quẹo trái, An đọc ngay hàng chữ Bộ Chỉ Huy Hành Quân, đúng là nơi chàng phải đến trình diện. An dừng lại đôi phút sửa ngay ngắn cái cát-két, rồi bước thẳng vào phòng. Giữa phòng là bàn làm việc của cấp chỉ huy, trên bàn có bảng gỗ nhỏ khắc tên Đại Úy Hồ Thanh Xuân. Hai bên cũng có hai dãy bàn làm việc của các anh em khác. Đaị úy Xuân ngẩng đầu lên, An liền đứng lại nghiêm chỉnh, đưa tay chào và nói to:
          - Hải quân trung úy Vũ Đình An, số quân... xin trình diện đại úy trưởng phòng...
Qua thủ tục, nghi thức đơn giản, đại úy Xuân vui vẻ bắt tay An trong tinh thần thật cởi mở. Ông ta cho An biết công việc ở đây bình thường không quá phức tạp. Mỗi ngày đến làm việc lúc tám giờ sáng, nghỉ ăn cơm trưa lúc mười hai giờ, rồi trở vô làm lại lúc hai giờ chiều. Hôm nào tới đợt mình trực thì vào ban tối, chuyện ấy sẽ được sắp xếp sau. Ông gọi một anh lính đưa An xuống khu cư xá sĩ quan độc thân. An chào đại úy Xuân rồi theo anh lính xuống cư xá.
          Đây là một dãy nhà khá dài, mái lợp bằng thứ tôn cách nhiệt. Vách được đóng bởi những tấm nhôm dầy gợn sóng. Bên trong chia làm nhiều căn phòng nhỏ. Hai người đi tới cuối dãy hành lang, anh lính đứng lại mở khóa cửa rồi cho An biết, đây là phòng của chàng. Căn phòng rộng vừa đủ cho một người độc thân ở. Một chiếc giường đơn nhà binh, một bàn viết và một tủ sắt cao treo áo quần, có nhiều ngăn nhỏ để đựng các thứ lặt vặt. Mãi quan sát căn phòng An quên chào cám ơn anh lính, chàng vội bước ra cửa nhớn nhác tìm coi anh lính còn lảng vảng đâu đó không? May sao anh chỉ vừa lướt ngang qua ngạch cửa cuối dãy nhà. An lớn tiếng gọi, anh ta quay trở lại, An nhờ anh ta chỉ nhà vệ sinh và phòng tắm, anh vui vẻ chỉ cho An rồi cáo từ. An chợt nhớ ra mình cần một cái ghế ngồi để làm việc hay viết thư gì đó, anh ta hứa sẽ mang đến cho An nay mai.
          An trở lại phòng, lấy trong túi xách ra cái khăn, áo quần và bàn chải đánh răng, rồi đi thẳng xuống phòng tắm. Chàng cởi bộ quân phục đã mặc trong suốt mấy hôm liền, An nghĩ bụng - “Phải tìm một nơi nào đó để giặt sạch và ủi hồ cho thẳng nếp mới được!”.   
Vòi nước mát từ búp sen phun ra làm chàng thấy dễ chịu, khoan khoái lạ thường. Bao nhiêu mệt nhọc từ từ tan biến. An dự tính tắm rửa xong, chàng sẽ ra phố ngắm cảnh, ngắm người, để coi cái trạm lưu đày nầy hoang vắng đến cỡ nào! Và cũng sắp đến giờ cơm trưa, mình cần có chút gì bỏ vào bụng. Đại úy Xuân có nói rồi, mình bắt đầu làm việc ngày thứ hai, hôm nay mới thứ bảy mà thôi, mặc sức đi thăm qua cho biết sự tình… An tắt vòi nước, quơ vội chiếc khăn lau mạnh vào người, chà thật nhanh lên tóc rồi xoa đều mấy cái. Đầu lắc qua lắc lại cho những giọt nước rớt ra khỏi tóc, rồi chàng đi thẳng về phòng, buông mình nằm trên chiếc giường nệm êm ái. An cảm thấy cái lưng như được dãn ra và thoải mái vô cùng. Một cảm giác êm ả, bình yên chợt đến, bao nhiêu mệt nhọc, bụi đường chàng dùng nước rửa sạch cả rồi! Bây giờ chỉ còn những ngày tháng đang chờ trước mặt “Liệu ta có chịu sống an phận nơi vùng hải đảo xa xôi nầy chăng? Còn đâu nữa không khí ồn ào, vui nhộn nhưng phức tạp nơi thị xã Cam Ranh…” Nhớ ngày vừa rời ghế nhà trường, sau khi đậu xong bằng tú tài, chàng vào quân trường Nha Trang chưa đầy hai mươi tuổi, đầu óc An còn rất ngây thơ, trong sáng và đơn thuần. Sau một thời gian thụ huấn chàng tốt nghiệp, mang cấp bậc thiếu úy và được chuyển xuống HQ 228 thường xuyên đi công tác tại Vùng 4 Sông Ngòi, thỉnh thoảng tàu chàng cũng được lịnh tiếp tế nhiên liệu xăng dầu cho các Giang đoàn và Duyên đoàn. Chàng nhớ có lần khi đi tuần trong sông, nhất là sông Hàm Luông. Nước sông lên xuống bất thường, khi tàu ra thì nước lớn, khi tàu vào sông thì thủy triều lại rút. Lòng sông bên lở bên bồi, bên cạn bên sâu, tàu phải đi sát bờ chỗ có nước sâu hơn. Bọn Việt Cộng thừa dịp phục kích ngay tại khúc sông đó. Khi nghe những loạt đạn đầu tiên, An và anh em trong nhiệm sở tác chiến liền bắn trả tức khắc. Cuộc chạm súng kéo dài khoảng mười phút, tiếng súng của địch im bặt. An nhìn thấy nhiều đám khói đen bốc cao sau những lùm cây dọc bờ sông.Tàu bị trúng hai quả B40, An bị thương ở chân bởi một mảnh đạn, phải băng bột mấy tháng. Sau khi lành lại, An được đổi về Cát Lở, rồi Cam Ranh cho đến nay. Nơi đây đã cho chàng nhiều kỷ niệm đẹp và một cuộc sống thật thú vị biết bao! Nhớ mỗi đầu tháng lãnh lương, cả bọn rủ nhau đi quán rượu. Rồi những ngày cuối tuần, thỉnh thoảng lại ra các bãi tắm, tha hồ mà “rửa mắt”.
          An chẳng muốn đứng lên, hình như chàng còn luyến tiếc chiếc giường nệm đã cho chàng những giây phút thật tuyệt vời. An bước tới mở cánh cửa tủ, soi mặt mình trong gương, mái tóc đã khô, da mặt chàng có phần hơi trắng xanh. Bình thường các bạn hay gọi chàng là “công tử bột” cũng vì màu da quái ác đó! An muốn được da của mình sậm lại một chút thì có lẽ dễ nhìn hơn. Nhờ sóng mũi cao, mày rậm, mắt sáng tinh anh, cằm chẻ, gương mặt chữ điền cân xứng với cái miệng rộng và đôi môi dày mọng lúc nào cũng hồng hồng như môi con gái. Thêm hai hàm răng trắng đều, mỗi khi chàng cười trông thật có duyên và mời mọc làm sao! Không biết tại sao trên khuôn mặt chàng được kết hợp giữa hai hình ảnh, hai sắc thái khác nhau? Mắt to, lông mi dài, nước da trắng một cách ngộ nghĩnh. Đây là những thứ mà phái nữ cần có, chớ chàng đâu cần phải có những thứ nầy! Đó là đề tài để các bạn trêu ghẹo chàng mỗi khi tụ năm, tụ ba tán dóc. Cũng may là chàng có một thân hình cao lớn, vạm vỡ, rõ là tướng của nam nhi đại trượng phu chớ bộ!
          An cẩn thận chải lại mái tóc, những nếp tóc nằm chồng lên nhau, hơi nhô ra phía trước, vuông trán rộng tạo cho chàng một dáng vẻ nghệ sĩ hơn là một anh lính “lưu đày”. An đã hài lòng với mái tóc của mình, chàng lấy cái ví nhỏ đựng giấy tờ cá nhân cho vào túi, bước ra khỏi phòng, đi qua dãy hành lang dài hun hút, vài ngọn đèn điện treo lủng lẳng trên trần nhà, giúp ánh sáng thêm cho cả dãy hành lang. An đi ngược lại cổng Bộ Tư Lệnh, lúc mà ban sáng chàng đã đi lối vào nầy để trình diện cấp trên. Anh lính gác vừa trông thấy An đã vui vẻ hỏi han:
          - Sao, trung úy đã trình diện xong rồi hả? Bây giờ chắc là ra phố phải không?
          An trả lời:
          - Vâng, mọi chuyện xong cả rồi! Anh làm ơn chỉ hộ tôi đường nào ra phố chánh? Vì tôi cần mua sắm những thứ dùng hàng ngày!
          Anh lính sốt sắng chỉ tay ra con đường trước mặt:
          - Nè, trung úy quẹo phải ở con đường nầy, đi một đoạn thì gặp ngã tư, ông nên quẹo trái. Chợ búa, tiệm, quán hầu hết đều nằm ở đó.
          An cám ơn anh lính rồi thong thả bước đi. Chàng rảo bước trên con đường, cất tiếng hát nho nhỏ “Trời còn ươm nắng để gió đi tìm…”. Nắng ở đây không nóng rát, gay gắt như những thành phố khác, vì gió biển thổi vào đưa hơi mát từ ngàn khơi len lỏi pha trộn vào cái không khí khô cằn được hòa tan trong hơi nước của đại dương.
          Gió thổi tung mái tóc, An đưa tay kéo mũ két sát xuống phần trán, mặt trời treo nghiêng trên đầu làm bóng chàng ngắn hơn. Một thứ ánh nắng nồng nàn, chan hòa cả cây lá, An có cảm giác vui vui, tinh thần sảng khoái. Khúc đường tráng nhựa đã biến mất, nhường lại con đường đất gồ ghề, gợn sóng. Hai bên có hàng lau sậy mọc lưa thưa, một cơn gió thổi tới, cả đám cỏ lau nằm rạp xuống như cúi chào, mừng đón anh lính lạ xa kia vừa mới đến. Trên mặt đường, nhiều vũng nước còn ứ đọng sau một cơn mưa trái mùa. An phải tránh né, khiến bước chân chàng không còn thong thả, nhịp nhàng.
Đi gần cuối con đường đất, An đang ở ngay ngã tư. Nếu theo như anh lính chỉ thì chàng phải rẽ trái để ra phố. An vừa xoay người thì chợt thấy tiệm bán và cho thuê sách báo Tiết Quân, chàng dự tính khi trở về cư xá sẽ ghé vô mua vài tờ báo.
Đây là con lộ chính của thị xã. Ngày tháng chồng chất, kẻ đi qua, người đi lại, xe nhà binh lên xuống, sức nặng đè ép mặt đất rắn chắc hơn. Tuy nhiên, nếu sau cơn mưa con đường trở nên trơn trợt. Nhiều vũng nước to nằm chình ình ra giữa đường làm cản trở mọi thứ lưu thông. Hai bên nhà cửa tiệm quán chật ních, lầu có, trệt có. Nhưng lối kiến trúc không được thẩm mỹ lắm. Có lẽ những người đến đây làm ăn sinh sống theo tình hình phát triển của quân đội, như lính Quân Cảnh vì sự trông coi mấy chục ngàn tù binh Cộng Sản trong trại giam mà đã đặc phái bốn tiểu đoàn trú đóng tại đây, còn Hải Quân nào là Bộ Tư Lệnh, Hải Đội 4 Duyên Phòng, Căn Cứ Yểm Trợ Tiếp Vận An Thới, Duyên Đoàn 42, Căn Cứ Hải Quân Phú Quốc và Đài Kiểm Báo 403. Bộ binh thì có Đặc Khu Phú Quốc, Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, Công Binh, Căn Cứ Tiếp Vận và Pháo Binh v. v…
          Giờ nầy cũng quá trưa, chợ búa không còn sinh họạt ồn ào, nhộn nhịp như buổi sáng nữa. Người qua lại cũng thưa thớt. An thấy anh em quân cảnh xuống chợ mua những thứ cần dùng và ăn uống, cười nói vui vẻ trong quán. Chàng thấy rất ít anh em đồng đội ngồi tiệm, có thể vì tàu tuần dương chưa cập bến, còn những anh ở bờ thì giờ nầy họ đang làm việc tại căn cứ của mình.
          An ghé vô một tiệm tạp hóa bên đường, chàng chọn nơi nầy vì thấy sạch sẽ, ngăn nắp hơn các tiệm khác. Chàng nhìn lên quày hàng, lựa một số đồ dùng cần thiết rồi nhờ người bán gói lại. An mở bóp trả tiền, người bán nói lời cám ơn và hẹn chàng lần sau tới mua giúp nữa.
          An vừa quay ra thì mắt chàng chợt trông thấy một bóng giai nhân. Nàng đi thẳng vào tiệm thuốc bắc phía bên kia đường. Nàng đẹp lắm, dáng người cao ráo, mặt trái soan, mũi dọc dừa, mắt to như hai hạt nhãn, miệng chúm chím môi hồng, má lúm đồng tiền rất có duyên. Mái tóc dài óng ả phủ xuống bờ vai thon nhỏ. Quần đen, áo bà ba màu hoàng anh làm nổi bật làn da trắng khỏe mạnh, thanh xuân.
          An còn đang thờ người ra, suy nghĩ về nàng - “ Chà, sao quái lạ thế, nơi khô cằn đèo heo gió cát như nơi đây, làm sao có một bông hoa biết nói, đẹp đẽ đến thế nhỉ?”.
          Nàng xuất hiện rực rỡ như một bông hoa nở trái mùa, làm tươi thắm, ấm áp cho quang cảnh chung quanh. An phải công nhận rằng nàng đẹp thật, một thứ sắc đẹp kiêu sa, diễm lệ. An đứng khuất vào cánh cửa, chăm chú nhìn nàng. Nàng vui vẻ nói đôi câu với người bán thuốc, miệng cười xinh xắn, gương mặt hiền thanh tú. Nàng nhận gói thuốc, bước ra khỏi tiệm, đi vội vã xuống dưới khu chợ cá, qua mấy tiệm bán tạp hóa, rồi thì bóng nàng mất dạng. An đảo mắt kiếm tìm nhưng bóng nàng đã bặt tăm. Chàng lấy làm tiếc lắm, không ngờ nơi đây có người đẹp kiểu cách đến thế! Khác hẳn những cô gái hải đảo quê mùa. Biết đâu nàng đã có gia đình rồi? Biết đâu nàng là vợ một sĩ quan nào đó? An không thể cho là như thế được. Trên gương mặt nàng còn đượm nét thơ ngây của một cô nữ sinh hơn là một thiếu phụ. Tuổi của nàng áng chừng chưa đầy hai mươi cơ mà? Trong đầu An bóng hình cô gái cứ lởn vởn, chàng hy vọng mong gặp lại cô nàng và tìm cách làm quen. Rồi chàng lại nhủ thầm - “Chưa chắc đến phiên ta đâu. Nếu nàng là hoa chưa có chủ thì còn biết bao nhiêu kẻ si tình đang sắp hàng tham dự cuộc thi”.
          An lại trở ngược lên con đường chính, chàng ghé vào quán Minh Phụng, kêu một phần ăn để giải quyết cái bao tử của mình. An chọn một chỗ ngồi trong góc, mặt hướng ra phía đường cái mong có cơ hội thấy lại cô gái vừa rồi… Chợt một hình ảnh thật hay, thật lạ đập vào mắt An. Một người lính quân cảnh đang cỡi trên lưng con ngựa ô khỏe mạnh, lông nó mướt rượt, bốn chân đi bon bon trên đường phố hẹp. Mọi người hướng mắt ra nhìn, hình ảnh oai phong, giống như một hiệp khách giang hồ trở về cố hương thăm làng xưa phố cũ… Ngày đầu tiên mới đến mà An đã thấy nơi chốn nầy có lắm điều kỳ thú!
          Đã hơn mười hai giờ trưa, trong quán từ từ đông nghẹt khách ăn trưa, Vài chiếc xe GMC chở đầy lính quân cảnh chạy ngang qua và cho lính xuống ở cuối con đường. Các anh thay nhau nhảy vội vàng khi bốn bánh xe chưa kịp ngừng hẳn lại. Cả đám tua tủa, chia năm, chia ba tìm cho mình quán ăn, cửa tiệm vừa ý để ăn uống thỏa thích. Từ sáng đến giờ, khi ra đường An thấy quân đội nhiều hơn thường dân. Ngoài số người mua, kẻ bán, các phụ nữ tay xách giỏ, tay dắt con, có lẽ họ đi chợ để lo bữa ăn cho gia đình mà những người nầy là vợ, con của các anh lính đang đồn trú nơi đây. An gọi người tính tiền, liền có một cô gái nước da bánh mật ra đon đả hỏi han chàng:
          - Dạ, chào trung úy, hình như ông là người mới tới, tàu nào vậy? Ở đây người cũ, người mới em đều nhận ra cả! Sao thức ăn có vừa miệng không? Lần sau mời ghé tiếp tục nhé. Ông có cần em giúp đỡ gì không?
          Cô chủ nhỏ ăn nói cởi mở vui tính, thật thà một cách rất hồn nhiên. An thong thả trả lời từng câu hỏi của cô, và chàng cũng xin cô chỉ dẫn vài điều mà chàng muốn biết:
          - Vâng, tôi là người mới đến, không đi tàu, ở trên bờ tại Bộ Tư Lệnh. Nhờ cô chỉ hộ nơi nào nhận giặt ủi quân phục?
          Cô gái nói:
          - Bên trái tiệm em, ông đi thẳng, con đường càng ra xa phố thì nhà cửa lưa thưa, trung úy sẽ thấy một bảng hiệu “Nhận giặt ủi áo quần nhà binh”.
          An móc bóp trả tiền và khen:
          - Tiệm cô nấu thức ăn khá lắm đấy! Ngày tháng sau nầy tôi sẽ thường đóng đô ở đây đó! Được không?
          - Hân hạnh lắm chứ! Mời trung úy ghé thường xuyên.       
          An đứng lên và nói lời tạm biệt, chàng bước xuống ba bậc tam cấp. Đối diện quán nầy là tiệm hớt tóc, An nhủ thầm - “Chà, mai mốt ta phải nhờ ông thợ hớt tóc nầy làm đẹp cái đầu mình mới được!”. Người thợ hớt tóc là một ông già Tàu ốm nhom, chắc có lẽ vì nghề nghiệp mà ông ta không mập được.

          Ánh nắng trưa chói chang đang nằm rớt lên phân nửa gương mặt chàng, An đưa cặp kiếng mát tra vào đôi mắt. Cảnh vật có phần dịu lại. An đi tới ngã tư, chàng rẽ trái lên ngôi nhà thờ nằm trên đồi cao. Bên kia góc đường có căn nhà lầu đồ sộ là tiệm tạp hóa và rạp chiếu bóng Nam Hoa. Đối diện xeo xéo là tiệm phở Bò Vàng, cạnh là trường Thánh Phê-Rô. Trước sân có trồng mấy cây dừa cao khẳng khiu, tàu lá rũ xuống lào xào, nhún nhẩy theo cơn gió ban trưa. Quán kem Thùy Dương nằm bên phải ở giữa lưng chừng con dốc.
          Càng đi chàng càng thấy nơi đây mát mẻ hơn dưới phố, có lẽ vì cây lá nhiều, phần đất cao hơn, đón nhận hầu hết từng cơn gió biển thổi tới. An tìm một bệ đá dưới tàng cây bên cạnh nhà thờ để nghỉ chân và ngắm cảnh tình chung quanh. Một con đường thẳng tắp từ trên cao nhìn xuống, chàng thấy biển cả mênh mông, màu nước xanh dịu dàng. Biển xanh nên trời cũng xanh, thỉnh thoảng có vài cụm mây trắng trôi lạc loài về phương trời vô định nào đó, trên mặt biển vài chiếc ghe đánh cá qua lại rồi mất hút. Hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng gợi cảm như một bức tranh mà người họa sĩ phác họa trong lúc cõi lòng thật bình yên và hạnh phúc. Tiếng gà gáy vang lên giữa buổi trưa thanh vắng, tiếp theo là những tiếng gáy liên tục vang xa. Từ buổi thiếu thời tới ngày khôn lớn, An vẫn thích nghe tiếng gà gáy ban trưa. Tâm hồn chàng được chìm lắng trong yên bình mộc mạc. Chàng liên tưởng đến nếp sống nơi miền quê đơn sơ mà thân ái, đậm tình láng giềng hàng xóm. Một mái nhà tranh, hoa cỏ chung quanh, có bầy gà, bầy vịt. Một người vợ đảm đang quán xuyến việc nhà, còn chàng thì mở một trường dạy học, trong đám trẻ cũng có những đứa con của chàng nữa. Ước mơ chỉ chung chung ấy mà chàng đã được toại nguyện đâu?
          Quê hương của chàng xa tít tận miền cao nguyên sương mù Đà Lạt, nơi đó đã cho chàng nhiều kỷ niệm suốt quãng đời niên thiếu, lớn lên chỉ thấy toàn là cây rừng, núi đá, đồi thông bạt ngàn, dốc cao, dốc thấp. Nên khi trưởng thành chàng đã mơ ước cuộc sống hải hồ. Đất nước chiến tranh, chàng đã chọn đăng vào lính hải quân, làm tròn bổn phận người trai thời ly loạn. Nhưng tiếc thay khi ra trường chàng không được xuống tàu tuần dương làm việc. Tuy nhiên chàng cũng được đổi về vùng duyên hải Cam Ranh và giờ đây là đảo Phú Quốc.
          Trước mắt chàng biển cả bao la, mặc cho chàng trải mộng hải hồ, trải mộng yêu đương, thả trôi hoài bão theo từng đợt sóng. An nhìn vô nhà thờ, cánh cửa đóng im lìm, chàng khấn nho nhỏ - “Lạy Chúa Jesu, hãy cho con có cơ hộ gặp lại nàng lần nữa”. Dù đầu óc nghĩ nhiều thứ chuyện, nhưng chàng không thể quên hình ảnh cô gái đẹp tuyệt trần ban trưa, vì chàng vừa trông thấy một con đường đầy bóng mát, những cành cây hai bên đan chụm vào nhau tạo thành chiếc lọng dài. Ánh nắng xuyên qua tàng lá lung linh rơi xuống mặt đường... “Ôi, con đường tình ái, hãy để cho ta cùng nàng bước chung trên con đường thơ mộng, tràn ngập hương yêu”. Chàng mơ màng rên khe khẽ, tưởng cuộc tình sẽ đến trong nay mai.Và cũng có thể ngày mai sẽ không bao giờ đến! Nhưng một điều khiến cho An vững niềm tin “Nơi đây một thị trấn nhỏ bé, đất không rộng, người không đông, cơ hội gặp lại nàng cũng dễ dàng thôi!”. An đứng lên, đưa tay phủi vài cái vào phía sau quần, giơ cát-két đội lên đầu, lấy kiếng đeo vào mắt, chàng thong dong đi dưới tàng cây đầy bóng mát. Hai bên đường, nhiều nhà cửa dân cư với vuông sân khá rộng. Chàng ung dung đi hết con đường, gặp ngay ngã ba, An quẹo phải, con đường khá rộng, vài chiếc xe Jeep lướt qua, bụi đỏ tung mù trời. Chàng thoáng thấy một bảng hiệu “Nhận giặt ủi”, đúng như lời cô chủ nhỏ chỉ dẫn. Nếu đi tới nữa sẽ gặp lại ngã tư, nơi đó có tiệm sách báo Tiết Quân. Chàng đi không xa lắm thì đã thấy ngã tư phía trước. Tiệm sách giờ nầy rất thưa người, một chú nhỏ khoảng chừng mười bốn tuổi, thoạt trông thấy chàng đã mỉm cười, chào hỏi lễ phép:
          - Thưa chú, cần gì ạ?
          An đưa tay lấy một tờ Sông Kiên, mắt nhìn lên dãy kệ có nhiều quyển truyện đặt ngay ngắn. An lựa mấy quyển rồi đưa cho chú nhỏ làm thủ tục thuê mượn. Chàng đặt cọc một số tiền, đưa tên, tuổi cho thằng bé ghi vào sổ. Thằng nhỏ ghi chép rất rành mạch, nó trao sách cho An, chàng hứa sẽ mang trả lại sau khi đọc xong tất cả.
          An khệ nệ ôm mớ sách báo, tay kia xách một túi đồ mà chàng đã mua ngoài phố, rồi đi thẳng về cư xá.


*   *   *

          Quân bước nhanh vào nhà như cố tình né tránh thứ ánh nắng khắc nghiệt kia làm rát bỏng da mặt nàng, hai má đỏ au, vài giọt mồ hôi lấm tấm trên vầng trán thông minh. Quân đưa tay hất mái tóc đang lòa xòa làm vướng víu, che khuất tầm nhìn, mồ hôi dính vào mảng tóc con làm nàng rất khó chịu. Nàng đi thẳng ra lu nước phía sau nhà, múc nước đổ vào lòng bàn tay rồi đưa lên rửa cả khuôn mặt. Hơi nước mát lạnh làm Quân thấy dễ chịu, nàng đổ xối xả lên đôi bàn chân trắng hồng. Quân đáp ứng những điều cần thiết cho cơ thể. Mỗi khi đi trong những ngày nắng cháy như vậy, lúc về đến, nàng liền bước vội vào nhà coi ba nàng đang làm gì, ở đâu? Chắc có lẽ ông đang ở nhà trước nằm trên chiếc ghế bố thường nhật. Khi nãy nàng mới vào nhà thì ông đã ngồi ở đó từ lâu rồi, vì thấy con gái hấp tấp chạy trốn ánh nắng gay gắt buổi trưa, nên ông Hai không vội lên tiếng. Quân từ ngoài vùng sáng bước vào vùng tối, nên nàng chẳng thấy ông Hai ngồi ở đó. Nàng đến ngồi cạnh bên cha hỏi nhỏ:
          - Thưa ba, hôm nay ba đỡ hơn chút nào không ba? Con có ghé tiệm thuốc bắc, chú Bảy gởi cho ba gói thuốc, bảo con sắc cho ba uống, lửa thật nhỏ mới có công hiệu.
          - Bệnh già của ba mà con, mỗi khi trở trời là vậy đó! Vì nhà đơn chiếc quá, chỉ có hai cha con mình, nên bắt buộc ba phải nhắn con về để lo thuốc thang, cơm nước cho ba và coi sóc cửa tiệm.
          Quân nghe cha nói một hơi dài, hàm chứa sự than thân, trách phận trong tuổi già quạnh hiu, đơn chiếc. Nàng không đáp lại lời nào, trong tình thế bắt buộc nàng phải nghỉ học để trở về lo cho cha. Quân đứng lên nói với cha:
          - Để con xuống bếp làm thức ăn, và nấu cơm trưa cho ba ăn nghe ba. Hôm nay con có mua được rau mồng tơi, sẽ nấu cho ba một tô canh cùng với tép bạc, món mà ba thích lắm đó!
          Nàng vừa lo việc cơm nước, đầu óc mãi nghĩ lung tung, Quân mơ hồ thấy lại hình ảnh không rõ nét của mười năm về trước. Gia đình nàng gồm có ba, mẹ, hai người chị và nàng là đứa con gái út. Lúc ấy nàng khoảng chín, mười tuổi gì đó. Từ miền cao nguyên đất đỏ, được một người bạn của mẹ mách nước, theo kế hoạch phát triển, chính phủ sẽ đưa ra Phú Quốc nhiều đơn vị quân đội, căn cứ đóng tại An Thới, một vùng đất đầy hứa hẹn. Vì đời sống ở miền cao nguyên đã bao phen làm cho gia đình nàng không có cơ may khấm khá. Thế là cả nhà dọn đi sau mùa hè năm đó, lúc ấy nàng mới học hết lớp ba trường quận. Số tiền của hai vợ chồng suốt thời gian làm lụng vất vả phải chi tiêu vào cuộc sống mới. Mẹ nàng đã sang lại một sạp bán hàng ngoài chợ, dần dần bà có nhiều vốn liếng hơn nên cũng đã mua được tiệm tạp hóa ngay mặt đường lộ chính của thị xã nầy. Việc buôn bán rất được suôn sẻ, thuận lợi, mẹ nàng lại mua được căn nhà gần bờ biển của hai vợ chồng vị sĩ quan hải quân nọ, vì thời gian ở đây khá lâu nên họ đã thuyên chuyển về vùng khác. Căn nhà cũng khá xinh xắn, gọn gàng, rất tiện nghi cho năm người giống như gia đình nàng vậy. Lúc ấy chị hai nàng cũng đã đến tuổi cặp kê, giúp đỡ cho cha mẹ rất nhiều việc. Vài năm sau, cha mẹ nàng trúng mối đấu thầu, cung cấp các loại thực phẩm tươi cho trại giam tù Cộng Sản. Tiền bạc lúc đó rất hạnh thông, nàng là đứa con gái út ham học, khi học hết tiểu học, nàng được ba mẹ gởi vào ở nhà người dì ruột tại Rạch Giá để tiếp tục lên trung học. Đây là mong ước của nàng, vì là con út nên mọi người ai cũng yêu thương, chiều chuộng nàng cả. Thế rồi khăn gói lên đường rời xa cha mẹ và hai chị. Nàng phải tự lo liệu mọi sự sinh họat cho cuộc sống của mình vào cái tuổi chưa lớn mấy. Quân chỉ có thể về thăm nhà vào dịp nghỉ hè hay lễ Tết mà thôi. Bốn năm sau mẹ nàng mất bởi một cơn bạo bệnh. Từ đó ba nàng buồn rầu không thiết gì đến chuyện làm ăn buôn bán nữa, ông sang tiệm tạp hóa lại cho người khác và cũng gả hai chị nàng đi lấy chồng luôn. Hai anh rể nàng là lính, nên thường rày đây, mai đó. Cứ cách vài năm hai chị nàng về thăm cha một lần. Cuộc sống của ba nàng rất quạnh hiu và đơn lẻ. Để giết thời giờ ông nảy sinh ra sáng kiến, mở một cửa hiệu bán và cho thuê sách báo. Công việc nhẹ nhàng mà cũng rất thích hợp với ba nàng lắm. Cách một tháng thì ông vô Rạch Giá tính tiền bạc với nhà cung cấp sách báo. Số bán không hết thì gởi trả lại, nên cha con nàng thường gặp nhau hơn. Mỗi khi đi vắng, ba nàng thường gởi tiệm sách cho nguời cô họ trông coi, thời gian chỉ mất vài ngày là ông trở về tiếp tục công việc.
          Trong cuộc sống tương lai, Quân phác họa một chương trình rất ngăn nắp và qui mô. Nếu có bằng tú tài đôi và ba nàng cho phép học đến nơi đến chốn, thì nàng sẽ chọn ngành luật khoa hoặc sư phạm. Vì đã có hướng đi rõ ràng, nên tất cả thời giờ Quân chỉ dùng vào việc học mà thôi. Những chuyện tình yêu lăng nhăng, lít nhít nàng không hề quan tâm đến. Quân đang ở vào năm đệ nhất, vừa học giỏi lại có nhan sắc, biết bao nam sinh theo tán tỉnh nàng. Nào viết thư tình gởi trộm, nào trồng cây si sau mỗi buổi tan trường. Tất cả nàng đều không lưu tâm. Chưa ai có đủ bản lãnh lọt vào mắt xanh người đẹp.
          Sau mùa hè, Quân trở lại học niên khóa mới chỉ vừa đúng hai tháng, thì được tin ba nàng đau nặng, nên nàng phải tạm nghỉ học, trở về nhà lo cho cha già. Quân rất nôn nóng, mong được trở lại trường sớm để tiếp tục việc học hành, nhưng bệnh của ba nàng thì chưa hoàn toàn bình phục. Có nhiều buổi sáng, lúc thức dậy, Quân xách giỏ đi chợ mà cứ tưởng xách cặp đi học, nhớ tới con Dung, con Sương, con Trúc mà nàng nghe buồn hiu hắt. Nàng chỉ mới xa cô, thầy, bạn học hơn tuần nay thôi, mà sao nàng thấy lâu dài quá! Cầu mong ba nàng chóng lành bệnh, nàng mới trở lại trường được. Thiên đường của nàng là sân trường, lớp học, thầy cô và một đám bạn bè thân thương. Cõi mộng của nàng là chùm phượng vỹ ấm áp giữa mùa hè rực rỡ, tinh thần là những bài học khó, giúp nàng mở mang thêm kiến thức, hiểu biết sâu sắc hơn về cuộc sống ở tương lai đúng nghĩa!
Quân dọn cơm ra bàn, so lại hai đôi đũa rồi xới cơm vào hai chén. Trên bàn có tô canh mồng tơi nấu với tép bạc và dĩa cá thu kho tiêu, hơi nóng bốc lên quyện vào cơm gạo mới khiến nàng cảm thấy đói bụng lắm. Bữa ăn thật đơn sơ nhưng vì nàng có biệt tài nấu nướng nên thức ăn không cao lương cũng trở thành ngon miệng. Có lẽ nhờ nàng đi học xa nhà từ thuở thiếu thời, mọi thứ sinh hoạt ăn uống nàng đều tự lo liệu lấy, riết rồi thành thói quen, nàng càng ngày càng nấu nướng khéo léo hơn.
          Quân bước lên nhà trên, cẩn thận dìu ông Hai ngồi vào chiếc ghế, rồi nói:
           - Mời ba ăn cơm, ăn xong ba nằm nghỉ, con phải ra tiệm sách coi có gì lạ không?
           - Ờ, con ra phụ thằng Khôi, khi nào xế chiều, về nấu cho ba nồi cơm rồi sắc thuốc bắc của chú Bảy gởi cho ba ban sáng đó.
          Quân quên lửng gói thuốc bắc chú Bảy đưa, nàng thưa:
- Dạ, sau cơm chiều con sẽ sắc để tối ba uống...
         
          Thằng Khôi đang viết lia lịa xuống quyển vở, chợt trông thấy Quân bước vào, cậu bé mừng quá:
          - Em cứ sợ chị đến không kịp, sẽ trễ giờ học em mất. Hôm nay không đông khách lắm, tiền bạc, sổ sách em ghi rõ ràng để trong hộc tủ đó, chị coi lại đi. Thôi em phải đi học ngay bây giờ, tan học em sẽ đến để chị về lo cơm nước cho cậu Hai.
          Nói xong, thằng nhỏ lượm mấy quyển vở bỏ vào cặp rồi chạy nhanh ra cửa. Thằng bé nầy là con của cô Năm, người cô họ xa, thường ngày nó mang cơm do mẹ nó nấu ra cho ba của Quân. Ông ăn cơm tháng để đỡ mất công cho buổi nấu nướng, một mình thì ăn gì cũng được. Khi bận việc cần người coi tiệm thì ông Hai nhờ thằng Khôi, sau đó cho nó chút ít tiền để ăn quà vặt. Thằng nhỏ thông minh, lanh lợi, hoạt bát, lại cũng có chút ít chữ nghĩa. Nó đang học lớp đệ ngũ trường Thánh Phê-Rô, nên mọi việc giao cho nó ông Hai an tâm lắm. Nó học từ hai giờ trưa đến sáu giờ chiều thì tan học, về nhà thăm mẹ một chút, rồi nó chạy ra coi ông có sai nhờ gì không.
          Quân ngồi trong tiệm, ngó mông ra đường cái. Một chiếc xe Dodge chạy ngang bụi đỏ bay mù trời. Cái nơi đây là thế đấy, hễ mỗi khi trời đổ mưa thì đường sá lầy lội, trơn trợt, còn trời nắng gay gắt thì bụi tung mịt mù nếu có một cơn gió lốc thổi tới, hay một chiếc xe nhà binh lướt qua. Quân không hiểu sao, ở đây có quân đội, dư thừa phương tiện như đơn vị Công binh và Đặc khu Phú Quốc mà chẳng ai chịu xây đường, đắp cống cho dân chúng địa phương nhờ, thật ra là để cho các ông nhờ thì đúng hơn. Mấy chiếc xe nhà binh chạy qua, chạy lại, chạy lên, chạy xuống, chở thực phẩm cho lính tráng, trại tù cũng đủ làm cho các con đường sạt lở, hư hại, lồi lõm. Đau thương cho những con đường huyết mạch của thị trấn nầy, chưa được một lần mang tên. Họ cứ gọi là con đường Cái, con đường Đất Đỏ, con đường Xuống Chợ, con đường Ra Biển, con đường đi Bộ Tư Lệnh, hoặc con đường đi Trại Giam. Rồi Ngã Ba Công Binh, Ngã Tư Nhà Thờ, con đường Xóm Đạo v.v... Riết rồi cũng quen, những danh từ thật đúng nghĩa.
          Quân không thích sống ở nơi nầy lắm, nếu ở lâu nước da nàng trở nên thâm thâm, mốc mốc. Chung quanh là biển cả, ánh nắng mặt trời càng nóng thì sự bốc hơi của nước biển càng nhiều, theo những cơn gió đưa vào trong đảo mang hơi ẩm của biển mặn, bám vào da thịt khiến màu da trở nên mặn mà, rít rít, khó chịu, nhưng ở lâu riết rồi cũng quen dần. Mỗi khi nghỉ hè, nàng về đảo ở vài tháng, lúc trở lại trường chúng bạn đều kêu lên: “Con mọi đảo Phi Châu trở về bây ơi!”. 
          Cứ thế, phải mất hơn tháng da nàng mới trở lại bình thường, phần vì nàng quá trắng, da dễ bị ăn nắng hơn các người khác, mà đứa con gái nào chẳng muốn da mình trắng, má mình hồng!
          Quân ở đảo thêm năm hôm nữa, thấy tình trạng cha nàng tiến triển rất khả quan, gần như trở lại bình thường. Một buổi chiều, trong lúc ngồi ăn cơm ông Hai nói:
          - Bây giờ ba thấy trong người khá lắm rồi, vậy ngày mai con hãy trở vào Rạch Gía để tiếp tục việc học đi con, nghỉ lâu quá thì bài vở làm sao theo kịp với chúng bạn. Năm nay là năm thi cử của con, mà ba bệnh hoạn thế nầy thì tội cho con thật. Phải chi hai chị con ở gần, thì đâu đến nỗi con phải nghỉ học mà về đây săn sóc cho ba!
          Ông Hai nói một hồi như thể để trần tình với đứa con gái, hầu thông cảm cái tuổi về già nay ốm, mai đau... Vì ông biết Quân rất hiếu học, việc học đối với nàng rất quan trọng. Vốn bất đắc dĩ nàng phải chịu gián đoạn. Quân mơ màng cái ngày mai khăn áo lên đường, trở vô Rạch Giá, gặp lại thầy cô quý mến, đám bạn thân thương, vui đùa hồn nhiên. Có những chiều tan trường cả bọn giành nhau ra cửa lớp như đàn ong vỡ tổ, huyên thuyên nói cười. Những tiếng cười dòn tan như hàng ngàn mảnh vỡ của khối thủy tinh liên tục vang lên từng hồi. Có nhiều buổi trưa đầu thu gió nhẹ, ngồi trong cửa lớp, nàng thường để hồn mình đi hoang đậu trên cành phượng hồng nở muộn, cánh gió mơn man rung nhẹ, xác hoa lửng lơ bay trong màu nắng mới. Sân trường vắng lặng, ngoài xa, hai hàng điên điển đang độ trổ hoa vàng rực rỡ, nặng trĩu cành non bên phiến lá xanh xanh chen lẫn giữa đám hoa ngọt ngào màu sắc. Rồi có những ngày mưa, con nước dâng cao, đám hoa lục bình từ đâu kéo về trôi lều bều theo dòng nước đẩy đưa. Trên con đường về nhà sau giờ tan học, đi qua cây cầu nhỏ, nàng thường cúi xuống đưa tay vớt lên những cánh hoa lục bình tím ngát, nhuộm ánh hoàng hôn hấp hối cuối ngày.
          Chẳng biết từ lúc nào nàng đã yêu hoa, nhất là những loài hoa đánh dấu cho một mùa sang, cho một bắt đầu, một kết thúc hay một đổi thay nào đó. Để rồi tàn tạ, rụng rơi rữa nát, âm thầm ra đi. Đó là quy luật thiên nhiên của trời đất mà tất cả vạn vật đều có chung một quỹ đạo.Với số tuổi nầy, nàng không muốn khám phá hay đi quá xa về những điều bí ẩn, phức tạp trong đời sống. Như đã nói, thế giới của nàng là sân trường, lớp học, thầy cô, bạn bè với những chồng sách vở thân thương. Cõi mộng của nàng là những ngày tháng tương lai đầy hứa hẹn. Muốn có những điều tốt đẹp, thành quả ở ngày mai, thăng hoa cho cuộc sống, nàng phải cố ra công học tập chuyên cần, trau dồi kiến thức. Nàng muốn làm một điều gì lợi ích cho xã hội, chớ nàng không muốn giống như cánh hoa sớm nở, tối tàn, không lưu lại dấu vết gì cho nhân thế.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét