Chủ Nhật, 28 tháng 1, 2018

Qua Biển - Chương 13: Người Đi Trên Than Hồng


Quân và An chia tay các bạn sau buổi ăn uống vui vẻ tại Ngã Năm, nàng đã chọn bún nước kèn, món ăn nầy là đặc sản của người Phú Quốc. Tuy không cao sang, cầu kỳ, nhưng rất ngon miệng. Cách nấu thì Quân cũng biết sơ sơ, chỉ cần một loại cá nào có sớ to như cá thu hay cá nhồng là được. Cá luộc chín, gỡ lấy nạc, bỏ vào cối quết cho cá tơi ra, xong rồi ướp chung với sả, nghệ và tỏi tươi bầm nhuyển. Để khoảng tiếng đồng hồ, phi hành hương cho thơm bỏ cá vào xào nhớ dùng lại nước luộc, giữ lửa riu riu. Sau cùng đổ nước cốt dừa vào nêm nếm đậm đà là được. Món bún nầy ăn với giá sống, dưa leo, đu đủ bào và bắp chuối thái mỏng, thêm vài lá rau thơm và ít tương ớt thì ôi thôi ngon tuyệt. Màu vàng của nghệ, màu trắng đục nước cốt dừa cộng với màu ráng mỡ đỏ cam của hạt dầu điều sóng sánh làm tăng thêm vẻ hấp dẫn của tô bún nước kèn Phú Quốc mà mỗi khi đến Dương Đông Quân không thể nào bỏ qua cho được. Nàng mua thêm hai miếng khô thiều và một con khô mực được nướng trên lửa than hồng, mỡ cá tươm ra cháy xèo xèo  thơm phức, Quân nói:
          - Mình mang theo dọc đường, nhai cho đỡ buồn miệng và đỡ buồn ngủ nữa.        An siết chặt tay Khảnh, Hiền, và cám ơn Dung cùng các bạn, đã cho họ mấy ngày du xuân, thăm viếng thắng cảnh Dương Đông thật lý thú và nồng ấm tình thân.
          An nổ máy xe, Quân leo lên ngồi phía sau, tay vịn vai An, còn tay kia vẫy chào các bạn. An sang số, nhấn ga, chiếc xe lướt tới. Ngọn cờ vàng ba sọc đỏ cùng với lá cờ Phật giáo đang phất phới tung bay trong sân chùa Sùng Hưng Tự, tiếng chuông vang lên thanh thoát trong buổi lễ cúng cuối ngày. An tăng vận tốc,  xe leo lên mấy đoạn dốc cao ở xóm Đường Chùa. Trẻ con đang hào hứng với sòng bầu cua trước sân cũng hướng mắt ra nhìn, tay vẫy vẫy, miệng cười hồn nhiên, khoe cả cái răng sún trông thật buồn cười, nhưng dễ thương.
          Quân cười đáp lại, tay vẫy chào tạm biệt. Xe vượt qua cây bàng, nhà cửa dân chúng nằm lại phía sau. An tà tà lên dốc núi Bà Kèo, môt nhóm người đi cúng mộ đầu năm cũng sắp sửa ra về. Đám con nít như luyến tiếc khi phải kéo xuống những con diều còn đang chơi vơi trong gió. Nắng chiều nhè nhẹ giăng tơ, mây nước hiền hòa trải lụa. Tiết trời tháng giêng thật trong sáng, bình yên. Bướm xuân chập chờn cánh mộng bay lượn trên những bông hoa dại mọc ven đường.
Trên đường về, An ít nói, hình như chàng đang miên man suy nghĩ về câu chuyện của cô út Thúy Kiều.
Chàng nghĩ bụng - “Phải kiếm cách đi phép để trình sự việc cho bố mẹ và đồng thời thưa luôn chuyện chàng yêu Quân, muốn tiến tới hôn nhân với nàng sau khi Quân học xong”.
Quân đầu óc cũng nổi trôi theo chuyện tình của người con gái, mà hai mươi năm trước cũng đang ở cái tuổi như nàng hiện giờ. Quân đâm ra lo lắng, sợ bố An cũng giống như ông nội chàng, cấm đoán, tách rời hay không cho hai người yêu nhau nữa. Nghĩ thế, Quân buột miệng hỏi:
          - Bố anh có khó như ông nội anh không?
          An thiệt tình:
          - Khó thì cũng khó, nhưng ông thương anh lắm! Hơn nữa anh là cháu đích tôn trong dòng họ Vũ của gia đình...
          Nhưng Quân vẫn chưa an tâm:
          - Em sợ tình yêu của chúng mình giống như cô út vậy!
          Chàng đã giấu không cho Quân biết về Nhã Ngọc, người con gái của ông Điền, bạn rất thân với bố chàng. Nhã Ngọc mới tốt nghiệp y tá, nhỏ hơn chàng vài tuổi. Coi mòi bố chàng rất thích Nhã, ông muốn làm sui với ông Điền lắm! Vì hai người là đôi bạn thâm giao học chung trường khi còn ở Hà Nội. Mỗi lần về phép, ông thường gợi ý nói chuyện vợ con với An, nhưng lần nào An cũng đều né tránh, bảo rằng mình chưa sẵn sàng.
          An nói như để trấn an Quân: 
          - Anh lớn rồi, chuyện cưới vợ là do ở anh. Bố mẹ mà phản đối thì anh ở đảo luôn với em, không thèm về Đà Lạt nữa. Sanh cho ông bà mấy đứa cháu nội kháu khỉnh, ông bà sẽ bay ra đảo ngay...
          Quân cười, mắng yêu An:
          - Anh nầy kỳ, kế sách của anh dở lắm! Coi bộ thiệt thòi cho em quá!
          - Em sống bên chồng, bên con hạnh phúc thế, không hài lòng sao?
          Đường chiều vắng vẻ,     mặt trời xuống thấp, dưới vùng biển kia một chiếc ghe đi ngược chiều với xe của An. Họ sắp vào bến Dương Đông, còn An mới bắt đầu qua khỏi vườn dừa Cù Chin. Chạy thêm một đoạn khá xa nữa xe đổ xuống dốc ông Tư Cá Nóc. Hai bên đường, rừng rậm cây cao, che khuất ánh sáng mặt trời. Quang cảnh âm u, bóng cây nhòe nhoẹt khiến Quân cảm thấy rùng mình. Nghe đâu thời gian trước, bọn Việt Cộng ra chận đường rồi giết ông Tư Cá Nóc ngay tại cái dốc nầy.
Thỉnh thoảng dân trên đảo cũng hứng chịu cảnh đau thương, chết chóc, không phải do thiên tai, mà là địch họa.
Việt Cộng như bóng ma, lúc ẩn, lúc hiện. Lúc tấn công đồn nầy, khi tấn công đồn kia. Tết Mậu Thân 1968, tiếng súng nổ thay tiếng pháo giao thừa, người dân nơm nớp lo âu, nhà nhà cầu nguyện, người người cầu nguyện. Nhưng lời nguyện cầu ấy đã bị gió biển thổi bay đi mất, nên các đấng thiêng liêng không nghe thấy gì. Chiến tranh vẫn còn đó, chiến tranh lại tiếp diễn khốc liệt hơn... Tai ương, nhân họa đã xảy đến cho gia đình dì Ba Thơm, chỉ trong một đêm mà đã mất đi ba người con. Dì Ba Thơm nhà ở xóm Quy Khu. Đầu thập niên 1960, hầu hết các người dân sống nơi thôn, ấp, làng mạc xa thành thị đều được di dời về chợ ở để cô lập, ngăn ngừa, việc cung cấp nhu yếu phẩm như thuốc tây, muối, gạo, cho bọn Việt Cộng trong rừng. Song song với chương trình di dân về chợ ở, chính phủ còn thiết lập hàng rào Ấp Chiến Lược, để ngăn chặn bọn du kích VC lén lút về thành, phá rối đời sống hoặc gây tai họa cho người dân.
          Trước khi về chợ, nhà dì Ba Thơm ở tận Đường Bào, dượng Ba đã mất cách đó vài năm, vì đạp phải lựu đạn trong khi đi rẫy, để lại cho dì Ba Thơm ba người con, một gái, hai trai.Theo chương trình của chính phủ, gia đình dì đã dọn về chợ ở, nhưng hai người con trai, Chơn và Chất vẫn còn luyến tiếc cây trái vườn tược, nên thỉnh thoảng cũng xuống thăm nom vườn nhà và hái trái mang về chợ bán như mít, ổi, xoài, dừa v.v... Lúc ấy Chơn khoảng 16 tuổi, còn Chất thì khoảng 13 tuổi. Bỗng một ngày kia, Chất chạy về khóc mếu máo với dì Ba Thơm, bảo rằng Chơn đã bị mấy anh du kích VC bịt mắt dắt đi mất tiêu rồi! Dì chết lên, chết xuống, không biết mấy ông Việt Cộng đem con mình đi đâu! làm điều gì? Dì đau đớn vì mất đứa con trai, nỗi đau cứ ngấm ngầm trong bụng, đâu dám than thở cùng ai!
Suốt bảy, tám năm sau, thằng Chất tới tuổi đi lính, nó đăng vào lính Địa phương quân. Sau khi học khóa quân sự, Chất xin đổi về quê quán để được gần mẹ, gần chị.. Cô Tho lớn lên rồi cũng lấy chồng, thời buổi chiến tranh dĩ nhiên là phải lấy chồng lính.         
Anh Chinh, quê tận miền Trung xa lắc lơ, khi đổi đến đây đã kết duyên tình chồng vợ với cô Tho. Anh ở quê vợ mấy năm liền, ông trời xui khiến thế nào mà anh rể cùng em vợ lại ở chung đơn vị, đóng chung một đồn. Điều nầy cũng có cái lợi mà cũng có cái hại. Cái lợi là khi một trong hai người về thăm nhà, đều mang được quà cáp và tin tức đến cho nhau. Còn cái hại thì cũng đã xảy ra, là khi Việt Cộng tấn công đồn trong đêm đó hai anh em đều hy sinh. Chuyện đau thương chưa dừng ở đây, khi dì Ba Thơm nhận được tin báo tử của hai người con, một con ruột và một con rể, dì đã ngất xỉu mấy lần, hồn vía phất phơ. Còn cô Tho thì đang mang đứa con thứ nhì trong bụng, nỗi đau mất chồng, mất em làm cô chết lên, chết xuống bao phen. Điều ấy chưa hết, nỗi oan khiên, bất hạnh tiếp tục giáng xuống cho gia đình dì Ba thêm một lần nữa... Hôm sau trong lúc chờ nhận xác con, thì dì lại được một người quen trong rẫy báo tin, đứa con trai vắng nhà suốt bảy, tám năm đã gục chết bên bờ suối. Từ năm đó, Chơn đi theo Việt Cộng, sống lén lút trong rừng, ít khi thấy xuất hiện ngoài xóm. Kỳ nầy mới ra tấn công đồn cùng với đám du kích khác. Trong đêm đó, Chơn cũng bị thương. Sau khi tấn công đồn, đám du kích mạnh ai nấy rút chạy, Chơn bị thương nặng, cố gắng bò ra bờ suối để uống nước, vì máu ra nhiều quá, anh gục chết chưa kịp uống miếng nước nào. Sáng hôm sau, có người đi gánh nước sớm, nên mới phát hiện và nhận diện anh là con của dì Ba Thơm nên đã báo tin cho dì biết.
          Trong gian nhà nhỏ, ba chiếc quan tài nằm song song, hai người đàn bà cùng một đứa bé thơ quấn khăn tang trắng. Dù dì ba không để tang con nhưng trong lòng đã đau thấu tận xương tủy. Có ai biết được viên đạn nào đã kết liễu cuộc đời của Chơn, Chất và Chinh? Biết đâu trong đó có viên đạn của chính người anh em mình đã gây ra thảm cảnh nầy! Chiến tranh ý thức hệ mang đến huynh đệ tương tàn, ai đau khổ đây? Những con người Việt Nam, trong đó có dì Ba Thơm và cô Tho là hai người đàn bà đau khổ nhất.Vết thương lòng của họ sẽ không bao giờ lành, dù ngày mai chấm dứt chiến tranh. Tuy nhiên ai cũng mong chiến tranh sớm kết thúc để mọi nhà được bình yên và người lính trẻ như An không còn lo sợ, hồi hộp mỗi khi thăm viếng Dương Đông…
          Con đường rừng dài gần 30 cây số từ Dương Đông về An Thới, có nhiều đoạn đi sâu vào núi rất nguy hiểm cho những người lính như An.   
          Quân càng nghĩ thì càng thấy lo sợ, hồi hộp nhiều hơn. Trong lòng thầm mong đừng có chuyện gì xảy ra.Thần kinh giao cảm truyền đạt thật nhanh sang An, giữa lúc ấy An gọi:
          - Quân, lần sau mình đi Dương Đông đừng đi đường bộ nữa nhé! Chịu khó đi đường biển cho an toàn...
          Quân thủng thẳng trả lời:
- Dạ, em cũng nghĩ thế! Nãy giờ sao chưa thấy xe nào qua lại, ngày Tết nhất mà sao kỳ vậy kìa? Buổi sáng xe lên xuống nhiều, buổi chiều lại chẳng thấy ai?
Quân ngó vô xóm Cửa Lấp, chẳng thấy nhà dân, chỉ thấy cây bằng lăng cao ngất, trổ hoa tím rợp trời… Bóng chiều in đậm, tiếng chim cao cát kêu lên từng hồi, Quân sợ khiếp vía giục An:
- Anh ráng chạy nhanh nhanh một chút nữa đi…
          An nghe Quân nói trong lòng càng đánh “lô tô”, chàng thêm ga, chiếc xe lướt tới cán lên hòn đá giữa đường xuýt ngã, Quân ôm chặt lấy An. An thở phào vì biết sắp tới đồn lính đang đóng chốt gần bãi Bà Phong.
Một chiếc xe chạy ngược chiều rẽ vào lối phải, Quân chợt nhớ một câu chuyện ly kỳ, nàng cần phải kể cho An nghe để giảm bớt phần căng thẳng vì lo sợ du kích Việt Cộng, khi xe An đang chạy trên cầu nhỏ:
          - Anh biết không, con đường kia dẫn tới xóm Cửa Lấp đó. Xóm nầy có trên trăm gia đình sống quanh quẩn bên dòng suối uốn cong chảy ra con sông nầy đây.
 Bỗng nàng hỏi An một câu hỏi lạ lùng:
          - Có bao giờ anh thấy người đi trên than hồng chưa?
          An lách xe tránh một cành cây khô trên đường, cũng bật cười vì câu hỏi của Quân:
          - Chắc em nằm mơ thấy cảnh đó phải không? Hay là đọc chuyện thần thoại một ngàn lẻ một đêm của xứ Ba Tư!
          Quân ức quá vì bị chọc quê, đập một cái thật mạnh lên vai An:
          - Em nói thật mà! Trong xóm Cửa Lấp có nhiều người Tiều sinh sống lắm. Xóm nầy cách chợ Dương Đông khoảng ba cây số. Họ có thờ ngài Quan Đế Thánh Quân tại Chùa Ông. Hàng năm, sau Tết ta một tháng, cả xóm tổ chức lễ cúng tế rất trọng thể, nhưng cũng rất kỳ lạ nữa! Hồi mới đến An thới, lúc em còn nhỏ được hai chị dắt đi coi...
          Giọng Quân đều đều như hai vòng quay của hai bánh xe:
          - Một ngôi nhà lớn, nằm trên khu đất rộng hơn một mẫu tây, bên trong thờ Ông Quan Đế, cùng các gươm, đao, cờ lọng. Phía sau chùa có trồng cây quéo, trái nhỏ như trái xoài con. Chung quanh hoa kiểng đơn sơ, bên phải là dãy nhà bếp nơi để nấu ăn đãi đằng các khách thập phương trong những ngày cúng kiếng.Trước sân chùa là khoảng đất khá rộng, nơi làm sân than hồng cho ngày lễ hội. Một người trong xóm được đề cử làm ông Từ để lo việc thắp nhang, cúng bái. Trước Tết mấy tháng, người dân trong làng chung tiền để lo tổ chức buổi Lễ Hội Chùa Ông. Trai tráng vào rừng chặt đốn nhiều cây to, cưa ra từng khúc lớn, chất đống tại sân rộng trước chùa. Mấy tháng sau đống củi đã khô, sẵn sàng dùng vào việc lễ hội.Trước một ngày, đống củi đã được đốt lên, hàng quán cũng căng lều, dựng cột, bán đủ loại thức ăn, thức uống cho dân các xã về tham dự. Các cô, cậu mới lớn cùng đám con nít, lăng xăng, lính xính trong bộ đồ mới, sau Tết chưa kịp xếp cất vào rương.
          Để thâu ngắn đoạn đường, để giảm bớt cơn hồi hộp, An tiếp tục trêu Quân:
          - Trong số đó có cô bé nữa phải không? Bộ đồ mới mặc hôm Tết đã giặt chưa nào?
          Quân hào hứng, hồn nhiên như trẻ thơ:
          - Đúng vậy, đúng vậy, dĩ nhiên đồ mới của em đã được hai chị giặt sạch sẽ lắm rồi! anh biết không, khi buổi lễ bắt đầu, em cứ nắm tay bà chị rồi đứng núp phía sau, len lén nhìn Ông, giữa tiếng chiêng, trống, phèn la, âm thanh thôi thúc người về từ cõi u linh. Ông mặc yếm đỏ, đầu Ông cũng chít khăn đỏ, cứ lúc lắc, lúc lắc, lúc lắc. Trầm hương nghi ngút, người bái, người quỳ, khấn lạy liên tu. Ông đây là người trong làng, thân hình to lớn, được Ông Quan Đế nhập vào. Năm nào Ông cũng phải chịu ngồi xác. Chiêng, trống dồn dập, trầm hương bay tỏa ảo mờ. Ông ngúc nga, ngúc ngắc một hồi rồi đập tay xuống bàn cái rầm. Bắt đầu khai khẩu, Ông nói những ngôn ngữ thật xa lạ với người thế gian. Khi biết xác Ông đã về thì mọi người bái, lạy nhiều hơn nữa để tỏ lòng thành kính. Giấy quyến vàng, dây chỉ đỏ đã chuẩn bị sẵn sàng để Ông vẽ bùa lên. Những trẻ con èo uột, khó nuôi được mang đến cho Ông làm phép. Ông thảy tung đứa nhỏ lên, miệng đọc chú, ngậm rượu phun vào người đứa bé. Động tác thật nhanh, tay nầy vừa tung lên, thì tay kia nắm bắt đứa nhỏ thật tài tình.
          Điều kỳ diệu khác là Ông cắt lưỡi, lấy máu viết ngoằn ngoèo lên lá bùa, rồi cột bằng dây chỉ đỏ, lập tức đeo vào cổ em bé, nguyên năm em bé sẽ khỏe mạnh vì được Ông độ mạng. Việc kế tiếp là Ông lấy một cây xiên bằng sắt, dài khoảng một mét, nhỏ cỡ ngón tay út, có đầu nhọn. Ông đâm từ má bên nầy thủng qua má bên kia, dĩ nhiên đã rửa bằng rượu trắng và miệng Ông cũng đã súc rượu trước khi làm việc nầy.
     Quân, giọng nói mang đầy xúc cảm, hình như nàng đang sống lại cái giây phút đó:
     - Anh biết không, tội nghiệp Ông lắm, lúc ấy em thấy máu rỉ ra, nhưng chẳng biết Ông có đau không nữa!
          Chiêng trống cứ xập xình, Ông cứ nói thứ tiếng rất lạ tai, hầu hết là Ông ra dấu, khi cần thiết lắm thì Ông mới nói.
          Đến giữa trưa, đống củi đã cháy thành than, họ ban than ra cho đều, than hồng âm ỉ, nằm ủ trong tro. Sân than hình chữ nhật, dài độ sáu mét, ngang khoảng ba mét. Đúng giờ, Ông đi như chạy, tay cầm cây xiên, đâm xuyên qua má. Chiêng, trống vẫn dồn dập, thúc giục. Người lớn, con nít chạy theo Ông từng đoàn, từng đoàn. Ông đến trước sân than hồng tạt rượu phép vào, thảy lá bùa vô chờ cho cháy hết, miệng vẫn lâm râm đọc chú, Ông đi một vòng sân than, mọi người hồi hộp chờ đợi. Chợt có tiếng người hô to: “ Bà con chú ý, người nào có mang nữ trang, vàng bạc, kim loại hay là kính, gương, làm ơn lấy ra khỏi người mới đi qua sân than hồng nầy được!”.
          Mọi người rờ túi, rờ tai, rờ cổ coi còn mang những đồ cấm kỵ đó chăng.
          Tiếng trống, tiếng phèn la tiếp tục inh ỏi, tất cả bỏ giầy dép ra khỏi chân, chỉ còn là đôi chân trần, ngay cả xác Ông cũng thế.
          Quân rùng vai, lè lưỡi như nàng đang đứng sát bên sân than hồng:
          - Anh biết không, hơi nóng của than hắt ra làm em phát khiếp, vậy mà một cái vẫy tay của Ông mọi người chuẩn bị. Một tay xách em bé khó nuôi, tay kia cầm cây xiên đang xuyên qua má, Ông bước lên trên than hồng lẫn lộn trong màu tro xám xám. Ông đi thật nhanh qua đầu bên kia, tất cả mọi người lớn, bé đều chạy theo Ông. Người cuối cùng vừa qua, Ông liền quay trở lại đi thêm một lần nữa trên sân than còn in rõ dấu chân nhiều người... Mọi người theo bước chân ông hoàn tất cuộc hành trình ngắn ngủi nầy nhưng cần nhiều can đảm và quyết tâm. Nhiều tràng pháo tay của khách đứng coi hai bên nhiệt liệt tán thưởng. Không ai bị phỏng chân, không ai bị cháy da! Thật là một điều kỳ diệu, lạ lùng! Em phục sát đất luôn! Khoa học làm sao giải thích được hiện tượng nầy?
Quân say sưa nói một hơi dài, bỗng nàng hỏi An:  
          - Tháng sau, mùng hai tháng hai ta, họ có tổ chức, anh dám đi không?
          An nãy giờ theo dõi câu chuyện khá hấp dẫn của Quân, chợt nghe nàng hỏi thế, chàng trả lời không chút do dự:
          - Được đi thì đi! Nhưng em phải bước lên sân than hồng với anh, chịu không? Nếu em vượt qua vùng than nóng đó, thì sau nầy em sẽ vượt qua mọi sự khó khăn trong cuộc sống!
          Nhờ câu chuyện kể của Quân về người hùng Cửa Lấp đi trên than hồng, mà đoạn đường như ngắn lại, hai người cũng bớt lo sợ.
          Hình như lúc về nhanh hơn lúc đi, xe đã tới An Thới ngay tại ngã Tư Nhà Thờ. An quẹo trái xuống Bộ Tư Lệnh Hải Quân, giao xe lại cho Quân, rồi chàng nói luôn:
          - Ngày mai anh có ca trực đêm, không tiễn em xuống bến đò được. Em đi một mình phải cẩn thận nhé! Anh sẽ viết thư cho em thường xuyên. Quân ngồi trên xe, An nghiêng người hôn nhẹ lên trán nàng trước ánh mắt biết cười của anh lính gác cổng.
          An và Quân vui chơi thỏa thích trong mấy ngày xuân vừa qua, giờ đây họ trở về với cuộc sống thường nhựt. Ngày mai Quân vào lại Rạch Giá để tiếp tục việc học hành thi cử. Còn An thì trở về với nhiệm vụ làm người lính trẻ giữ gìn quê hương bờ cõi.
Họ bịn rịn chia tay nhau, Quân nhìn theo bóng An đổ dài trên con đường trải nhựa, tâm trạng nàng nao nao buồn thương lẫn lộn.
Mùng ba Tết sắp sửa đi qua, ánh nắng cuối ngày còn đọng lại trên tàng cây trứng cá trong sân trường Mai Chí vắng vẻ đìu hiu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét