Thứ Năm, 26 tháng 12, 2019

Cảm Nghĩ Của nhà thơ Trường Giang, Hội Trưởng Hội THƠ HOA BỐN PHƯƠNG Về Thi Phẩm "GỌI HỒN DÂN TỘC" của tác giả Hoa Hướng Dương



                                                               
CẢM NGHĨ VỀ THI PHẨM “GỌI HỒN DÂN TỘC”
 CỦA TÁC GIẢ HOA HƯỚNG DƯƠNG
 

            Tôi vừa nhận được bản thảo Tập Thơ “GỌI HỒN DÂN TỘC” của Nữ Thi sĩ Hoa Hướng Dương. Bà yêu cầu tôi viết đôi lời  về tác phẩm này.
            Tôi đã hoan hỉ nhận lời vì các lý do sau:
            1/- Nhà thơ nữ Hoa Hướng Dương đã từng tham gia vào mọi sinh hoạt Cộng Đồng tại Miền Bắc California, từ công tác Văn Học Nghệ Thuật, cho đến các cuộc tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền để yểm trợ cho đồng bào quốc nội.

            2/- Tôi đã nghe 3 CD Thơ của Hoa Hướng Dương phát hành năm 2004, cũng như đã đọc thơ của bà đăng trên các báo chí miền Bắc Ca Li.
            Thơ nhạc trong 3 CD “Gẫy cánh kiêu sa”và “Mùa Xuân Đã  Mất” là hai tác phẩm chứa đựng suối lệ chia ly, ân tình đứt đoạn, tang tóc, đau thương chồng chất do Cộng sản gây ra cho đất nước Việt Nam trong suốt nửa thế kỷ qua.Vì cảm tình đặc biệt ấy, tôi đã đọc kỹ từng bài với ý tưởng và kỹ thuật sáng tác hoàn chỉnh trong thi phẩm này.
            Trước khi đề cập đến phần chính yếu, tôi muốn ngỏ đôi lời về thân thế và sự nghiệp của tác giả. Theo chiều hướng đó, khi đọc “Gọi Hồn Dân Tộc”, chúng ta mới cảm nhận được nỗi ray rứt mà Hoa Hướng Dương đã gửi gắm trong thơ.
            Tác giả sinh trưởng tại thị xã Dương Đông, thuộc quận Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
            Trước năm 1975, Hoa Hướng Dương là một giáo chức. Bà đã viết văn và làm thơ ngay từ thuở còn ở tuổi học trò.
            Bà và gia đình đã định cư tại Hoa Kỳ sau ngày mất nước 30-4-1975. Sau khi cuộc sống ổn định, với khả năng thiên phú sẵn có, bà lại tiếp tục sáng tác không ngừng. Bút hiệu Hoa Hướng Dương là ý của tác giả là luôn luôn hướng về Dương Đông, Phú Quốc để hoài niệm, để nhớ thương một vùng đất đã cưu mang và ôm ắp nhiều kỷ niệm đẹp của thời niên thiếu mà bây giờ đã xa khuất mù khơí
            Trong nỗi niềm đó, nơi hải ngoại tác giả đã trang trải lòng mình qua vần thơ dù không trác tuyệt, nhưng đã nói lên sự mộc mạc, bình  dị đơn sơ của người dân xứ biển thân thương..
            Nhưng rồi đầu thập niên 1990, một tai họa đã xẩy ra làm thị lực của tác giả kém dần. Dù đã chữa trị ở nhiều nơi tại Pháp và Hoa Kỳ nhưng Tây Y tân tiến cũng đành chịu bó tay. Hoa Hướng Dương là người có ý chí mạnh mẽ, lại nhờ có phu quân tận tình săn sóc, giúp đỡ, tác giả đã phấn đấu vươn lên đương đầu với thử thách, đau thương.

*  *  *
     
            Thi Phẩm “GỌI HỒN DÂN TỘC” có trên 100 bài gồm nhiều thể loại và chủ đề khác nhau: Lục Bát,STLB, Bát Cú, Thất ngôn Nội dung Thi Phẩm này đều nhằm vào mục đích hướng về Đất Nước, Quê hương mà một người, nếu không có lòng yêu nước chân thành, lòng nhân ái, vị tha thì không thể sáng tác được những bài thơ đầy tình tự dân tộc trong tác phẩm tầm cỡ này.        
            Dù an hưởng một cuộc sống sung túc trên một đất nước văn minh giàu mạnh nhất hoàn vũ, nhưng tác giả lúc nào cũng hướng lòng mình về đất Tổ, quê Cha. Bà kêu gọi người Việt tỵ nạn Cộng Sản đoàn kết lại thành một khối để tranh đấu cho một nước việt nam không còn Cộng Sản.
Cùng nhau xiết chặt bàn tay,
Xây nền Dân chủ cho ngày Việt Nam.
Núi sông phủ một màu lam,
Là người dân Việt sao cam cho đành.

            Tác giả tin tưởng rằng khi Xã Hội Chủ Nghĩa bị triệt tiêu, thì nền Dân Chủ đích thực tức khắc sẽ xuất hiện trên đất nước Việt Nam:

Con thuyền sứ mạng ra khơi,
Vững tay lèo lái, dù trời phong ba.
Bền lòng từng ngọn sóng xa,
Đưa thuyền Dân chủ vượt qua bến bờ
(Con Thuyền Dân Chủ)
                      
            Trăng rằm tháng Tám là ngày Tết Nhi Đồng. Đó là ngày vui của các em thiếu nhi vùng Á Châu. Nhưng trẻ thơ ở miền quê Việt Nam hiện giờ, cơm không có ăn, áo quần không đủ mặc thì lấy đâu ra lồng đèn, bánh trung thu. Và tác giả đã cảm kích viết nên lời:

Không tung tăng múa hát dưới sân trường,
Vì cuộc sống là đầu đường xó chợ.
Chuyện em mơ là thiên đường sách vở,
Xin thưa không… là bát phở thừa dư…
…..

( Lời Buồn Trung Thu)
                            
            * Theo truyền thống Phật Giáo, Lễ Vu Lan là ngày các Phật tử lên Chùa lễ Phật để cầu nguyện cho Cha Mẹ được siêu sinh tịnh độ. Là một Phật tử thuần thành, vào ngày Lễ trọng đại này, trong giấc ngủ, tác giả đã mơ thấy Mẹ mình với những cử chỉ trìu mến, thân thương lúc sinh tiền:
Trong giấc ngủ con mơ thấy Mẹ,
Tiếng ru hời nhẹ tựa lời kinh
Làm sao thoát chốn u linh
Trở về thế giới hữu hình thăm con.
…..
Đêm nay trời đất lạnh căm,
Vu Lan nhớ Mẹ âm thầm lệ rơi
Nghe quanh đây vang lời kinh tụng
Âm thanh buồn héo rụng tim con
 (Vu Lan Nhớ Mẹ)
            * Thời kỳ kháng chiến 1945-1954, thân phụ của HHD đã bỏ cuốc cày đánh đuổi giặc Tây. Khi đất nước chia đôi, Ông ở lại Miền Nam chứ không ra Bắc vì cho rằng Ông đã hoàn tất nghĩa vụ đối với đất nước quê hương.
            Khi Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam, tác giả HHD đã theo chồng di tản sang Hoa kỳ và thân phụ Bà đã mệnh chung sau hơn hai chục năm mất nước:
Theo vận nước con lìa xa Tổ Quốc,
Lần sau cùng không kịp nói biệt ly,
Hai mươi mấy năm được tin Ba mất
Lắng lòng đau, con hóa kiếp hoa quỳ…
……
Giờ vĩnh biệt gởi tình con theo gió
Chốn quê nhà ba rời bỏ người thân
Phút linh thiêng, rùng mình con chợt rõ,
Mất Cha hiền là mất cả mùa Xuân.
(Mùa Xuân Đã Mất)

            * Như trên đã nói, vì một tai họa bất ngờ xẩy ra, thị lực của HHD yếu dần, từ đó bà không được nhìn thấy rõ bóng dáng của người thân yêu, trong đó, khuôn mặt ngây thơ của cô con gái út vừa tròn 5 tuổi. Trong nỗi đau chất ngất này, tác giả đã phải thốt lên:

Tại sao Mẹ phải mù lòa
Nên con đã mất tuổi hoa cuộc đời
Từng miếng ăn, từng cái chơi,
Mẹ không chu đáo như thời anh con.
            Không có nỗi cô đơn nào hơn khi tác giả ngồi trước hiên nhà để chờ con về sau giờ tan trường:

Một mình ngồi đợi trước hiên,
Chờ con tan học hồn nhiên về nhà.
Huyên thuyên giọng nói ngọc ngà,’
Mẹ đau như cắt xót xa tấc lòng… 
(Nỗi Lòng Của Mẹ)

            * Hồi tưởng lại thời niên thiếu, HHD đã được cha mẹ cho đi học trường Làng, rồi trường Tỉnh, rồi cuối cùng trở về quê thành một cô giáo đứng lớp dạy học trò.

Năm mươi em, ánh mắt nhìn thơ dại,
Ngồi lắng nghe khi cô giáo giảng bài.
Môn toán cộng, em đếm đi, đếm lại,
Bài toán đời, cô tính vẫn còn sai…

            * Rồi vì nạn nước, tai họa “tháng tư đen” đổ ập xuống, chôn vùi cả một nền Dân Chủ của Miền Nam, HHD đã cùng với hàng triệu đồng bào phải cắn răng lìa bỏ Quê hương đi đến một phương trời xa lạ. Không còn gì nhức nhối tâm can cho bằng ra đi mà không kịp một lời từ giã thân bằng, quyến thuộc và đám học trò thân thương:

Ngôi trường nhỏ nằm bên bờ biển lặng,
Gió ngàn khơi thổi dịu nắng tháng tư.
Tháng tư đen làm đời thêm trĩu nặng,
Ta chia tay chưa kịp nói giã từ….

            miền đất tạm dung, sau mấy chục năm cô giáo trẻ ngày xưa nay tóc đã lưa thưa sợi bạc, nhiều đêm nằm nhớ về ngôi trường xưa, học trò cũ mà lòng đau như xé.  Trường ốc ngày xưa giờ đây đổ nát,  học trò thì mỗi người mỗi ngả như đàn chim tản lạc không có hướng đi:

Ngôi trường cũ xác xơ cành phượng vỹ
Học trò xưa nay lang bạc phương nào
Nghe nhớ quá những mùa hoa tuyệt mỹ
Cánh phượng hồng - sợi tóc bạc tìm nhau…
(Phượng Hồng Tóc Bạc)
      
            Sau khi Cộng Sản Hà nội cưỡng chiếm Miền Nam, chúng đã cho một số đảng viên cải dạng thành Đại Đức, Tăng Ni biến chùa chiền thành nơi thế tục. Các Phật tử thuận thành quyết đấu tranh cho Tôn giáo và đạo pháp dõng dạc cất lên tiếng nói:

Đường Tôi, Ông hai ta cùng chung bước,
Bước đi về hai hướng khác nhau,
Đường tôi đi có tình nghĩa đồng bào,
Có máu đổ, lệ trào pha thơ hận.

            Ba mươi năm đàn áp Tôn giáo, bắt bớ, đánh đập, tù đày chỉ với mục đích bắt buộc các nhà tu hành chân chính theo chủ nghĩa Mác- Lê Nin nhưng chẳng mấy ai quy phục:

Ba mươi năm hồn oan vương cây cỏ,
Tiếng kinh cầu vàng võ đi hoang.
Tiếng kinh cầu rụng cờ đỏ sao vàng,
Để dân tộc hết lầm than đói khổ.

            Dù bị đàn áp vô cùng dã man nhưng các tôn giáo nhất định không bán linh hồn cho quỷ đỏ, vẫn quyết liệt tranh đấu đến thắng lợi cuối cùng, khiến tác giả phải chạnh lòng:

Thương quá đỗi những con đường nghiệt ngã,
Những thần tăng vất vả đi qua.
Những thần tăng đổi mạng giữ Cà Sa,
Cho Phật giáo nở hoa Mùa Chánh Pháp.
(Hoa Chánh Pháp)

           Ngoài những bài thơ rực lửa đấu tranh, Bà còn có nhiều đề tài phong phú khác như hoàn cảnh xã hội, kiếp nhân sinh, thân phận cuộc đời, tình yêu đôi lứa, tình nhân loại .v.v..

Tôn ti trật tự chẳng còn đâu
Già cả sang đây chỉ rước sầu
Con rể, đổi đời lên nhậm chức
Mẹ chồng, nhường ghế lại nàng dâu
(Tuổi Biết Buồn)

Trong ngày Memorial Day, tác giả luôn hướng lòng về những chiến  sĩ đã nằm xuống:

Memorial Day tưởng nhớ người
Anh hùng tử sĩ của tôi ơi!
Tên anh sống mãi theo hồn nước
Thanh sử còn ghi đến vạn đời…
 (Memorial Day)

           Có đôi lúc người thơ bỗng ngậm ngùi cho thân phận và cuộc đời của chính mình:
Tôi dò dẫm đi tìm tình nhân loại
Khách qua đường, nhận diện  chẳng ai quen!
Họ quay lưng, lòng ta buồn đá sỏi
Đêm nhân gian không sáng nổi ánh đèn
( Trăng lệ)

Rồi người thơ lại phân vân, suy tư  về kiếp luân hồi:

                              Làm sao biết được kiếp nào vinh quang
Bao nhiêu chấm hỏi, chấm than
Thôi thì đừng đến thế gian làm người
Chỉ cần làm áng mây trôi
Bay trong trời đất thấy đời nhẹ tênh…
  (Kiếp Sau)

           Cuộc đời dẫu phù du, mong manh như kiếp hoa, kiếp bướm, nhưng đã đem lại cho đời nhiều nét chấm phá và lợi ích nào đó cho tha nhân. Tuy nhiên, nghĩa bóng hoa cũng có sức mạnh vô song:

Quân tử nhìn hoa cũng lạc lòng
Hoa cười nghiêng đổ cả non sông
Hoa lơi giáng ngọc bên lầu vắng
Lữ khách chồn chân, xích ngựa hồng
  (Hoa)

Đây có lẽ là tác phẩm sau cùng nên tác giả đã ngậm ngùi cám ơn những thân hữu, những người ái mộ Bà:

Xin gi mãi những bàn tay tình nghĩa
Cám ơn người cho tôi được niềm vui
Và:
Phút chia tay đất trời buồn lồng lộng
Trong hồn tôi đọng mãi những âm vang…
(Phút Chia Tay)

           Trong vườn thơ Hoa Hướng Dương vẫn không thiếu phần tình yêu đôi lứa:
Hai đứa yêu nhau chẳng dám về…
Chung đường bạn biết thiệt kỳ ghê!
  (Xuân Buồn)

           Và mê đắm rồi ly tan:

Tất cả tình tôi thế đấy anh
Xôn xao như lá thắm trên cành
Chợt cơn gió chướng từ đâu tới
Làm rụng bên đời chiếc lá xanh   
(Tình Trăng Nước)

           Dù tình yêu tan vỡ, người con gái vẫn nghĩ đến quê hương, dân tộc:
Thôi anh nhé, đừng thường tình nhi nữ!
Đất nước mình cần những bậc hùng anh
Dám đứng lên dìm những cơn sóng dữ
Sá gì đâu tan một giấc mộng lành   
(Thăng Hoa)

           Từ tình yêu trai gái, thơ Bà tỏa rộng ra tình yêu nhân loại và khuyên người đời làm những việc thiên lành:

Làm người chọn một lối đi
Hành trình từ thiện khác gì tu thân
           Rồi Bà nhận thấy sự vô thường của trời đất:
Đời người như bóng trăng xa
Tròn rồi lại khuyết liền qua mấy hồi
(Đóa Hoa Từ Ái)
  
           Bà cảm thấy thế giới hôm nay có nhiều biến động, chiến tranh, chết chóc, tang thương. Tác giả đã dùng thơ bày tỏ:

Bao nhiêu người đã hy sinh
Mẹ mua kim chỉ vá tình thế gian
  (Hai Mùa Vu Lan)

           Từ ý niệm làm lành lánh dữ, tác giả đã chống lại cái ác, cái đại ác…

            * Nơi Miền đất ty nạn, Hoa Hướng Dương luôn luôn đau với cái đau chung của đất nước, Bà đã gào thét lên, dõng dạc “Gọi Hồn Dân Tộc” bằng những câu thơ đầy khí khái:

Ai người nghĩ tới Quê hương,
Hãy mau đoàn kết, biểu dương màu cờ.
Về đây chung một ước mơ,
Cứu nguy Tổ quốc, đừng chờ qua đêm

            Tác Giả chưa thực sự tin tưởng mọi người đáp ứng yêu cầu của mình, Bà lại mở lời thống thiết kêu gọi đừng một ai vì quyền lợi riêng tư mà đẩy quê hương vào vòng tủi nhục, khổ đau:

Đất này, đất của Ông Cha,
Vun bồi xương máu, thêm hoa, thêm cành.
Cháu con hợp sức đấu tranh,
Cho ngày lịch sử trở thành cuồng phong.
Thổi tan chủ thuyết đại đồng,
Đã đưa đất nước vào vòng trầm luân.

Tác giả Hoa Hướng Dương tin tưởng tuyệt đối rằng Chính nghĩa nhất định thắng. Vì vậy, Bà đã hạ bút viết những vần thơ chắc nịch:

Chúng ta con cháu Tiên Long,
Quyết tâm đòi lại núi sông, cõi bờ.
Rồi đây chẳng phải là mơ,
Cờ Vàng rợp bóng cõi bờ Việt Nam..

HHD là ngưòi sinh ra và lớn lên trong một gia đình có tinh thần yêu nước cao độ, thân phụ bà đã thể hiện lòng yêu nước đúng nơi đúng lúc nên đã tác động vào tư tưởng của tác giả  không nhỏ.   
            HHD chọn từ ngữ rất xúc tích nhưng giản dị như lời nói thường ngày. Miêu tả một sự việc, một tâm trạng, tác giả thường đi thẳng vào vấn đề, nên người đọc dễ dàng nắm bắt được ý chính của bài. Thơ Bà còn có thêm giá trị về hai phưong diện đức dục và trí dục nữa.
            Tôi nghĩ  « Gọi Hồn Dân Tộc » là một thi phẩm có giá trị trên phương diện phát huy tinh thần yêu nước chân chính, tranh đấu cho một đất nước Việt Nam Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền . Tác phẩm  này xứng đáng góp mặt trong tủ sách Văn Học Hải Ngoại.

                                                            San Jose, ngày đầu Thu 2006 
                                                                        Trường Giang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét